Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Cánh Cò - Dấu chấm hết cho một nền văn hóa tự ti.


Cánh Cò - Dấu chấm hết cho một nền văn hóa tự ti.






tin nhap 20160904184118
Tổng thống Mỹ Barack Obama xuống sân bay Hàng Châu ngày 4/9





Sự kiện Chủ tịch Tập Cân Bình cho phép đàn em mình “làm nhục” Tổng thống Obama không những chiếm trang nhất của báo chí Mỹ mà hầu như các tờ báo viết bằng mẫu tự Latinh đều loan tải như một bản tin lạ lùng và đầy thích thú.

Lạ lùng vì thái độ của Trung Quốc, một nước đang tự khẳng định mình là lớn, là đang tiến dần đến tư thế bá chủ, là tự hào có nền văn minh dài nhất thế giới và trong cái tự hào ấy hôm nay chứng tỏ mình là nước có thái độ lớn trước bất cứ ai, kể cả đó là khách ngoại giao của hơn 1 tỷ dân Trung Quốc.

Ông Tập đã tự tay cầm chiếc kéo ngoại giao cắt đứt sự liên hệ với thế giới bên ngoài qua sự cố này. Và quan trọng hơn, hành vi khiếm nhã mà ông ta đại diện cho hơn một tỷ người Trung Quốc để làm đã cho thế giới thấy mặt thật của một nền văn hóa đã bị chế độ Cộng sản làm cho thối rữa, bắt đầu từ từng đảng viên một.

Văn hóa tự ti đã làm Trung Quốc nhỏ lại trước thái độ của ông Obama. Tổng thống Mỹ tuyên bố ngay sau đó không để ý đến chi tiết “nhỏ nhặt” này và thế giới một lần nữa tìm thấy trong đó tính cách “quân tử” của chính người Tàu đặt ra từ hàng ngàn năm trước.

Khác biệt lớn nhất giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân là thái độ sống cũng như từng mỗi cử động nhỏ nhặt và bất ngờ nhất. Người Tàu xưa nay cổ vũ cho hai chữ quân tử như thánh kinh của đạo Khổng và trải qua bao thăng trầm ý nghĩa của quân tử như kim chỉ nam chưa bao giờ có phản biện chính thức trong sách giáo khoa hàng ngàn năm qua.

Và Tập Cận Bình đã cho thấy ý nghĩa của “quân tử” cần phải suy xét lại.

Cầm trong tay mớ đô la được kiếm ra từ thị trường Mỹ, Tập Cận Bình hình như vẫn còn rất tự ti với thành quả mà dân chúng Trung Quốc có được trong ngày hôm nay: Những giọt mồ hôi gia công, những cái đầu tận lực suy nghĩ để làm hàng giả, những mánh khóe nhằm giữ cho tỷ giá của đồng nhân dân tệ càng thấp càng tốt, những dự án đầu tư nước ngoài lấy hối lộ làm phương tiện, những đàn áp khốc liệt người có lương tâm lên tiếng cho các chà đạp, sách nhiễu đối với hàng chục triêu người dân của mình.

Văn hóa Cộng sản Trung Quốc phản chiếu ngay trên từng khuôn mặt người dân khi họ ra nước ngoài du lịch. Bao nhiêu nước đã tỏ ra khinh bỉ họ bằng những quy định, những tấm bảng bằng tiếng Trung xuất hiện mọi nơi khi họ đến: Nhà hàng, khách sạn, phi trường, các danh lam thắng cảnh yêu cầu họ cư xử phải phép và văn minh hơn. Ngay cả trong nhiều ngôi nhà của người bản xứ mà họ đi qua cũng treo bảng không tiếp họ.

Thành quả này phải nói là nhờ Cộng sản mà điển hình nhất là Mao Trạch Đông, kẻ muốn toàn dân Trung Quốc chỉ có một suy nghĩ duy nhất: tôn thờ kẻ giết hại dân tộc mình.

Tập Cận Bình là người không giấu giếm sự tôn thờ ấy của ông ta không những bằng chính sách mà còn bằng hành động ngoại giao của một nước lớn. Tập đã áp dụng câu chữ “Trí thức không bằng cục phân” của Mao để hôm nay cho thế giới thấy “Tổng thống Mỹ không bằng cục phân” qua cách hành xử thô lỗ và thất học khi Tổng thống Obama đại diện cho nước Mỹ tới họp G20.

Không ai phủ nhận Tổng thống Obama là một trí thức. Hành vi vô học mà Tập ra lệnh cho bọn côn đồ cổ cồn làm tại phi trường Hàng Châu đã áp dụng triệt để câu nói của Mao. Thế giới thay vì nổi giận lại cười cợt với thái độ vừa trẻ con vừa ngu muội này.

Người dân Trung Quốc khi nhìn vào cách cư xử kỳ quái này chắc chắn sẽ có hai luồng đối chọi: Một là hồ hởi và càng tôn sùng Tập Chủ tịch hơn vì đã trả được mối thù tự ti của họ trước nước Mỹ, một đất nước vừa được thành phần này thích thú vì giàu có lớn mạnh, vừa thù hằn vì thành tựu của họ không bao giờ Trung Quốc chạm tới được: một nền dân chủ tạo ra nhân cách sống đích thực.

Thành phần thứ hai, tuy ít và âm thầm hơn nhưng lại âm ỉ và chưa bao giờ bị tiêu diệt: những con người của thánh hiền Khổng Mạnh. Họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm như chính họ bị Tập Cận Bình chà đạp. Nhưng sức họ yếu trước một tập thể đã được nhào nặn, uốn nắn từ những chủ thuyết phản lại tri thức con người. Họ khiếm liệt mọi hành động chống lại và đành lòng sống chung với sự ranh ma, ti tiện như sống chung với rác.

Họ là nạn nhân trực tiếp của Mao qua chủ trương “Lấy nông thôn bao vây thành thị”. Bần cố nông Trung Quốc ào ạt tiến công đã cô lập và khoanh vùng họ, khiến thành phần này chỉ còn để làm kiểng thay vì góp tiếng nói xây dựng và giúp văn hóa Trung Quốc thoát hiểm

Bắt đầu từ sự cố Hàng Châu văn hóa Trung Quốc bước vào một hành trình mới: ngạo nghễ và lừng lẫy đạp trên các trang sách văn hóa của cha ông họ. Dân chúng và lãnh đạo đã tìm thấy tiếng nói chung: giá trị nước lớn của Trung Quốc là tối thượng và phải chiếm được vị trí này bằng bất cứ giá nào kể cả những bãi nước bọt.

Như vậy thì bảo các em nhỏ Việt Nam học tiếng Hán để làm gì trong lúc này?

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

Hải Lý - Học tiếng Trung để làm gì?


Hải Lý - Học tiếng Trung để làm gì?





Bạn hớn hở báo tin là vừa ghi danh khóa học tiếng Trung. Tôi hỏi tại sao thì bạn tròn mắt như tôi là người vừa từ hành tinh nào rớt xuống. Nhìn tôi một cách đầy thương hại, bạn bắt đầu giảng giải…

- Trung Quốc hiện giờ là nền kinh tế lớn nhất trên thế giới chỉ sau Mỹ, và người ta dự đoán nền kinh tế này sẽ vượt Mỹ trong khoảng 10 năm nữa.

- Hơn một tỉ người trên thế giới nói tiếng Trung.

