Thứ Năm, ngày 30 tháng 6 năm 2016

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Đồ Trâu Ngựa



S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Đồ Trâu Ngựa




Hóa ra trên đời này không chỉ có Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều tiên mà còn có thêm một dân tộc khác cũng ngu là Venezuela.



Tương tự như vô số những người đàng ông (không ra gì) khác, tôi cũng hay chửi thề, rượu chè và cờ bạc. Tựa như đường vào tình yêu, đường vào trường đua (và đường vào bầu cua) có trăm lần thua có một lần huề!


Tôi thua đều đều, tất nhiên, kể cả những lần tin tưởng một trăm phần trăm là mình sẽ thắng. Mới đây chớ đâu, trong trận banh giữa Venezuela và Argentina, có cha liều lĩnh chấp trước hai trái. Thấy ăn là cái chắc nên tôi bắt liền.


Kết quả, nói chính xác hơn là hậu quả: Argentina thắng với tỉ số 4/1. Đ... mẹ, tôi thua đậm, và thua đau mà không hiểu vì răng? Đội Venezuela chơi đâu có dở, cớ sao tôi bị một cú nặng nề như Trời giáng (nguyên cả tháng lương hưu) vậy cà?


Coi đi coi lại trận bóng đôi lần, tôi mới tìm ra được nguyên nhân. Té ra không phải vì đấu pháp, hay đội hình gì cả mà chỉ vì cái tâm lý bất an của những cầu thủ thuộc bên thua cuộc thôi. Họ ra sân với nét mặt âu lo, và muộn phiền, thấy rõ.


Cuộc tranh tài diễn ra tại tại vận động trường Foxborough, Massachusetts, vào hôm 18 tháng 6 năm 2016. Trước đó ba hôm, tờ Guardian đã buồn bã đi tin: “Thành phố Venezuelan thiết quân luật sau nạn trộm cướp tập thể”. Venezuelan city under effective curfew after mass looting.”


Qua ngày hôm sau, cũng The Guardian (lại) ái ngại cho hay tiếp: “We are like a bomb: food riots show Venezuela crisis has gone beyond politics.”

Đội tuyển của quốc gia Venezuela còn lòng dạ nào mà thi tài khi biết rằng đất nước đang ở trong tình trạng như một quả bom... sắp nổ. Họ thua là phải. Tui... cũng vậy luôn!




Ảnh: CBC



Cùng lúc, trên trang trang Fee Foundation for Economic Education, tác giả Jeffrey Tucker đưa ra nhận xét:


“Chỉ cần đi theo con đường của Venezuela. Tấn công vào quyền sở hữu và thương mại, cướp bóc những người giàu có, bãi bỏ hệ thống giá cả, bắt tù những người bất đồng chính kiến, nghiền nát phe đối lập, phá hủy hệ thống tự do tự nhiên, tức là hệ thống đã nuôi sống thế giới này. Đấy là chủ nghĩa xã hội.” (How To Create Starvation in 2016”. Bản dịch của Phạm Nguyên Trường “Làm sao tạo ra được nạn đói vào năm 2016”.


Ô thì ra Venezuela cũng theo C.N.X.H. (y) như nước ta vậy. Thảo nào mà Wikipedia tiếng Việt (giọng Hà Nội) dành cho “đất nước anh em” những lời lẽ vô cùng tốt đẹp:


“Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao nhất Mỹ Latinh. Đa phần dân cư Venezuela tập trung sinh sống tại những thành phố lớn phía bắc. Caracas là thủ đô và đồng thời cũng là thành phố lớn nhất Venezuela. Ngày nay, đất nước Venezuela nổi tiếng khắp thế giới với thiên nhiên tươi đẹp, nguồn dầu mỏ dồi dào và những nữ hoàng sắc đẹp đoạt nhiều giải cao tại những kỳ thi quốc tế.”


Trang Bảo Tàng Phụ Nữ Việt Nam còn có nhiều lời tình nghĩa (thắm thiết) hơn nữa:


- Trong thời kỳ đất nước ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh, phong trào đoàn kết và ủng hộ Việt Nam diễn ra ở khắp mọi nơi trên thế giới và đặc biệt là trên đất nước Venezuela (Nam Mỹ) xinh đẹp. Tiêu biểu cho tình đoàn kết ấy là sự kiện du kích quân Venezuela đã bắt sống trung tá tình báo Mỹ Michael Xmolen năm 1964 để đòi Mỹ - Nguỵ đánh đổi và thả Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi của Việt Nam. Từ những năm 1989, hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao và lần lượt mở các đại sứ quán ở tại Việt Nam (2005) và Venezuela (2006).


