Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thị Hoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thị Hoài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Phạm Thị Hoài - Vòng ma trận đỏ



Phạm Thị Hoài - Vòng ma trận đỏ






Vong ma tran do.jpg
Vòng ma trận đỏ




Nếu không có câu chuyện ngôn ngữ, suýt nữa tôi đã bỏ sót show diễn “Trịnh-Nguyễn phân tranh”. Một ông Trịnh Xuân Thanh nào đó ném thẻ Đảng – bảo bối vô giá của cuộc đời ông cho đến khi nó thành vô giá trị – vào mặt một ông Nguyễn Phú Trọng nào đó, người cai quản tối cao 4,5 triệu bảo bối như thế. Vụ so găng này được coi là chưa có tiền lệ. Giật gân như vậy thì trước hết nó là một quả bom giải trí trong thời đại sống để giải trí và chết vì giải trí của chúng ta. Từ nhiều năm nay, nguồn giải trí dồi dào nhất cho công chúng Việt Nam là hậu cung của giới quý tộc đỏ. Sau đó, nó hứa hẹn một sức công phá chính trị nhất định. Nhiều người cho rằng nó phơi bày những tử huyệt của hệ thống. Nhiều hơn nữa tin rằng nếu không làm thành lũy Ba Đình rung chuyển thì nó cũng là quân cờ domino đầu tiên kéo theo sinh mệnh chính trị của một số nhân vật ở thượng tầng quyền lực và sắp xếp lại bàn cờ quốc gia. Như thể những hứa hẹn của Quan Làm Báo hay Chân Dung Quyền Lực chưa đủ hão.

Tôi chưa bao giờ mê chuyện đồng chí nào đeo đuổi đi đêm đâm đinh đấu đá đỡ đít đánh đĩ đạp đổ đồng chí nào. Họ nhiều quá và giống nhau quá, mà tính tôi thì chóng chán. Nếu họ lại đi xe Lexus nữa thì không còn gì chán hơn. Vì sao tôi phải chú ý đến ông Thanh-gì-nhỉ?

Vì chuyện biển xanh biển trắng ư? Đủ lấy được ở tôi một cái ngáp ngắn. Tất nhiên là nó tởm lợm và lời biện bạch của đương sự thì đáng buồn nôn ở cả hai khía cạnh: ngu dốt và trơ trẽn, song trong môi trường mà ông ta chỉ là một sản phẩm tất yếu, nơi đen trắng đổi kiếp xoành xoạch và hợp pháp thì trắng thành xanh rồi xanh lại thành trong trắng chẳng qua là áp dụng linh động sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”.

Vì chuyện 3000 tỉ ở PVC ư? Hai cái ngáp ngắn: thua lỗ, thất thoát, sai phạm là tên cúng cơm của khối doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn xã hội đen tư bản đỏ. Hơn bốn năm trước, báo chí Việt Nam rộ lên vài ngày tin 18.000 tỉ sai phạm tài chính ở PVN, công ty mẹ của PVC, dưới thời ông Đinh La Thăng. Ừ, thì sao?

Vì chuyện trốn thoát ra nước ngoài ư? Ngáp dài. Chuyện anh em nhà họ Dương hay hơn hẳn. Tôi thường ghé trang của Interpol thăm người Việt. Từ nhiều năm nay, chưa bao giờ Việt Nam không chiếm trọn suất cao nhất được hiển thị, thường xuyên là 160 nhân vật bị truy nã đỏ, cùng đẳng cấp với những quốc gia khổng lồ như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ, Brazil, vài nước Đông Âu như Bạch Nga, Rumani, Ukraine và vài nước Nam Mỹ như Argentina, Honduras. Để so sánh: hiện Nhật truy nã 2, Thái Lan 0, Đài Loan 0, Lào 0, Campuchia 42, Đức 6, Nam Phi 53, Úc 3. Đào tẩu là chương trình cài sẵn trong cuộc đời của quan chức và đại gia Việt Nam ở thời tranh chấp giữa “mọi thứ đều được phép vì chẳng có gì là đúng” và “chẳng có gì được phép vì mọi thứ đều sai”. Lính cũ của ông Thanh, một cựu giám đốc cũng họ Trịnh, đã tháo chạy sang quốc gia cựu thù. Hơn 4 năm nay, nhân vật bị cáo buộc là từng chỉ đạo rút tiền công chi nửa tỉ mừng sinh nhật bố sếp Thanh này vẫn an toàn. Trên trang của Interpol, tên Trịnh Văn Thảo không và chưa bao giờ xuất hiện ở tất cả các thời điểm khác nhau từ giữa năm 2012 mà tôi ghé thăm.