- Cựu thủ tướng Anh David Cameron cũng từng khuyến khích học sinh hãy bỏ tiếng Pháp mà học tiếng Trung đấy nhé!

- Hãy theo gương anh Mark Zuckerberg. Như anh ấy mà vẫn phải học tiếng Trung thì tại sao chúng ta lại không học!

Tiếng Trung, vì thế, theo bạn tôi là cánh cửa mở ra cho bao nhiêu cơ hội để thăng tiến sự nghiệp hoặc kiếm tiền. Nguyên nhân rõ ràng thế mà lại có những kẻ khờ khạo không chịu hiểu!

Tiền.

OK, chúng ta hãy nhìn về góc độ này.

Nhưng đợi một chút, bạn và tôi hãy cùng xem qua một số thống kê.




Hình 1 (Nguồn:cogniview)



Hình 2 (Nguồn:washingtonpost)




Hai thống kê ở hình 1 và 2 cho thấy đại khái vị trí của Trung Quốc trên bản đồ ngôn ngữ toàn cầu.

Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai và có 1.3 tỉ người dùng tiếng Trung, nhưng Trung Quốc dù gì cũng chỉ là một quốc gia trong tổng số 195 quốc gia trên thế giới. Tiếng Trung (Quan Thoại, Quảng Đông) được dùng nhiều nhất cũng chỉ là ở Trung Quốc và Đài Loan. Trong khi đó, tiếng Tây Ban Nha (Spanish) được dùng không chỉ ở Tây Ban Nha, mà còn ở nhiều nước Nam Mỹ như Mexico, Argentina, Chile, Cuba, Costa Rica, Peru, v.v… Tiếng Ả Rập hiện diện ở nhiều quốc gia như Ai Cập, Do Thái, Iraq, Jordan, Kuwait, các Tiểu vương quốc Ả Rập, v.v…

Và dĩ nhiên, không thể không nhắc đến sự thống trị của tiếng Anh. Nghiên cứu mới đây nhất cho thấy có khoảng 1.5 tỉ người trên thế giới đang tích cực học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai (hoặc ngôn ngữ nước ngoài); với tiếng Pháp thì con số này là 82 triệu người, theo sau là tiếng Trung với 30 triệu, tiếng Đức và Tây Ban Nha mỗi bên 14.5 triệu, tiếng Ý 8 triệu và tiếng Nhật 3 triệu (xem nguồn). Theo British Council, đến năm 2020 thì con số người học tiếng Anh sẽ vượt qua 1.9 tỉ.

Bạn thân mến, để tôi hỏi bạn một số câu sau:

- Nếu bạn ở trong ngành nhập khẩu trái cây và nguồn nhập khẩu chính của bạn là từ Mexico, vậy cái việc bạn biết tiếng Trung nó sẽ giúp ích gì cho mối quan hệ thương nghiệp này?

- Bạn đang muốn thuê nhân lực ở Ấn Độ để đảm trách khoa hổ trợ kỹ thuật của công ty, bạn rất có thể sẽ dùng ngôn ngữ nào để trao đổi với đối tác ở bên ấy, tiếng Trung hay tiếng Anh?

- Bạn là kỹ sư cầu cống nộp đơn xin làm việc ở Dubai, bạn không nghĩ cái việc bạn biết tiếng Trung sẽ quyết định sự thành bại đó chứ?

- Bạn muốn đi du học ở Đức. Để chuẩn bị cho việc học tập ở bên ấy, vậy ngay bây giờ thì bạn nên học tiếng gì?

Hy vọng bạn hiểu tôi muốn nói đến điều gì qua những câu hỏi này.

Tôi không nói là bạn không nên học tiếng Trung cho mục đích kiếm tiền. Tôi chỉ muốn bạn suy nghĩ thật kỹ. Nếu bạn là người làm kinh doanh, hãy nghĩ xem việc biết tiếng Trung sẽ giúp ích thế nào cho việc tăng trưởng lợi nhuận của công ty. Nếu bạn là người làm công, hãy tự hỏi việc biết tiếng Trung có giúp bạn thăng tiến trong sự nghiệp hay không. Và nếu bạn là sinh viên, hãy rõ ràng một chút về hướng đi tương lai của bạn - tiếp theo sẽ học gì và học ở đâu.

Đến đây có lẽ bạn sẽ gắt lên, “Gớm, chỉ có việc học tiếng Trung để kiếm tiền thôi mà, sao phải nhặng xị lên thế!”

À, xin lỗi bạn. Tôi cũng là người làm kinh doanh, và cho là tôi chỉ thấy lợi nhuận trên hết.

Và vì vậy chúng ta hãy tiếp tục nói về tiền.

Gần như bất cứ ngành kinh doanh gì cũng cần đến sự đầu tư - đầu tư về mặt tiền bạc, nhân lực, máy móc, v.v… Việc học tiếng Trung cũng là một sự đầu tư.

Để tính xem một sự đầu tư nào đó có lợi hay không, chúng ta cần tính đến số vốn đầu tư mà ta bỏ ra lúc ban đầu, và số lợi nhuận thu được từ sự đầu tư ấy. Việc học tiếng Trung, trước mắt, là một sự đầu tư về thời gian, mà thời gian = tiền bạc trên thương trường. Hãy thử tính bạn sẽ bỏ ra bao nhiêu giờ trong một tuần vào bao nhiêu tuần để đạt được trình độ nói/viết tiếng Trung tạm gọi là rành mạch? Và hãy thử tính bạn sẽ thu về bao nhiêu lợi nhuận từ việc học tiếng Trung này?




Quy luật 20/80




Hẳn bạn phải nghe nói đến quy luật 20/80 (hình 3)?

Trong kinh doanh, việc đầu tư có lời nhất là khi ta chỉ bỏ ra một tí công sức nhưng lại thu về lợi nhuận ít nhất là gấp đôi lượng công sức (quy ra tiền) - luật 20/80 bảo rằng một sự đầu tư được xem là có lời khi ta chỉ bỏ ra khoảng 20% công sức nhưng lại thu về được những 80% lợi nhuận. Dĩ nhiên, bạn có thể chỉnh con số này thành 10/90, 30/70, v.v…

Đối với đa số người, họ sẽ cần rất nhiều thời gian để học và đạt đến trình độ tiếng Trung có thể nói là tạm được. Sự đầu tư lúc ban đầu này là khá lớn. Nhưng rồi lợi nhuận thu về được sẽ là bao nhiêu? Nếu bạn bỏ ra 80% công sức chỉ để học tiếng Trung, nhưng rồi lợi nhuận thu về chỉ được có 20% thì mối đầu tư này có đáng hay không?

Tôi tin, bạn cũng như tôi, khó mà chấp nhận một sự đầu tư lỗ vốn.
Bạn gật gù, nhưng rồi lại hỏi vặn tôi tiếp: “Thế nếu làm ăn với các đối tác người Hoa thì nhất định phải biết tiếng Trung rồi, phải không nào?”

Câu trả lời là “Tùy!”