- “Việt Nam và Vê-nê-xu-ê-la là hai nước anh em, tuy xa cách về địa lý nhưng gần gũi về tấm lòng. Nhân dân hai nước luôn có tình cảm hữu nghị và gắn bó bởi nhiều điểm tương đồng về lịch sử, chính trị và xã hội. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18/12/1989 và đã nhanh chóng phát triển quan hệ trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt việc duy trì thường xuyên các cuộc thăm viếng và tiếp xúc của Lãnh đạo cấp cao hai nước đã cho phép đạt được nhiều hiệp định và thoả thuận hợp tác song phương quan trọng. Nhiều dự án hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang được triển khai tích cực và hiệu quả, góp phần bổ trợ nhau trên con đường phát triển của mình.”


Tuy nói vậy (“bổ trợ nhau trên con đường phát triển”) chớ không phải vậy đâu. Giữa lúc ở Venezuela “người dân phải bới rác tìm đồ ăn” thì không thấy Việt Nam, và những nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, “bổ trợ” cái con tự do gì ráo. Làm bộ bầy tỏ chút tình cảm quan ngại cũng không luôn.




image002_5.jpg
"Chủ nghĩa xã hội Venezuela": người dân phải bới rác tìm đồ ăn. Ảnh & chú thích: phamnguyentruong



Sợ mình sơ sót, và cũng ngại sự xuyên tạc (của những thế lực phản động nước ngoài) nên tôi tìm vào trang mạng của Đại Sứ Quán Việt Nam Tại Venezuela để xem thêm tin tức. Tiếc thay, tôi không tìm được gì khác ngoài “Lời chào của Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Vê-nê-xu-ê-la,” với những lời lẽ vô cùng hoa mỹ như sau:


Việt Nam và Vê-nê-xu-ê-la là hai nước anh em, tuy xa cách về địa lý nhưng gần gũi về tấm lòng. Nhân dân hai nước luôn có tình cảm hữu nghị và gắn bó bởi nhiều điểm tương đồng về lịch sử, chính trị và xã hội. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18/12/1989 và đã nhanh chóng phát triển quan hệ trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt việc duy trì thường xuyên các cuộc thăm viếng và tiếp xúc của Lãnh đạo cấp cao hai nước đã cho phép đạt được nhiều hiệp định và thoả thuận hợp tác song phương quan trọng. Nhiều dự án hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang được triển khai tích cực và hiệu quả, góp phần bổ trợ nhau trên con đường phát triển của mình.


Trên tinh thần đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Vê-nê-xu-ê-la luôn là địa chỉ tin cậy và cầu nối quan trọng giúp nhân dân hai nước ngày càng hiểu biết nhau hơn về đất nước và con người, góp phần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước và hai dân tộc chúng ta…

ĐẠI SỨ NGÔ TIẾN DŨNG

Tuy ông Dũng khẳng định “Đại sứ quán Việt Nam tại Vê-nê-xu-ê-la luôn là địa chỉ tin cậy và cầu nối quan trọng giúp nhân dân hai nước” nhưng khi vào phần tin Về Vê-nê-xu-ê-la của trang vietnamembassy-venezuela chỉ thấy vỏn vẹn có bốn chữ, cùng một cái chấm than thôi: Không có tin nào!


Sao mà làm biếng dữ vậy, cha nội? “Nhân dân hai nước luôn có tình cảm hữu nghị và gắn bó bởi nhiều điểm tương đồng về lịch sử, chính trị và xã hội”; vậy mà Đại sứ quán Việt Nam tại Vê-nê-xu-ê-la hiện nay “không có tin nào” trong khi nước bạn sắp bùng nổ đến nơi (“ready to explode”) theo như cách dùng chữ của BBC!


Sự kiện này khiến tôi nhớ đến bảng xếp hạng, về chỉ số tử tế (GCI) hồi năm 2014.


Thứ Tư, ngày 29 tháng 6 năm 2016

Vũ Đông Hà - Ba Đình nhất trí tăng cường tin cậy chính trị với quân xâm lược!!!



Vũ Đông Hà - Ba Đình nhất trí tăng cường tin cậy chính trị với quân xâm lược!!!










Vũ Đông Hà (Danlambao) - Lần thứ 9, đại diện cho Ba Đình, Phó thủ tướng CSVN Phạm Bình Minh đã tiếp và họp với người "đồng chí (hướng)" của Bắc Kinh là Dương Khiết Trì. Tên Uỷ viên quốc vụ viện của Tàu cộng này là kẻ đã từng thúc giục tập đoàn con cháu của Hồ Quang rằng "những đứa con hoang đàng hãy trở về nhà" . Sau lần "cha gọi con" ấy vào tháng 6, 2014, bầy đàn con cháu Ba Đình đã hết hoang đàng và ngoan ngoãn quay đầu về đất tổ cha. Kỷ niệm năm thứ 2 cho "ngày trở về", cha-con lại gặp nhau để tiếp tục "nhất trí tăng cường tin cậy chính trị" theo quan hệ chủ-tớ-cha-con 4 vàng, 16 tốt.