Vì chuyện công khai tố cáo vì bị oan sai gì đó ư? Hai cái ngáp dài. Dương Chí Dũng cũng kêu oan, cũng gửi đơn tố cáo. Đại án Nguyễn Đức Kiên: kêu oan. Đại án Huyền Như: kêu oan. Đại án Vifon: kêu oan. Đại án ALCII: kêu oan. Đại án VDB Đắk Nông: kêu oan. Đại án Agribank CN 6: kêu oan. Gần đây nhất, đại án Phạm Công Danh: kêu oan. Và “bố sếp Thanh”, qua ngòi bút biết bày tỏ cảm thông pha chút ái ngại với giới quyền lực của nhà báo kỳ cựu Xuân Ba, dường như cũng bắt đầu ngỏ lời kêu oan cho vụ nửa tỉ mừng sinh nhật vừa nhắc. Tiếng oan dậy đất Việt, chỉ có điều chúng ta không còn hoảng hốt ngẩn ngơ. Hệ thống ấy đẻ ra nền tư pháp ấy, và những quan oan ấy đều đã thủ lợi không tài nào tả xiết từ chính hệ thống ấy. Bồi dưỡng ông Trịnh-quan-oan thành hạt giống chống hệ thống, theo tôi, là chuyện nhảm nhí. Kẻ cắp cũng có quyền đòi công lý, song không thể là cái công lý mà kẻ cướp đang nhân danh. Ông Thanh vẫn lẫn lộn giữa pháp trị và đảng trị.

Vì chuyện bổ nhiệm ư? Bây giờ thì tôi ngáp sái quai hàm. Vẫn quá nhạt so với Dương Chí Dũng hay thậm chí với Nguyễn Xuân Sơn, người thì chờ thi hành án tử, người thì triển vọng một án tù 30 năm đang đợi, cả hai đều được bổ nhiệm “đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục“, “đúng quy trình, quy định của pháp luật“, “chặt chẽ, công khai minh bạch, dân chủ“. Hay tốt nhất, hãy nhìn vào vòng chuyển động của ngôi sao Đinh La Thăng trên bầu trời chính trị Việt Nam: mỗi lần để lại một vùng đen, nó chỉ thêm phần sáng.

Song nhờ chuyện bổ nhiệm này tôi mới biết một chi tiết tuy nhỏ nhưng thú vị về ngôn ngữ. Bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết “ông Thanh không nằm trong danh sách cán bộ luân chuyển“, còn đường từ Bộ Công Thương đến Hậu Giang của ông Thanh được lót bằng quyết định thuyên chuyển công tác. Luân chuyểnthuyên chuyển khác nhau thế nào?

Phần lớn người Việt hiểu thuyên chuyển như chuyển, được dùng chủ yếu trong kết hợp thuyên chuyển công tác, cùng nghĩa với thuyên chuyển cán bộ từ công tác hay địa điểm A sang công tác hay địa điểm B. Thuyên chuyển không phải là một sự bổ nhiệm mang tính tuyển chọn tích cực. Nó chỉ mang tính trung lập hoặc thậm chí tiêu cực, người ta bị thuyên chuyển ngoài ý muốn. Song nếu được học (hay phải học?) chữ Hán – tức Hán tự cổ chứ không phải tiếng Trung hiện đại -, chúng ta sẽ khá bối rối: nghĩa của chữ thuyên (銓) trong thuyên chuyển (銓 轉) là tuyển chọn kẻ hiền bổ vào làm quan. Trong ngôn ngữ của bộ máy hành chính-chính trị hiện nay, thuyên chuyển đã đánh mất vai trò “chọn mặt gửi vàng” này, nhường nó cho một khái niệm khác đảm nhiệm: luân chuyển.