Nếu bạn muốn tạo những mối quan hệ làm ăn tại Hồng Kông, Malaysia hoặc Singapore, gần như bạn chỉ cần biết tiếng Anh là đủ. Ở Trung Quốc, rất nhiều các công ty lớn dùng tiếng Anh để giao dịch, và dĩ nhiên cũng có lúc bạn không may gặp phải một đối tác mà nửa chữ Anh bẻ đôi cũng không biết. Nếu bạn sống và làm việc ở Trung Quốc, tùy nơi bạn ở, nếu không biết tiếng Trung thì bạn có thể sẽ gặp khó khăn trong những giao tiếp thường ngày, ví dụ như gọi đồ ăn từ thực đơn, hỏi đường, đi khám bác sĩ, v.v…

Ở Trung Quốc, biết tiếng Trung là một dấu cộng cho người nước ngoài sống và làm việc ở đó. Tuy vậy, tiếng Trung không phải là yếu tố duy nhất để người Trung Quốc đánh giá về bạn. Để có một mối giao dịch suôn sẻ ở Trung Quốc, người ta thường khuyên bạn chú ý về những phép tắc trong giao tiếp và chú ý đến các khác biệt văn hóa. Trang blog TutorMing Chinese for Business cũng không đề cao việc bạn phải biết tiếng Trung để kinh doanh, và nhấn mạnh bạn không nên tốn quá nhiều công sức vào việc học tiếng Trung mà bỏ quên những kỹ năng khác, vì chẳng có gì bảo đảm việc biết tiếng Trung sẽ khiến công ăn việc làm của bạn mãi mãi an toàn cả.

Dường như quen quen, quy luật 20/80, phải không?

Bạn nhìn tôi khổ sở, “Thế thì chẳng có ngành nghề nào cần đến tiếng Trung à?” Có chứ, và ở đây sự đầu tư về việc học tiếng Trung có thể đem đến rất nhiều lợi ích. Biết rành rẽ tiếng Trung và tiếng Anh (hoặc ngôn ngữ nào khác), bạn có thể làm thông dịch viên, hoặc làm trong ngành du lịch ở những nơi mà đông người Trung Quốc lui tới. Biết rành rẽ tiếng Trung và nếu là luật sư, bạn có thể lôi kéo được nhiều khách hàng từ cộng đồng người Hoa - những khách hàng mà không rành tiếng bản địa (Anh, Pháp) và rất ngại các vấn đề về luật pháp.

Vấn đề là bạn có sẵn sàng cho sự đầu tư này hay chưa? Cũng theo trang TutorMing Chinese for Business, để đạt đến trình độ tạm gọi là nói, viết tiếng Trung đàng hoàng, bạn cần bỏ ra khoảng 5 giờ đồng hồ mỗi ngày để học, và bạn sẽ cần đến khoảng 88 tuần học như thế. Cách học tiếng Trung hay nhất và nhanh nhất là bạn sống và làm việc ở Trung Quốc, vì đấy là môi trường lý tưởng để thực tập và trau dồi.

Đến đây thì bạn nhăn mặt, “Khó quá nhỉ, hay thôi bỏ mẹ cái khóa học tiếng Trung kia cho rồi!”

Một lần nữa, tôi nói chung không khuyên bạn có nên hay không nên học tiếng Trung, mà hãy suy nghĩ thật cẩn thận trước khi đưa ra quyết định. Nhất là học tiếng Trung để kiếm tiền, vì dù gì đó cũng là một sự đầu tư khá lớn. Hãy nghĩ bạn đang kinh doanh, hoặc sẽ kinh doanh những gì; đa số khách hàng của bạn là ai và ở đâu; những đối tác làm ăn chính của bạn là ai và ở đâu; những dự án dài hạn của bạn là thế nào, v.v… Hoặc nếu bạn đang tìm con đường thăng tiến trong nghề nghiệp thì việc bạn biết tiếng Trung sẽ giúp ích được gì. Hãy tìm hiểu thật kỹ, tham khảo ý kiến của nhiều người trong ngành, đánh giá sự lợi/hại của việc học tiếng Trung.

Đừng học tiếng Trung chỉ vì bạn bị lóa mắt bởi những cái gọi là “nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, sắp vượt Mỹ,” “cả đến 1.3 tỉ người nói tiếng Trung” hay vì ông thủ tướng này, bà tổng thống nọ khuyến khích học tiếng Trung. Tự khi nào mà lời lẽ của các chính trị gia là khuôn vàng thước ngọc mà chúng ta phải răm rắp nghe theo?

Đừng đầu tư vào những gì không sinh lời.

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Brianna Acuesta - Trung Quốc thải hóa chất xuống biển để đẩy ngư dân ra khỏi vùng đảo tranh chấp


Brianna Acuesta - Trung Quốc thải hóa chất xuống biển để đẩy ngư dân ra khỏi vùng đảo tranh chấp









Brianna Acuesta * CTV-Danlambao lược dịch - Tàu của Trung Quốc đã bị chứng kiến thải hóa chất vào vùng biển xung quanh một hòn đảo để tiêu diệt nền kinh tế của vùng này.

Hành động này được báo cáo đã xảy ra xung quanh vùng đảo Pag-asa làm tổn hại đến các sinh vật biển trong một nỗ lực nhằm tiêu diệt nền kinh tế của vùng đảo. Khi số lượng ngư dân phải di dời ngày càng gia tăng vì lượng cá càng ngày càng giảm xuống, Trung Quốc đã tiến gần hơn đến mục tiêu chiếm đoạt vùng đảo này.

Một trang Facebook đã được dành riêng để ghi lại các bằng chứng, trong đó bao gồm hình ảnh gần đây nhất của hàng loạt cá chết đã trôi giạt vào bờ từ do hệ quả của việc thải độc.



Photo: Kalayaan Atin Ito




Pag-asa Island là một hòn đảo ở Biển Tây Philippines do người Phi cư ngụ. Đó là một phần của đô thị Kalayaan của Palawan, Philippines, nhưng các nước lớn như Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đã cố gắng để khẳng định chủ quyền vì lý do kinh tế.

Là một phần của quần đảo Trường Sa, đảo Pag-asa Island nơi duy nhất có người Phi định cư và họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nghề cá.



Đảo Pag-asa - Photo: Ashley Gilbertion



Bằng cách đầu độc các vùng nước xung quanh đảo Pag-asa và giết chết các loài cá bản địa, Trung Quốc đang làm tê liệt nền kinh tế của đảo này và đẩy ngư dân ra khỏi nơi chốn sinh sống của họ.

Theo trang Facebook, có những suy đoán rằng một khi đảo bị bỏ hoang bởi cư dân, Trung Quốc sẽ thiết lập một căn cứ quân sự của họ trên hòn đảo này.

Bởi vì những nỗ lực của Trung Quốc nhằm xua đẩy cư dân phải bỏ đảo, các hệ sinh thái biển và các rạn san hô xung quanh đã bị phá hủy hoàn toàn. Những cá không bị chết từ hóa chất cũng phải rời khỏi vùng biển này giống như cư dân trên đảo vì sự thiếu vắng của hệ sinh thái.

Trung Quốc đã tiến hành cuộc tranh chấp lãnh thổ với Philippines trong nhiều năm qua, đặc biệt là đối với quần đảo Trường Sa. Cuộc tranh chấp của Trung Quốc bao gồm các cuộc đàm phán ngoại giao, đối đầu căng thẳng và các thủ thuật mang tính đe dọa nhưng đã thất bại trong âm mưu giành chủ quyền.

Trung Quốc hiện cũng đang có tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản, Việt Nam và Đài Loan. Có lẽ việc thải hóa chất độc hại không những chỉ xảy ra đối với với Philippines mà còn đối với các quốc gia lục địa khác đang cố gắng để bảo vệ chủ quyền của họ trên quần đảo Trường Sa.