Cha-con nhà họ sản khác giống nhưng chung một nòi này đã "nhất trí tăng cường tin cậy chính trị" những gì?

Trước hết, để "tăng cường tin cậy", 2 bên đã nhất trí đồng ý mở thêm Tổng Lãnh sự quán Tàu tại Đà Nẵng . Như vậy bên cạnh Toà Đại sứ ở phía bắc, Tổng Lãnh sự quán ở phía nam, Tàu cộng nay lại có thêm giang sơn riêng tại khúc giữa Việt Nam, nơi mà Bắc Kinh đang gia tăng mức độ chiếm đóng bằng những dự án đầu tư xây dựng, kéo theo những hạ tầng cơ sở, công nhân lẫn lực lượng trá hình cư ngụ và quản lý những công trường bất khả xâm phạm đối với người Việt Nam.

Một trong những công trình xâm nhập này là dự án 2,5 tỷ đô la tại Vũng Áng, Hà Tĩnh với 1,000 ha đất dành cho Wei Yu Engineering Group Company Limited, một công ty đăng ký hoạt động vào đầu năm 1999 nhưng đã dẹp tiệm vào tháng 2, 2002, được Bắc Kinh sử dụng như là một vỏ bọc nhằm giảm thiểu làn sóng chống Tàu cộng ngày càng gia tăng của dân Việt, để xâm thực Việt Nam.

Bên cạnh việc thành lập Tổng Lãnh sự quán tại Đà Nẵng, giới chóp bu Ba Đình đã ký kết cái gọi là “Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và Cục Cảnh sát biển Trung Quốc” (4). Chỉ có ở Việt Nam là nơi mà chính phủ của một quốc gia bị xâm lấn lại đi ký kết "bản ghi nhớ" với quân xâm lược. Đổi lại sự "ghi nhớ" này, Bắc Kinh đã bôi trơn thêm cho Hà Nội một khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 129,5 triệu nhân dân tệ (gần 20 triệu đô la). Số tiền này để làm gì?


"Bản ghi nhớ" giữa cảnh sát Việt-cộng và cảnh sát Tàu-cộng được ký kết trong tình trạng Biển Đông bị Bắc Kinh chiếm cứ và quậy nát, khi mà chính truyền thông lề đảng đã phải loan tin về tình hình bi đát của Biển Đông:

...

Trước tình trạng đó, báo chí của đảng đã phải đăng tải:

...

Và:
...

Với tình hình như thế thì ông Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam Nguyễn Văn Sơn đi ký với tên tướng Tàu Vương Hồng Quang - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát biển Trung cộng "Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ tư lệnh cảnh sát biển Việt Nam và Cục Cảnh sát biển Trung Quốc" (5) để làm gì!?

"ghi nhớ" cái gì?

Nội dung "ghi nhớ" cũng sẽ giống như nguyên nhân gây ra cá chết, như mật ước Thành Đô và những văn kiện bán nước khác, sẽ là giao kèo chuyển nhượng riêng tư, bí mật giữa cha con nhà họ sản.

Chuyến đi của Dương Khiết Trì với thành quả là Tổng Lãnh sự quán Tàu cộng tại miền Trung ra đời, 20 triệu đô mang tiếng cho không nhưng thực chất là để đám con hoang bỏ công sức ra xây dựng Cung Hữu Nghị Cha Con, và những điều đàn con hoang phải ghi nhớ để hành xử cho phải đạo làm con ở Biển Đông là tiếp nối âm mưu của Mao-Hồ-Đặng-Tập: biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Tàu.

Mục tiêu này đã được nhắc nhở, "ghi nhớ", "đi vào chều sâu" một lần nữa trong chuyến đi tháng 6, 2016 của Dương Khiết Trì: "Hai bên đánh giá cao những tiến triển tích cực trong quan hệ hợp tác giữa hai nước kể từ sau Phiên họp lần thứ 8 đến nay; nhất trí tăng cường tin cậy chính trị, duy trì trao đổi, tiếp xúc cấp cao, thúc đẩy hợp tác thực chất có tiến triển mới; phối hợp triển khai hiệu quả Kế hoạch hợp tác hai Đảng giai đoạn 2016 - 2020

2020 là chấm dứt giai đoạn.

Sau 2020 là sứ mạng của Mao Hồ được hoàn tất.

Một thời kỳ Bắc thuộc mới bắt đầu mà Bắc Kinh không cần một tiếng súng.

Xin đăng lại đây một bài đã viết:



Dương Khiết Trì: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!

Thứ Ba, ngày 28 tháng 6 năm 2016

Nguyễn Thị Từ Huy - Phỏng vấn Đặng Xương Hùng : Ân huệ của nhà nước đối với ngành ngoại giao (phần 1)



Nguyễn Thị Từ Huy - Phỏng vấn Đặng Xương Hùng : Ân huệ của nhà nước đối với ngành ngoại giao

(phần 1)





Ông Đặng Xương Hùng và nhà văn Vũ Thư Hiên.
Nguồn: FB Đặng Xương Hùng.