Không cần biết xuất phát bởi những động cơ gì, các hành động của Trung Quốc đã gây tổn hại vô thời hạn và không thể đảo ngược được đối với các hệ sinh thái, các loài động vật, thực vật và con người đang phải trả cái giá cho những hành động này.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Hoàng Trần - Đại tướng Ngô Xuân Lịch bất ngờ đi Trung Quốc giữa lúc nội bộ quân khu 2 rối loạn



Hoàng Trần - Đại tướng Ngô Xuân Lịch bất ngờ đi Trung Quốc giữa lúc nội bộ quân khu 2 rối loạn










Hoàng Trần (Danlambao) - Đại tướng Ngô Xuân Lịch cùng dàn tướng lĩnh cấp cao quân đội đã bất ngờ đi Trung Quốc vào hôm 28/8/2016 giữa lúc nội bộ quân đội CSVN, đặc biệt là tại quân khu 2 đang có nhiều rối loạn.

Chuyến đi Bắc Kinh đầu tiên của ông Lịch trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ kéo dài trong 4 ngày, được nói là theo lời mời của người đồng cấp phía Trung Cộng - thượng tướng Thường Vạn Toàn.

Theo báo Quân Đội Nhân Dân, mục đích chuyến đi là để “tiếp tục triển khai thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước, trong đó có việc tăng cường tiếp xúc cấp cao, thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực đi vào chiều sâu, ổn định và thực chất”.

Sau khi hội đàm với Thường Vạn Toàn, phái đoàn quân sự cấp cao CSVN do tướng Lịch dẫn đầu sẽ đến thăm và chào hỏi quan chức Trung Cộng. Tuy nhiên, nội dung các buổi gặp gỡ, trao đổi này vẫn chưa được tiết lộ cho dư luận biết rõ.


Quân đội CSVN đang rối loạn?


Như vậy, tính từ sau đại hội đảng lần thứ 12 đến nay, tướng Lịch là quan chức cao cấp nhất trong nội các của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được Trung Cộng mời sang.

Động thái này diễn ra trong bối cảnh quân đội CSVN đang trở nên rối loạn do các cuộc tranh giành quyền lực nội bộ, đặc biệt là tại quân khu 2 - khu vực có đường biên giới giáp với Trung Quốc.

Hồi đầu tháng 8, thiếu tướng Lê Xuân Duy đã chết một cách bất thường ở tuổi 54 sau khi nhậm chức tư lệnh quân khu 2 được chưa đầy 3 tháng.

Trước đó, một cựu tư lệnh quân khu 2 khác là đại tướng Đỗ Bá Tỵ cũng đã bị loại khỏi chiếc ghế Tổng Tham mưu trưởng quân đội VN để sang làm Phó Chủ tịch Quốc hội.

Cả tướng Tỵ lẫn tướng Duy đều là những chỉ huy nổi tiếng, từng có nhiều thành tích lẫn kinh nghiệm trận mạc trong các cuộc chiến tranh chống Trung Cộng xâm lược từ thập niên 80.

Việc loại bỏ các tướng lĩnh có quá khứ chống Tàu là do chủ trương tránh làm phật lòng quan thầy Bắc Kinh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.



Cuối năm 2015, cả hai ông Ngô Xuân Lịch và Đỗ Bá Tỵ cùng được phong hàm đại tướng.





"Con rối" của Nguyễn Phú Trọng


Nhiều ý kiến cho rằng, dù mang danh là một đại tướng đầy quyền uy, nhưng trên thực tế, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch cũng chỉ là một "con rối" trong tay Nguyễn Phú Trọng - nhân vật đang kiêm nhiệm chức Bí thư Quân ủy Trung ương.

Đây cũng là lý do khiến đại tướng Ngô Xuân Lịch - với kinh nghiệm đi lên từ một chính trị viên tiểu đoàn, có thể  dễ dàng ngồi vào chiếc ghế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Thêm vào đó, quá khứ tham chiến tại biên giới Tây Nam của ông Lịch cũng không phải là điều đáng bận tâm trong trường hợp bị quan thầy Bắc Kinh “xét lý lịch 3 đời” - điều mà các chế độ cộng sản vẫn thường hay làm.

Do đó, chuyến đi sứ của Ngô Xuân Lịch cũng là dịp để ông Nguyễn Phú Trọng nhận “sắc phong” từ thiên triều, tiếp tục củng cố quyền lực phe nhóm sau khi đánh bại Nguyễn Tấn Dũng tại đại hội đảng 12.

Nhiều khả năng, chiến dịch đả hổ diệt ruồi núp dưới chiêu bài "chống tham nhũng" do ông Trọng phát động sẽ có bàn tay Trung Cộng tham dự trong thời gian sắp tới.

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Nguyễn Quang Dy - Đi hay ở : Bi kịch của một quốc gia



Nguyễn Quang Dy - Đi hay ở : Bi kịch của một quốc gia






Thuyennhan-vietkieu-danlambao



“Con đường vạn dặm bắt đầu bằng một bước chân” (The Journey of a Thousand Miles Begins with a Single Step) – Lao Tzu



Đi hay ở là một câu hỏi đã ám ảnh nhiều người Việt, ít nhất hai thế hệ, như một bi kịch của quốc gia, với nhiều hệ quả khôn lường. Phải rời bỏ quê hương đất nước “di cư” tới một xứ sở khác là điều bất đắc dĩ. Các cuộc di cư lớn thường do chiến tranh hay thay đổi chế độ chính trị. Nhưng câu chuyện đáng nói ở đây không phải là về chuyện di cư thông thường đã từng xảy ra trong lịch sử (như sau năm 1975), mà về hiện tượng ra đi bất thường đang diễn ra hiện nay tại một số nước chuyên quyền (như Trung Quốc và Việt Nam).

Có một cuốn sách nhỏ mà mỗi khi đọc lại người ta không khỏi liên tưởng đến thực trạng đang diễn ra tại quốc gia, công ty, hay cơ quan của mình. Đó là cuốn “Ra đi, Lên tiếng, và Trung thành” (Exit, Voice, and Loyalty, Albert Hirschman, Harvard University Press, 1970). Một cuốn sách hay nhưng dường như ít người đọc.

Trong bài này, chúng ta thử nhìn lại làn sóng di cư diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam, như một hệ quả tất yếu của những bất ổn trong nước (như phần nổi của tảng băng chìm). Dòng người và dòng tiền ra đi không chỉ là bi kịch mà còn là thảm họa.


Bi kịch của Việt Nam


Thay đổi là bản chất của tạo hóa và xã hội. Không ai thoát được quy luật “sinh, lão, bệnh, tử”. Nếu không thay đổi thì không thể phát triển, dẫn đến diệt vong. Nhưng thay đổi cũng làm người ta lo sợ, nhất là khi đụng chạm đến lợi ích và thói quen. Thái độ ứng xử của nhiều người trước biến đổi của thời cuộc cũng khác nhau. Thường có 3 sự lựa chọn. Một là ra đi (exit); Hai là lên tiếng (voice); và ba là trung thành (loyalty).

Trong ba sự lựa chọn đó, có lẽ trung thành để giữ nguyên trạng là dễ nhất (vì an toàn hơn cả); Lên tiếng để thay đổi là khó nhất (vì phải chấp nhận rủi ro); Ra đi tuy không khó bằng lên tiếng nhưng cũng phải trả giá. Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ là chuyện ra đi, mà là ra đi như thế nào, và ra đi vì lý do gì (chính đáng hay bất minh).

Hầu hết người Việt Nam ra đi lặng lẽ như một làn sóng ngầm (còn gọi là “bỏ phiếu bằng chân”). Họ gồm ba nhóm đối tượng chính: Một là giới trí thức (và sinh viên), hai là các doanh nhân (giàu có), ba là gia đình các quan chức (thường là tham nhũng). Họ ra đi do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính thường do cảm giác bất an.

ĐBQH Trương Trọng Nghĩa bức xúc, “Tại sao trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân giỏi muốn bỏ nước ra đi? Tại sao cán bộ về hưu hay đương chức tìm cách cho con cháu mình ra định cư ở nước ngoài?” Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận, “Ai cũng định cư ở nước ngoài cả thì đất nước này lấy ai xây dựng đây? Tôi cho rằng nhân tố cảm thấy kém an toàn là nhân tố chính khiến người Việt rời khỏi Việt Nam”. Bà Lan lý giải, “Khi họ có khoản thu nhập không đàng hoàng thì họ có tâm lý nơm nớp sợ bị lộ nên phải tranh thủ khi còn cơ hội, còn quyền lực thì cho con ra nước ngoài…”

Ví dụ, Nguyễn Thị Nguyệt Hường là một đại gia có tham vọng chính trị. Vấn đề không phải vì bà Hường có tài sản và quốc tịch Malta (tương tự như Panama hay Virgin Islands) vi phạm quy định của Quốc Hội nên bị bãi miễn ĐBQH, mà còn vì mâu thuẫn lợi ích nhóm nên bị thanh trừng. Trường hợp của chị Hường cũng giống trường hợp của doanh nhân Đặng Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm (Tập đoàn Tân Tạo). Đó là những đại gia gắn với nhóm lợi ích, nên khi thất thế dễ bị thanh trừng, phải ra đi (Như bên Trung Quốc)

Trương Đình Anh (đã từng là CEO của FPT) là một doanh nhân thành đạt, có tài và có tiền, có thể đóng góp nhiều cho đất nước. Anh không bất đồng chính kiến hay khó khăn gì về kinh tế. Những người như Anh ra đi là tổn thất cho đất nước, như một chỉ dấu (indicator) về tình trạng “chảy máu chất xám” (brain drain) và “thất thoát tài sản” “wealth drain”. Nhiều người lo ngại sau Trương Đình Anh sẽ có nhiều người khác tương tự ra đi.

Theo số liệu của UN DESA, từ 1990 đến 2015 có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm có 100 nghìn người di cư. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (tính đến 2013). Hầu hết người Việt di cư đến các nước phát triển, trong đó đông nhất là Mỹ (1,3 triệu), Úc (227,3 nghìn), Canada (182,8 nghìn), Pháp (125,7 nghìn), Hàn Quốc (114 nghìn), Đức (113 nghìn). Tại Đông Âu và một số nước châu Á (như Lào, Campuchia, Malaysia) mỗi nước có khoảng 10.000 người. Trong năm 2015, có 2,67% công dân Viêt Nam sinh sống tại nước ngoài.

Theo Kim Hạnh (cựu Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ và Sài Gòn Tiếp thị), người Việt đang ra đi ngày càng nhiều (cùng với dòng vốn), trong đó có nguồn nhân lực di cư theo loại visa EB-3 (có bằng cử nhân trở lên) và loại visa EB-5 (doanh nhân có vốn đầu tư đáng kể). Mỗi năm chính phủ Mỹ cấp hơn một trăm nghìn visa nhập cư, trong đó có khoảng 40 nghìn visa thuộc loại EB-3. Đối với loại visa EB-5, năm 2014 chỉ có 6,418 trường hợp định cư, đến năm 2015 con số này đã đã tăng vọt lên tới 17,662 trường hợp. Khoảng một năm lại đây, số người xin visa định cư tại các nước phát triển đã tăng lên khoảng 30%.

Việt Nam có khoảng hơn 100 ngàn du học sinh ở 49 quốc gia, trong đó có 90% du học tự túc. Riêng tại Mỹ có 28.883 sinh viên, tại Úc có 28.524 (tính đến 10/2015). Việt Nam có khoảng 600 ngàn lao động làm ở nước ngoài (gọi là “xuất khẩu lao động”). Hàng trăm ngàn phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc (gọi là “Cô dâu Việt”). Nhiều công ty khởi nghiệp của giới trẻ có học thức trong lĩnh vực IT và kinh doanh về Internet đang chạy qua Singapore. Trong khi đó một số nghệ sĩ Việt di cư hợp pháp sang Mỹ qua kết hôn với Việt kiều có quốc tịch Mỹ (như Thu Phương, Trần Thu Hà, Lam Trường, Bằng Kiều, Quang Dũng, v.v.).

Cách thức di cư của người Việt ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng lớn. Người dân ra đi chủ yếu vì khủng hoảng lòng tin và môi trường sống không an toàn (thực phẩm, môi trường, giáo dục, an ninh bất ổn). Trí thức cảm thấy thiếu tự do dân chủ, tuyệt vọng và bất lực vì đất nước chậm đổi mới và phát triển. Doanh nhân ra đi để “phân tán rủi ro” (chân trong chân ngoài). Quan chức (tham nhũng) ra đi để bảo vệ tài sản…

Một số doanh nghiệp lớn đang thoái vốn để tháo chạy. Năm 2015, tập đoàn Kinh Đô đã bán 80% cổ phần cho Mondele’s International (Hoa Kỳ), tương lai có thể thoái vốn tới 97%. Ông chủ Kinh Đô nói, “Khi Kinh Đô đã bán cho nước ngoài, thì khó có doanh nghiệp Việt Nam nào có thể trụ lại được.” Đợt thoái vốn tới sẽ là Vinamilk và FPT Telecom. Vinamilk được khuyến cáo là sẵn sàng bán cho nước ngoài 100% cổ phần.

Theo số liệu của viện VEPR (quý I/2015), lượng tiền của người Việt gửi ra nước ngoài đã tăng đột biến lên 7,3 tỷ USD. Trong vòng 5 năm (2008-2013), số tiền từ Việt Nam đã chuyển ra nước ngoài là 33 tỷ USD (Vũ Quang Việt). Theo hồ sơ Panama, 92 tỷ USD đã được chuyển phi pháp ra khỏi Việt Nam (năm 2015 là hơn 9 tỷ). Đó là những con số thất thoát quá lớn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước thâm hụt quá nhiều do bội chi ngân sách.


Bi kịch của Trung Quốc


Ngày càng nhiều người Trung Quốc “bỏ phiếu bằng chân”. Họ di cư khỏi Trung Quốc với tài sản để định cư ở nước khác. Từ năm 1990 đến 2000, trung bình mỗi năm có 143 nghìn người di cư. Từ năm 2000 đến 2010 con số này tăng lên đến 418 nghìn người/năm. Từ 1993 đến 2015, tổng số dân di cư đã tăng từ 4,1 triệu người lên 10 triệu người, trong đó có 2,02 triệu người định cư tại Mỹ, 896 nghìn người tại Canada, 657 nghìn người tại Hàn quốc, 655 nghìn người tại Nhật, 547 nghìn người tại Úc, và 457 nghìn người tại Singapore.