Được biết ông Đặng Xương Hùng đã từ bỏ tương lai nghề nghiệp trong ngành ngoại giao để dấn thân đấu tranh cho quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, chúng tôi thực hiện cuộc trò chuyện với ông để hiểu thêm về cách thức vận hành và tổ chức của bộ máy quyền lực ở Việt Nam.


Nguyễn Thị Từ Huy :
Trước tiên, ông có thể cho biết, ông đã đến với ngành ngoại giao như thế nào, là một lựa chọn cá nhân, hay là tuân theo mong muốn của gia đình… ?

Đặng Xương Hùng :
Tôi đến với ngành ngoại giao là do yếu tố gia đình. Bố và anh trai cả của tôi đều làm ở Bộ Ngoại giao. Bố tôi là bạn của ông Nguyễn Cơ Thạch, cố Bộ trưởng Ngoại giao. Hai ông là đồng hương với nhau, quê tại Nam Định, đã cùng nhau làm việc ởỦy ban kháng chiến liên khu ba (trước 1954). Khi Bộ ngoại giao được thành lập, ông Thạch đã rủ (hoặc đưa) Bố tôi về đây làm cùng nhau. Vốn tiếng Pháp của Bố tôi cũng khá.


Tôi vốn học giỏi ở những môn tự nhiên (toán, lý, hóa) hơn, nên khi thi vào đại học (năm 1978), tôi đã chọn thi vào Đại học Bách khoa. Lúc đó, đại học Ngoại giao không có trong danh sách để thi, mà họ đi thu nạp sinh viên từ con em trong ngành, có kết quả tốt ở các trường đại học khác. Năm đó, tôi được 21 điểm, chỉ thiếu nửa điểm là đi học ở nước ngoài (đây là sự đáng tiếc, tôi sẽ nhớ đến suốt đời, vì rằng trong bài thi toán tôi đã có sự nhầm không thể tưởng tượng được, đó là 2 :1=1/2, nếu không nhầm ở đây bài thi toán tôi sẽ có điểm rất cao). Sau đó, đã có một người của trường đại học ngoại giao (anh Nguyễn Hồng Phong) đã đến gia đình tôi, thuyết phục đưa tôi vào đại học ngoại giao. Tất nhiên, gia đình tôi ai cũng đồng ý, bản thân tôi không thích thú lắm, vì rằng nó đi ngược với ý thích muốn làm nghiên cứu khoa học của tôi. Tuy nhiên, cuối cùng cậu thanh niên mới có 17 tuổi cũng đã đồng ý theo ý kiến mọi người và cậu ta cũng phải thừa nhận rằng vào ngoại giao là một diễm phúc và danh giá thời bấy giờ.


Tuy nhiên, khi vào sơ tuyển tại đại học ngoại giao, tôi gặp khó khăn, do ngoại hình của tôi vô cùng tệ hại, mắt híp bẩm sinh, thấp bé, lúc đó tôi chỉ nặng có 38 kg, ngoại hình này không thể đủ để vào làm ngoại giao đại diện cho Việt Nam tiếp xúc với người nước ngoài. Nhưng số phận vẫn muốn đẩy tôi vào với ngành ngoại giao. Câu chuyện lại một lần nữa liên quan đến ông Nguyễn Cơ Thạch. Năm đó, ông Thạch đang làm Thứ trưởng, phụ trách trường đại học ngoại giao. Khi được nghe báo cáo về trường hợp của tôi, con ông Đặng Thế Xương, ông Thạch đã nói « Nó bé thì nó sẽ lớn và sẽ nên người, cứ cho nó vào ». Thế là tôi đã trở thành sinh viên trường đại học ngoại giao. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp đại học ngoại giao, tôi đã chính thức vào Bộ Ngoại giao, làm ở Vụ Châu Á 2 (phụ trách Lào và Cămpuchia).


Nguyễn Thị Từ Huy :
Trong tư cách một người làm ngoại giao, hẳn ông đã có nhiều đóng góp ? Tại sao ông không tiếp tục đóng góp qua con đường ngoại giao mà lựa chọn từ bỏ hệ thống, nghĩa là lựa chọn một cuộc sống bấp bênh và cả nguy hiểm nữa ?


Đặng Xương Hùng :
Thật lòng, theo cách nghĩ của tôi, tôi đóng góp không nhiều cho ngành ngoại giao và cho đất nước. Tôi chỉ là một công chức hoàn thành nhiệm vụ. Tôi là một người làm ngoại giao rất xoàng, tầm thường. Ăn nói không thật trôi chảy, tiếng Pháp, tiếng Anh không thật giỏi. Ngoài ra, ngoại hình cũng làm tôi trở ngại rất nhiều, nhất là những năm đầu tiên. Tôi thực sự tự ti về hình ảnh của mình, đã có lúc, khi thấy một số người bạn rời bỏ ngành ngoại giao, tôi đã có ý định tương tự, nhưng quả thực tôi không có cơ hội và năng lực cần thiết nào khác để mà có thể từ bỏ được.