Từ năm 1978 đến 2003 có 4.000 quan chức tham nhũng chạy trốn khỏi Trung Quốc, đem theo hơn 50 tỷ USD. Từ giữa thập niên 1990 đến nay, có 18.000 quan chức tham nhũng chạy ra nước ngoài, đem theo 123 tỷ USD. Hầu hết họ chạy sang các nước Phương Tây (như Mỹ, Canada, Úc, Hà Lan). Cơ quan an ninh Trung Quốc cho biết có 150 tội phạm kinh tế đang sống tại Mỹ để trốn tránh cáo buộc tham nhũng tại Trung Quốc.

Theo Hurun Report, có 64% số người giàu (có 1,6 triệu USD trở lên) đã hoặc có ý định di cư khỏi Trung Quốc. Hiện nay có 1,2 triệu người sẵn sàng ra đi. Người ta xác định có 149 người Trung Quốc siêu giàu, với tài sản trên 1,6 tỷ USD. Danh sách siêu giàu này còn tăng thêm 150 người nữa nếu tính cả “tài sản ngầm” của họ. Theo GFI Report, Trung Quốc đã thất thoát mất 3,79 ngàn tỷ USD trong thời gian từ năm 2000 đến 2011.

Theo Bloomberg Intelligence, 1,4 nghìn tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc trong 10 năm qua (trung bình 140 tỷ/năm). Năm 2015, 1.000 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc, tăng gấp 7 lần so với năm 2014 (là 134,3 tỷ). Đây là do khủng hoảng lòng tin, khó lòng ngăn chặn nổi, dù Trung Quốc có xây vạn lý trường thành xung quanh đất nước.

Năm 2004, chỉ có 16 người Trung Quốc nhận được visa loại EB-5 (13% tổng số); Năm 2008 con số này tăng lên tới 360 người. Đến 2013, con số này đã tăng vọt lên 6.895 người (chiếm 80% tổng số). Năm 2014, có 9.128 người Trung Quốc nhận được visa EB-5 (chiếm 85% tổng số 10.692 visas EB-5 được cấp). Người Trung Quốc chiếm 85% tổng số người xin visa EB-5 để đầu tư vào Mỹ, chiếm 76% tổng số 59.000 người xin visa đầu tư vào Canada; chiếm 91% của 1.679 người xin visa đầu tư vào Úc (từ 2012 đến 2015).

Năm 2014, số sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài là 459.800 người, trong đó 274.000 người học tại Mỹ. Tuy chính phủ Trung Quốc có chủ trương khuyến khích vật chất như trả lương cao để họ trở về nước làm việc, nhưng xu hướng “chảy máu chất xám” vẫn gia tăng. Trung Quốc vẫn tiếp tục mất đi một tỷ lệ khá cao những sinh viên đi học nước ngoài nhưng không về nước (tỷ lệ cao hơn hầu hết các nước khác).

Người giàu Trung Quốc không ủng hộ mà cũng không thách thức chế độ. Họ chỉ muốn chuyển phần lớn tài sản ra nước ngoài rồi ra đi. Họ không giống những người bất đồng chính kiến hay tị nạn chính trị. Thái độ ứng xử của họ có thể thay đổi với lòng yêu nước hay chủ nghĩa dân tộc. Khi ra đi dễ dàng thì họ lựa chọn ra đi, chứ không chọn lên tiếng. Họ sẽ lên tiếng mạnh hơn nếu chính quyền cởi mở hơn cho phản biện và cải cách

Những người giàu có ở Trung Quốc được hưởng lợi lộc nhiều nhất từ sự tăng trưởng kinh tế, nhưng họ lại bỏ đất nước ra đi, thay vì lên tiếng phản biện và góp sức đổi mới đất nước. Một thập kỷ qua, việc họ ra đi đã làm Trung Quốc thất thoát hàng nghìn tỷ USD và chảy máu chất xám nghiêm trọng. Giới nhà giàu đã chuyển 458,3 tỷ USD ra khỏi Trung Quốc, trong tổng số 5,45 ngàn tỷ USD tài sản của họ. Con số thất thoát này bằng 3% GDP. Đây là một vấn nạn kinh tế, vừa “chảy máu chất xám” vừa “thất thoát tài sản”.

Chính phủ Trung Quốc đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng ngân sách nghiêm trọng do hệ quả của sự ra đi ồ ạt của tầng lớp giàu có nhất, và tiếng nói phản biện của tầng lớp trung lưu và lao động. Sức ép từ cả hai phía có thể buộc Chính phủ phải cải cách thể chế một cách có ý nghĩa như là sự lựa chọn duy nhất để tránh nguy cơ sụp đổ.

Theo các học giả, Trung Quốc đã hết lợi thế phát triển và đã “kịch đường” (Paul Krugman). Kinh tế đang nguy khốn (in big trouble), tài chính có thể phân rã (meltdown). Lợi thế dân số không còn (Gordon Chang). Chủ nghĩa chuyên chế có sức sống đã hết thời (David Shambaugh). Tỷ phú George Soros dự báo kinh tế Trung quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing) có thể khủng hoảng như Nga (năm 2014). Trước đây Mỹ lo Trung Quốc vượt mặt, nay lo Trung Quốc sụp đổ, gây sốc lớn cho kinh tế toàn cầu, trong khi họ chưa sẵn sàng đối phó. (“When China Stumbles”, Paul Krugman, New York Times, January 8, 2016).


Nghịch lý của “Mô hình Trung Quốc”


Sau khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay mình, ông ta đã phục hồi những ý tưởng cực đoan của Mao Trạch Đông, như độc tài và sùng bái cá nhân, tuyệt đối tuân thủ hệ tư tưởng, hành xử độc đoán. Đó là sự kết hợp đầy nghịch lý giữa độc tài kiểu Mao với hiện đại hóa kiểu Đặng. Tập nắm nhiều quyền lực còn hơn cả Mao và Đặng (nhưng không bắt chước Đặng). Tập đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tăng cường kỷ luật đảng, để duy trì ổn định chính trị (là ưu tiên hàng đầu), và để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”.

Vì vậy, Tập Cận Bình đòi hỏi tất cả phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với chế độ, và với cá nhân ông ta. Tập tăng cường đàn áp mọi sự chống đối, kể cả xã hội dân sự, giám sát chặt chẽ giới trí thức, kiểm soát khắt khe giới báo chí truyền thông, và chống lại mọi giá trị phổ quát của phương Tây. Kể từ sau sự kiện Thiên An Môn, chưa bao giờ xã hội Trung Quốc lại hà khắc như hiện nay, làm giới cải cách và dân chúng rất bất bình.

Tập thậm chí không tin các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khác, mà chỉ tin vào một nhóm trợ lý thân cận nhất như Vương Kỳ Sơn (trưởng ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương – CCDI, phụ trách chống tham nhũng), Lật Chiến Thư (chánh Văn phòng Trung ương – CCP, phụ trách nhân sự), Mạnh Kiến Trụ (phụ trách Ủy Ban An ninh Quốc gia), Lý Thành (học giả, phụ trách lý luận), và Vương Thiếu Quân (phụ trách an ninh riêng).

Ván cờ của Tập Cận bình phải dùng đến ý thức hệ để cai trị thực ra không dựa trên sức mạnh đang lên mà bộc lộ thế yếu đang xuống (breaking down, rather than building up). Chế độ Trung Cộng rất dễ đổ vỡ vì kinh tế Trung Quốc đang suy thoái một cách đáng lo ngại, làm cho những người cải cách bất bình và dân chúng nổi giận. Nói cách khác, những mưu toan của Tập có thể tạo ra chính sự khủng hoảng mà Tập đang muốn tránh.

Tập đã phát động một cuộc vận động ý thức hệ rộng lớn, lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để che đậy những lỗ hổng của chế độ. Nhưng chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng là con dao hai lưỡi, và chơi với ý thức hệ cũng nguy hiểm như đùa với lửa. Xét cho cùng, Tập có thể bắt chước Mao, nhưng không thể hóa thành Mao. Sự đàn áp dựa trên ý thức hệ không mang lại lời giải nào cho các vấn đề của Trung Quốc, và không thể kéo dài mãi. Nước cờ của Tập không phản ánh sức mạnh mà bộc lộ sự lúng túng, và thú nhận sự mỏng manh của chế độ.

Theo Suisheng Zhao (“Xi Jinping’s Maoist Revival” Suisheng Zhao, Journal of Democracy, July 2016), ngày 17/3/2013, Tập đề xướng chủ trương “ba tin tưởng”: (1) lý luận về “Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc,” (2) con đường mà Trung Quốc theo đuổi, và (3) hệ thống chính trị mà Trung Quốc” lựa chọn. Đây là câu trả lời của Tập cho “ba cuộc khủng hoảng niềm tin” (chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx, và Đảng). Quan điểm Maoist của Tập ngày càng cứng rắn, đe dọa sử dụng “chuyên chính vô sản”, và tiến hành “đấu tranh giai cấp”. Tập đã vay mượn “cẩm nang của Mao”, sử dụng những khẩu hiệu sặc mùi Maoist như “bảy điều đừng nói” để tránh “các sai lầm lịch sử không thể sửa chữa được”, và kêu gọi cán bộ đảng viên phải “tự thanh lọc, tự cải thiện, tự đổi mới…”

Về giáo dục, Tập kêu gọi phát huy “năng lượng tích cực” với một “thái độ tươi sáng” đối với Đảng và nhà nước, biến các trường đại học thành “các lò nghiên cứu Maxist”. Theo chủ trương đó, tháng 1/2015, Bộ trưởng giáo dục Yuan Guiren (Viên Quý Nhân) đã đề xuất “hai củng cố”, nhằm hạn chế việc sử dụng các nguồn học liệu của phương Tây trong nội dung giảng dậy, để cảnh giác đối phó với “các rủi ro tư tưởng”.

Về truyền thông báo chí, Tập Cận Bình ép buộc các nhà báo phải ngừng phê phán Đảng CSTQ, và kêu gọi họ “nói bằng một giọng” và “tường thuật tích cực” để ủng hộ các chính sách của đảng. Trong bài phát biểu tại hội nghị tuyên truyền (8/2013), Tập nói huỵch toẹt ra rằng các chính trị gia phải “vận hành các báo”, và nhà báo phải trở thành “cái họng và cái mồm” (the throat and the mouth) của Đảng.

Bắc Kinh nhấn mạnh khái niệm “chủ quyền không gian mạng” và cho rằng các công nghệ truyền thông mới đang phá vỡ các ràng buộc không gian và thời gian, làm mờ nhạt sự phân biệt giữa tác giả, nhà xuất bản, và công chúng của thị trường tin tức. Khái niệm này hình dung ra một thế giới mạng trong đó các nhà chức trách sẽ “tuần tra” các cuộc nói chuyện online giống như tuần tra kiểm soát biên phòng.

Tháng 7/2015, Chính phủ đã thông qua dự luật an ninh mạng, theo đó sẽ lập ra “các đồn cảnh sát an ninh mạng” để kiểm soát các website và các hãng cung cấp dịch vụ Internet, nhằm “tóm cổ các hành vi phạm tội online” càng sớm càng tốt. Một blogger Trung Quốc đã cảnh báo, “các tường rào trong nhà tù thông tin Trung Quốc nơi sự ngu dốt nuôi dưỡng các tư tưởng hận thù và đối kháng. Nếu bức tường lửa tồn tại vô hạn định, Trung Quốc sẽ quay lại cái thời mà nó bị cô lập, thiển cận, hung hăng, và bất ổn”.

Nhà sử học Xiao Gongqing gọi chính thể của Tập là “Neo-Authoritarianism 2.0”. Theo ông, “Chủ nghĩa Độc đoán Mới 2.0” là cần thiết nếu Trung Quốc muốn tránh tai họa trong cuộc “trường chinh” tiến đến trật tự dân chủ hóa. Xét cho cùng, Đảng là nạn nhân của thành công cũng như thất bại của chính họ. Không có nước nào lại hiện đại hóa nhanh như Trung Quốc mà không phải chịu các hệ quả xã hội to lớn như vậy.

Sự ổn định chính trị và sự sống còn của chế độ là mối quan tâm chủ yếu của Tập Cận Bình, “Sự ổn định cao hơn mọi thứ”. Vì vậy, Tập quyết tâm phải “bóp chết mọi yếu tố chống đối từ trong trứng nước”. Tập đã bị chỉ trích không những bởi những người ủng hộ cải cách, mà còn bởi những người cánh tả cấp tiến. Chế độ kiểm duyệt tăng lên cùng với mối lo về khả năng quản lý sự bất mãn của dân chúng. Trong thời đại Internet, việc khóa miệng sự bất mãn là hầu như không thể. Cái gậy hạn chế quyền tự do trực tuyến có thể “đập lại lưng ông”, bằng việc gây thêm oán hận và mất lòng tin. Đồng thời nó cũng kìm hãm sự phát triển của đất nước vì các nhà khoa học và doanh nhân khó tiếp cận với các nguồn lực trực tuyến vốn đã làm cho Internet trở thành tác nhân đổi mới và phát triển.

Sự lẫn lộn về lý luận được minh họa rõ ràng qua các giá trị XHCN cốt lõi mà ban lãnh đạo của Tập đưa ra từ năm 2013 và được đăng tải khắp nơi ở Trung Quốc. Nó bao gồm “sự thịnh vượng, dân chủ, văn minh, hài hòa, tự do, bình đẳng, công lý, pháp quyền, chủ nghĩa yêu nước, cống hiến, chính trực, hữu nghị…” Tóm lại đó là một danh sách gồm đủ các từ ngữ chắp vá lộn xộn, chứ không bắt nguồn từ một tầm nhìn chính trị mạch lạc. Vì vậy, “Chủ nghĩa Độc đoán Mới 2.0” có thể là sự kéo dài vô hạn chủ nghĩa độc đoán, chứ không phải là sự chuẩn bị quá độ tiến đến cải cách dân chủ cho quản trị quốc gia.

Theo Cheng Xiaonong (Chủ nghĩa Tư bản với Bản sắc Trung Quốc, Epoch Times, 19/8/2016), Đảng CSTQ đã sử dụng kinh tế tư bản để tăng cường chế độ độc tài. Đây là một điểm mấu chốt của “Mô hình Trung Quốc”. Chế độ Trung Cộng đã bắt tay với hệ thống kinh tế Tư bản (từ thời Đặng Tiểu Bình kêu gọi “mèo trắng, mèo đen, miễn là bắt được chuột”). Không những Đảng CSTQ chấp nhận CNTB, mà hàng ngũ lãnh đạo Đảng còn tự mình trở thành những nhà “tư bản đỏ” giàu có đầy quyền lực. Mô hình “Kinh tế Thị trường theo Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” của Việt Nam chỉ là bản sao của “Mô hình Trung Quốc”.