Hơn nữa, cùng với năm tháng, tôi đã tự trả lời cho chính mình câu hỏi tại sao mình không thành công trong ngành ngoại giao cho lắm. Mình sẽ không thể giỏi lên ở một môi trường mà mình ít có lòng yêu mến. Điều này thì có phần hơi bào chữa, nhưng vẫn có giá trị sự thật. Tiếp nữa, là việc có « thành công » ở một cơ quan nhà nước như Bộ ngoại giao thì ta phải có sự hiểu biết nhất định về « luật chơi » của nó. Những thứ luật chơi phải là người thật tinh quoái mới nhận biết hết được. Hoặc nếu anh không đủ tinh quoái thì chí ít anh phải đủ « hèn » để kìm nén những ý kiến cá nhân, răm rắp tuân thủ ý kiến lãnh đạo. Cả hai thứ trên tôi đều không có.


Tôi đã nhận thức ra từ khá lâu rằng Bộ ngoại giao mới chỉ dừng lại ở chỗ là môi trường để tôi kiếm ra đồng tiền nuôi sống tôi và gia đình, chứ nó ít là môi trường cho tôi sự thoải mái. Càng ngày tôi lại càng cảm thấy Bộ ngoại giao mất dần ký ức đẹp của nó trong tôi. Có một cái gì đó không thật ổn trong ngành ngoại giao. Những người tâm huyết vắng dần, đồng nghĩa với việc cán bộ « tinh khôn » tăng dần. Những cuộc đấu đá, chạy chọt để lên chức, lên quyền, đi luân chuyển nước ngoài ngày càng trở thành những câu chuyện thường ngày ở Bộ. Những câu nói thật tình chỉ nghe được ở những buổi chơi golf và những buổi rượu bia bạn bè vui vẻ. Ai cũng tỏ quan tâm tình hình khó khăn của đất nước, nhưng để chịu suy nghĩ sâu thêm hoặc thực thi ý nghĩ của mình thì ít người quan tâm thể hiện, hoặc không dám hoặc chặc lưỡi chấp nhận sự bình yên.


Đó là cái vòng luẩn quẩn của Bộ ngoại giao nói riêng và của cả hệ thống nói chung. Người thực sự yêu ngành nghề của mình hiếm lắm. Cả xã hội đang sống với cảnh nhanh tay kiếm lợi từ chỗ đứng riêng của mình. Công an, quân đội, bác sĩ, giáo viên, đều như vậy. Trong một lần phỏng vấn về chuyện visa của các sứ quán bên ngoài, tôi đã từng ví nó như thể công an giao thông đứng đường ăn chặn lộ phí vậy. Cái tệ hại của chế độ này là đảng cộng sản muốn mua sự trung thành và ngoan ngoãn của công chức nhà nước bằng việc ban phát bổng lộc nào đó cho từng ngành nghề, nếu không ban phát được họ bịt mắt cho qua những tiêu cực ngành nghề mà đó tạo ra. Thí dụ như họ bỏ qua cho công an những nhũng nhiễu mà công an gây ra cho nhân dân, thậm chí đổ lỗi là do người dân. Bỏ qua cho giáo viên việc dạy thêm. Bỏ qua cho bác sĩ trong việc nhận phong bì. Với ngoại giao chúng tôi được họ mua bằng những chuyến đi công tác nước ngoài và lệ phí visa. Trong bộ chúng tôi hay đùa nhau rằng, rốt cuộc chỉ là « vấn đề Cămpuchia » (mâu thuẫn nội bộ các sứ quán là vấn đề chia chác lệ phí visa).


Nguyễn Thị Từ Huy:
Câu chuyện visa cụ thể là thế nào, thưa ông?


Đặng Xương Hùng:
Chuyện visa, khi tôi tiết lộ những chi tiết cụ thể, tôi biết những người bạn tôi ở Bộ ngoại giao chắc sẽ trách tôi nhiều lắm. Vì rằng chỉ mới ba, bốn năm nay thôi, tôi vẫn còn sống vì nó và kiếm ra đồng tiền vì nó. Nhưng cái lòng tôi muốn nói ra vì rằng tôi có một người bạn còn trẻ ở Bộ mới lần đầu ra nước ngoài và khi tiếp xúc với câu chuyện visa, đã thốt lên rằng : « Thu tiền lệ phí visa như thế làm mất uy tín của Bộ Ngoại giao quá anh nhỉ ». Tôi đã trả lời : « Đi công tác ở sứ quán, không có tiền chia từ visa, mình không còn thừa ra đồng nào để mà tiết kiệm đâu em ạ. Rồi em sẽ quen dần thôi ». Và vì rằng cả hai chúng tôi đều cùng một ý nghĩ là thà nếu nhà nước cho chúng tôi hưởng một chế độ tiền lương chính đáng tương đương nào đó, còn hơn là dành cho chúng tôi một « chế độ mập mờ » để chúng tôi phải « gian dối » trong lệ phí visa. Nhưng từ lâu tôi đã có câu trả lời cho mình là, do nhà nước không thể có đủ để cung cấp cho chúng tôi một khoản tiền chính đáng nào đó, nên họ cho chúng tôi một «mảnh sân » để chúng tôi « tự do trong kín đáo » kiếm thêm để bù vào. Họ sẽ bịt mắt cho qua.


Câu chuyện visa có thể tóm tắt như sau :


Bộ Tài chính quy định một visa có giá là 35 đô la Mỹ. Số tiền này sẽ đưa vào ngân sách nhà nước. Có chia để lại cho Bộ Ngoại giao một phần. Bảng lệ phí visa theo giá nói trên lẽ ra phải treo công khai tại nơi làm lãnh sự của các sứ quán. Nhưng nếu chỉ thu như vậy, các sứ quán chỉ làm « không công » cho nhà nước, tức không có chênh lệch nào cả. Bộ Tài chính hàng năm có tổ chức đoàn sang kiểm tra các sứ quán nhất là những sứ quán có số thu lệ phí cao. Tuy nhiên, đấy là cái dịp để các bên đóng kịch. Sứ quán sẽ đóng kịch bằng việc treo bảng lệ phí visa lên để cho cán bộ Tài chính trông thấy rồi cất ngay đi. Nộp cho Bộ Tài chính đủ biên lai thu tiền visa đúng với giá 35 đô la đó.


(Chúng tôi có hai loại biên lai, một nộp cho bộ tài chính, một biên lai cho khách theo giá thực thu, cái này sẽ hủy đi ngay sau đó). Một lần kiểm tra như vậy cũng là dịp Bộ Ngoại giao « bồi dưỡng » cho cán bộ tài chính nói riêng và Bộ Tài chính nói chung về việc cho qua sự việc này. Theo tôi thì các Bộ Ngành của Việt Nam đều làm như vậy. Bỏ qua việc làm ăn mập mờ để thu về một « khoản thù lao » nào đó.


Giá thực thu một visa cho khách ở các cơ quan đại diện ngoại giao mỗi nơi một khác. Ngay cả trong một nước cũng có khi khác nhau. Thí dụ ở Genève, chúng tôi thu 70 CHF, sứ quán ở Bern thu 80 CHF. Tại Paris, hình như họ thu 70 euros. Để lý giải cho việc chênh lệch đó, có cơ quan đại diện bị bí khi bị chất vấn thì giải thích rằng phần chênh lệch là chi phí hành chính và chi phí xin chấp nhận xuất nhập cảnh từ một công ty du lịch trong nước. Phần lớn các công ty du lịch làm dịch vụ xin phép nhập xuất cảnh đều là có chân của Bộ Công an, vì như vậy việc xin phép sẽ được nhanh hơn.


Tóm lại, nhà nước định ra một giá cho visa, các sứ quán lẽ ra chỉ được thu như thế hoặc hơn lên đôi chút về những chi phí hành chính. Nhưng nếu làm như thế cán bộ ngoại giao đi công tác nước ngoài sẽ không còn có thêm được gì. Đã nhiều năm Bộ Ngoại giao đã rất muốn điều chỉnh tìm ra một phương cách thu sao cho hợp lý, cho chính đáng hơn. Nhưng đều bất lực. Cuối cùng, đều chấp nhận nhắm mắt cho qua chấp nhận như vậy. Cũng là ân huệ mà nhà nước muốn đổi lấy sự trung thành của các cán bộ ngoại giao và cũng là cách mà các quan chức ngoại giao đủ sống khi ở nước ngoài. Họ chỉ có lương cơ bản chừng khoảng 500 USD/tháng. Cuối hàng tháng, chúng tôi dùng phần chênh lệch, chia cho các nhân viên sứ quán. Đây cũng là câu chuyện gây mẫu thuẫn nội bộ do chia chác. Ai được chia, chia tỷ lệ bao nhiêu ? Có những nơi phần chia visa mới là phần quan trọng nhất trong các khoản thu nhập. Trước khi xin đi luân chuyển, mọi người đều tìm hiểu thu nhập visa ở nơi đó là bao nhiêu. Có những nơi rất cao ở khoản này, thí dụ ở San Fancisco, Washington, London, Paris… Vậy nên, người ta mới lý giải được tại sao ông Thứ trưởng Ngoại giao, ủy viên trung ương đảng lại đi làm Tổng Lãnh sự tại San Francisco, một chức vụ trong ngoại giao chỉ hơn cấp Lãnh sự của tôi một cấp.