Về cơ bản, giới “tư bản đỏ” đã thâu tóm tài sản thông qua tham ô, biển thủ, chiếm đoạt bất hợp pháp các tài sản nhà nước, duy trì sự độc quyền của các ngành quan trọng, và thao túng các chính sách để đạt được lợi ích và duy trì chế độ độc tài của mình. Họ đã trở thành các doanh nhân, chủ bất động sản và chủ sở hữu tài chính lớn. Quá trình tích lũy của họ đầy đen tối và tội lỗi. Vì vậy, họ cần chế độ bảo vệ tài sản và cuộc sống của mình. Họ cũng cần sự độc quyền của nhà nước để tiếp tục tích lũy của cải nhiều hơn nữa.

Nhiều học giả phương Tây đã tưởng bở rằng sau quá trình tự do hóa kinh tế, giới ‘tư bản đỏ” Trung Quốc sẽ tự nhiên chuyển đổi theo khuynh hướng dân chủ và tự do. Thực tế quá trình chuyển đổi của Trung Quốc đã chứng minh rằng suy nghĩ này không những rất ngây thơ mà còn sai lầm nghiêm trọng. Giới “tư bản đỏ” có một vị thế chính trị tuyệt vời (không có cạnh tranh) nên họ dễ dàng ngăn chặn quá trình dân chủ hóa, có thể dẫn đến sự phá sản kinh tế và chính trị. Đây chính là bản chất của “Mô hình Trung Quốc”.

Thay vì lên tiếng góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa tại Trung Quốc, giới “tư bản đỏ” lại chuyển tài sản cá nhân của họ đến các nước phương Tây, trong khi thu xếp cho các thành viên trong gia đình của mình nhập cư vào các nước đó. Đây là một nghịch lý. Chính điều này chỉ ra rằng tương lai của “Mô hình Trung Quốc” thực sự mỏng manh. “Mô hình Trung Quốc” vừa mâu thuẫn với chủ nghĩa Mác, vừa trái ngược với nền dân chủ. Trong tương lai gần, Đảng CSTQ không thể tránh khỏi một cuộc khủng hoảng ý thức hệ. Bộ máy chuyên chính tuy có thể ngăn chặn được sự bùng nổ (explosion) nhưng không ngăn ngừa được sự suy sụp (implosion). Tập Cận Bình muốn tránh vết xe đổ của Liên Xô, nhưng không thoát được quy luật lịch sử.

Lối thoát duy nhất là phải cải cách thể chế chính trị đã lỗi thời. Thượng Tướng Lưu Á Châu (con rể cựu phó thủ tướng Lý Tiên Niệm, có nhiều phát biểu gây tranh cãi) đã cả quyết, “Trong vòng 10 năm nữa, một cuộc chuyển hình thái từ nền chính trị uy quyền sang nền chính trị dân chủ chắc chắn sẽ phải xảy ra, Trung Quốc sẽ có một sự biến đổi to lớn. Cải cách thể chế chính trị là sứ mệnh lịch sử trao cho, chúng ta không còn có đường lùi”.

La Vũ (con trai của cố đại tướng La Thụy Khanh, là bạn thân của Tập Cận Bình) đã đăng một loạt 10 bài viết công khai khuyến nghị với Tập Cận Bình rằng lối thoát duy nhất của Trung Quốc là từng bước dân chủ hóa. Ngày 19/6/2016, La Vũ đã cho đăng bài thứ 10 trong loạt bài với nhan đề “Bàn bạc với chú em Tập”, trong đó La Vũ thẳng thắn vạch ra rằng chính quyền Trung Quốc từ lâu không được lòng dân, “đến hôm nay, đã không còn được lòng dân nữa“. La Vũ khuyên Tập, “Người dân sẽ không cho chú nhiều thời gian nữa đâu“. Trong lá thư viết cho Tập, La Vũ đề xuất 5 điểm: “xóa bỏ lệnh cấm báo chí; xóa bỏ các lệnh cấm của Đảng; có hệ thống tư pháp độc lập; tuyển cử; quốc gia hóa quân đội”.

Dư luận Trung Quốc và thế giới đang quan tâm đến Hội nghị cơ mật Bắc Đới Hà (8/2016). Trang mạng Weixin lan truyền tin Tập Cận Bình đề xướng “20 chinh sách cải cách chính trị-xã hội”. Không biết thực hư ra sao, nhưng người dân Trung Quốc đang háo hức chờ mong. Ngày 18/7/2016, trang mạng Mingjingnews.com đăng bài xã luận nhận xét: “Hội nghị Bắc Đới Hà lần này sẽ là hội nghị căng thẳng nhất từ trước đến nay…”. Trang Weixinqz.com cũng đưa tin: “Tập Cận Bình sắp tới sẽ có những tuyên bố về chính sách cải cách to lớn, khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc…” Đó là Trung Quốc, còn Việt Nam?


Thay lời kết


Đáng lẽ phải “xoay trục” để thoát dần cái bóng Trung Quốc, thì Việt Nam vẫn núp bóng ý thức hệ đã lỗi thời và bắt chước “Mô hình Trung Quốc, mà không có tiềm lực kinh tế và quốc phòng đủ mạnh làm đối trọng để thoát Trung. Ý thức hệ là cái bẫy làm Việt Nam bị mắc kẹt tại ngã ba đường, nên bảo hoàng hơn cả vua, làm mất dần độc lập kinh tế và chủ quyền quốc gia. Khái niệm trung với nước bị đánh tráo, trở thành trung với Đảng và chế độ. Vì vậy, tiếng nói phản biện vì tương lai của dân tộc thường bị coi là “phản động”.

Đã đến lúc người Việt phải thức tỉnh để đổi mới tư duy và thể chế, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Trước xu hướng người Việt đang đổ xô di cư, cần có cách khuyến khích họ ở lại để chung tay chấn hưng đất nước, khôi phục các giá trị cốt lõi của dân tộc. Tại sao người Miến Điện và người Mông Cổ làm được mà người Việt Nam lại không? Aung San Suu Kyu và Tsakhiagiin Elbegdorj đâu phải là siêu nhân từ trên trời rơi xuống. Nhưng họ không bỏ nước ra đi vì lợi ích riêng, và cũng không chấp nhận thực trạng độc tài của đất nước, mà kiên trì đấu tranh (bất bạo động) để thay đổi vận mệnh của dân tộc họ.

Quyền tự do cư trú và di cư là quyền chính đáng của mọi công dân, là chuyện bình thường của mọi xã hội. Nhưng hiện tượng nhiều người bỏ đất nước ra đi ồ ạt như hiện nay tại Trung Quốc và Việt Nam là chuyện bất bình thường. Nó phản ánh não trạng bất an của cộng đồng và thực trạng bất ổn của đất nước. Tại sao người ta không ở lại để lên tiếng phản biện và góp phần đổi mới thể chế và phát triển đất nước? Câu chuyện đi hay ở không chỉ là bi kịch, mà còn là thảm họa quốc gia. Phải đổi mới thể chế trước khi quá muôn.