Tôi cũng chỉ mong rằng một ngày nào đó, đất nước thay đổi, để những người đi làm ngoại giao không còn phải cam chịu những chê trách trong visa, hộ chiếu, thay vào đó là những khoản thu nhập chính đáng, xứng đáng với công việc và năng lực của họ.


Bùi Tín - Hai sự kiện đáng kể về Trung Quốc



Bùi Tín - Hai sự kiện đáng kể về Trung Quốc







Nguyên Tổng bí thư đảng CSTQ Giang Trạch Dân.
Nguyên Tổng bí thư đảng CSTQ Giang Trạch Dân.




Mấy ngày nay có hai sự kiện gây tiếng vang lớn từ Trung Quốc. Một là tin từ Hồng Kông và từ báo mạng Đại Kỷ Nguyên báo tin đêm 10/6 ông Giang Trạch Dân, nguyên Tổng bí thư đảng CSTQ đã bị bắt tại nhà riêng, hiện bị giam giữ tại một nhà giam đặc biệt ở Thượng Hải. Trước đó, hai con trai của ông Giang là Giang Miên Hằng và Giang Miên Khang, lãnh đạo các ngành thông tin, giao thông ở Thượng Hải, cũng đã bị giam. Thượng Hải vốn là địa bàn ảnh hưởng lớn nhất của phe phái Giang trong mấy chục năm nay.

Giang Trạch Dân là con hổ lớn nhất - Vương Hổ - bị sa lưới trong chiến dịch ‘’Đả hổ diệt ruồi’’ do Tập Cận Bình chủ trương từ hai năm nay. Hơn 60 vạn cán bộ, trong đó có hơn 20 vạn cán bộ cao cấp trong đảng CS và bộ máy Nhà nước Trung Cộng đã bị truy tố và xét xử.

Lần đầu tiên một số Ủy viên Thường vụ Bộ chính trị xưa nay được coi là bất khả xâm phạm bị truy tố và vào tù. Chu Vĩnh Khang, trùm dầu mỏ và trùm an ninh đã bị vào tù. Bạc Hy Lai bị tù chung thân. Tướng Từ Tài Hậu bị chết trong tù. Tướng Quách Bá Hùng từng là phó bí thư Quân ủy TƯ bị tống giam.

Giang Trạch Dân là nhân vật cao cấp nhất cùng cả phe nhóm Thượng Hải với hệ thống gia đình trị của ông ta sa lưới là đòn quyết định của Tập Cận Bình theo phương châm nhổ cỏ tận gốc, giữa lúc có tin Giang đang chuẩn bị một cú ‘đảo chính cung đình’’. Có hai nhân vật quan trọng đang có nguy cơ bị quét tiếp là nguyên Chủ tịch nước Tăng Khánh Hồng và Ủy viên thường vụ Bộ chính trị hiện tại chức Lưu Vân Sơn phụ trách ngành Tuyên huấn và được coi là người của Giang.

Hiện nay dư luận TQ tập trung chờ đợi việc gì sẽ xảy ra sau khi nhóm Giang bị sa lưới toàn bộ? Sẽ có phiên tòa tối cao xét xử công khai vụ án cực lớn ‘’Âm mưu đảo chính trước Đại hội 18, nhằm ngăn chặn Tập Cận Bình lên thay Hồ Cẩm Đào để đưa Bạc Hy Lai lên ‘’, trong đó Giang là kẻ chủ mưu, cùng Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai, Tăng Khánh Hồng, Từ Tài Hậu , Quách Bá Hùng ... là tòng phạm chính.

Vấn đề quan trọng nhất là từ vụ án này, số phận của đảng CSTQ sẽ ra sao? Chính Tập Cận Bình đã than vãn là Quân Giải phóng TQ đã bị hư hỏng từ trên cao nhất, đảng CSTQ đã bị suy yếu cùng cực, mất hết uy tín trong xã hội, cần có một sự cải tổ tận gốc. Trong đảng CSTQ đã có đòi hỏi ‘’xóa bài, làm lại từ đầu‘’, giải thể đảng CS, lập nên một đảng mới . Cũng có ý kiến nên trở về với nền dân chủ, theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn – Dân chủ, Dân quyền, Dân sinh.

Theo Đại Kỷ Nguyên, trong 15 năm qua trong phong trào ‘’Thoát đảng CS‘’ đã có hơn 200 triệu người từ bỏ đảng CS và các tổ chức ngoại vi của đảng, như Đoàn Thanh Niên, Đoàn Phụ nữ, Tổng công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thiếu nhi, Hội trí thức, Hội Nhà báo, Hội Luật gia, Hội nhà kinh doanh …

Có hai sự kiện gây nên sự sa sút nghiêm trọng uy tín vốn đã nghèo nàn của đảng CSTQ. Một là cuộc tàn sát mấy nghìn thanh niên sinh viên ở Thiên An Môn tháng sáu 1989, và cuộc đàn áp đầy ải hàng chục triệu thành viên Pháp Luân Công trong cả nước từ năm 1999 đến nay, trong đó nổi lên tội ác diệt chủng là cướp phủ tạng của tù nhân còn sống như tim, gan, mật, thận, mắt để bán với giá rất cao cho kẻ giàu sang và quan chức lâm bệnh.

Trong khi dư luận TQ và quốc tế bàn tán đến tương lai, số phận của đảng CSTQ thì một cuốn sách được phát hành ở Hồng Kông, Đài Loan và lan tràn cực nhanh vào lục địa. Đó là cuốn sách Từ biệt Bộ Tổng Tham Mưu Quân Giải phóng Trung Quốc’’ (tên tiếng Anh là Farewell to the Chinese Liberation Army General Staff - The Memoirs of Luo Yu). Cuốn sách ra đầu năm nay, đã tái bản 3 lần, bán chạy như tôm tươi.

Luo Yu (La Vũ) con trai duy nhất của Đại tướng La Thụy Khanh Tổng Tham mưu trưởng QGP Trung quốc, từng tham gia Vạn lý Trường Chinh, Chiến tranh Triều Tiên, từng sang VN nghiên cứu tình hình năm 1962 cùng Nguyên soái Diệp Kiếm Anh. La Thụy Khanh cùng Đặng Tiểu Bình bị Mao và Lâm Bưu trừng trị trong cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản. La khốn quẫn nhảy lầu từ lầu ba không chết nhưng gãy chân vào năm 1968, được phục hồi danh dự năm 1975. La Vũ sinh năm 1944, gia nhập quân đội sớm, cùng bố bị tù khi 24 tuổi, năm 1977 được trở lại quân đội, năm 1987 là Trưởng phòng thiết bị hàng không của Bộ Tổng Tham mưu, với cấp đại tá khi 43 tuổi. Nếu cứ theo đảng CS, La Vũ có thể sớm lên cấp tướng và không kém gì tướng Lưu Á Châu,con rể Lý Tiên Niệm, và tướng Lưu Nguyên, con Lưu Thiếu Kỳ.

Tháng 6/1989 khi cuộc thảm sát Thiên An Môn xảy ra, La Vũ cực kỳ bất mãn, xin từ chức . Năm 1990 La Vũ lấy vợ , cô Leung Kwok Hing (Lương Quốc Hưng), một doanh nhân và cũng là một ca sỹ nổi tiếng. Ngay sau đó anh bị khai trừ vì bỏ sinh hoạt đảng.

La Vũ có tư duy độc lập, cho rằng con đường của Đặng Tiểu Bình là sai, phản dân chủ và là ‘’xây dựng chủ nghĩa tư bản quan liêu thối nát rất nguy hiểm’’. Năm 1992 La Vũ cùng vợ lặng lẽ sang Hoa Kỳ, sống tại Harrisburg, Pennsylvania, tập trung viết sách báo và viết hồi Ký. Một nét rất đặc biệt là La Vũ và Tập Cận Bình vốn là hai bạn chí thiết vì hai ông bố La Thụy Khanh và Tập Trọng Huân là hai đồng chí công thần lập quốc đều bị Mao và Lâm Bưu trừng phạt. La Vũ cùng Tập Cận Bình mới lớn lên đều qua cuộc sống bi đát về nông thôn sinh sống tự lập, rất thông cảm với nhau.

La Vũ thường gửi thư cho Tập Cận Bình để góp ý và khuyên răn. Một số lá thư được đưa ra công khai.Gần đây nhất La khuyên Tập nên giả từ quá khứ một cách kiên quyết, quả đoán, giải thể đảng CS lập nên thể chế Dân chủ đa đảng, từ đó có thể hòa bình thống nhất Trung Quốc với Đài Loan, hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

Trong thư ngỏ cuối cùng nhà Dân chủ La Vũ khẩn thiết khuyên Tập Cận Bình nên nghiên cứu chuyện Tưởng Kinh Quốc con Tưởng Giới Thạch khi lên làm Thủ tướng Đài Loan đã chấm dứt chế độ độc đảng của Quốc Dân đảng, dựng nên chế độ dân chủ đa đảng, mở ra thời kỳ phát triển kinh tế thần kỳ, làm gương cho lục địa.

Trung Quốc đang ở ngã ba đường. Tập Cận Bình có đủ sáng suốt và nghị lực để khi cờ đã đến tay dám làm nên chuyện lớn, vì dân vì nước, chuyển hẳn mô hình cai trị và thể chế chính trị vì tương lai hạnh phúc của hơn một tỷ nhân dân Trung Quốc hay không? Chọn con đường nào sẽ còn có ảnh hưởng cực lớn đến đất nước ta, đến toàn khu vực và toàn thế giới.