Luật Cán bộ, Công chức (2008), chương 1, điều 7, mục 11, định nghĩa: “Luân chuyển là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.” Với Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị năm 2002, luân chuyển cán bộ trở thành “một trong những kênh quan trọng để tạo nguồn cho cán bộ cấp chiến lược”. Nói cách khác, luân chuyển đi liền với quy hoạch, cơ cấu nhân sự lãnh đạo. Đến đây, sự khác biệt tinh tế giữa việc ông Thanh chỉ được thuyên chuyển chứ không được luân chuyển về Hậu Giang đã từ từ hiện ra trong mắt thịt của chúng ta, ông đã nằm ngoài quy hoạch, dù chúng ta vẫn không biết trước đó, từ PVC sang Bộ Công Thương ông đã được cơ cấu hay hư cấu (viết riêng cho các tín đồ thanh giáo Hán tự: chữ ở đây là một kết hợp 51% Việt và 49% Hán).

Chữ luân (輪) trong luân chuyển (輪轉) là cái bánh xe, cái vòng tròn. Chính sách vòng tròn của Đảng sau 14 năm thực hiện đã cống hiến cho tiếng Việt một từ thú vị: chạy luân chuyển (chạy là một trong những động từ đặc trưng nhất cho sự tồn tại của người Việt) và tạo ra một ma trận chằng chịt những bài binh bố trận mù mịt, những mưu toan tiến thoái, những nhập nhằng đổi chác, những bước đệm và những cú chui háng, những cam kết trước khi trời sáng và những vụ thanh trừng nửa đêm, những chiếc ghế cần sang tên,  những sự nghiệp cần tráng men và trước hết: những vết nhơ cần xóa, những bê bối cần hóa giải. Trong ngân hàng nhân sự của Đảng, các đồng chí nợ xấu sau vài vòng luân chuyển lại sạch sẽ như người cộng sản vừa bước ra từ giáo trình Mác-Lê. Hệ thống tự xây cho mình cung mê, để rốt cuộc không tìm ra cửa thoát. Luân chuyển thành luân vong, lại một chữ luân () định mệnh.

Ông Trịnh-gì-nhỉ có thể lấy cảm hứng hậu duệ, rủ tất cả các quan Trịnh đang trốn nã ở nước ngoài (Đàng Ngoài) lập chính phủ lưu vong chống các quan Nguyễn đang ngồi lên pháp luật ở trong nước (Đàng Trong). Song cá nhân tôi tin rằng show Trịnh-Nguyễn đang diễn này chỉ đủ bi hài nhí nhố cho một vụ chém gió (chém cũng là một động từ đặc trưng) không đáng một ghi chú của lịch sử. Lịch sử đã dành một chương lớn cho nhà Tây Sơn, những lãnh tụ của dân, đứng ra dẹp cả Nguyễn lẫn Trịnh.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Thạch Đạt Lang - Phản biện bài viết Nghề Ăn Cắp Của Người Việt tại Đức của Phạm Thị Hoài



Thạch Đạt Lang - Phản biện bài viết Nghề Ăn Cắp Của Người Việt tại Đức của Phạm Thị Hoài




Con ơi giữ lấy nghề cha
Một ngày chôm, chỉa bằng ba năm làm!





Nước Đức có 2 cộng đồng? (Ảnh em bé cầm 2 cờ trong cuộc biểu tình chống TQ ở Frankfurt hôm 5/6/2011
Nước Đức có 2 cộng đồng? (Ảnh em bé cầm 2 cờ trong cuộc biểu tình chống TQ ở Frankfurt hôm 5/6/2011




Sau hơn 2 tháng đi chu du các cõi ta bà thế giới, từ Frankfurt qua San José, Orange County (California), đến Houston (Texas) rồi Calgary, Canada, tôi trở về Đức.

Hai tháng hơn không có đồng hồ báo thức, ăn ngủ kỹ, không màng đến thời sự thế giới lẫn Việt Nam, chỉ tận hưởng những niềm vui, cảnh đẹp, thức ăn ngon, lạ…nhất là ở Calgary, thăm viện bảo tàng Dinosaur, lễ hội Cowboys độc nhất còn lại của Canada với những bữa ăn sáng, trưa chùa ( không phải trả tiền ) thật ngon.

Trở về Đức, vào đọc Đàn Chim Việt infos, gặp ngay bài của Phạm Thị Hoài viết về tật ăn cắp vặt của người Việt Nam tại Đức, tôi khá ngỡ ngàng.

Tôi không ngỡ ngàng về chuyện ăn cắp vặt của người Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới, nhưng tựa bài khiến tôi ngạc nhiên, bởi nó ngụ ý chua chát, mỉa mai, đồng thời có nhiều điểm có thể gây hiểu lầm, phẫn nộ cho nhiều người, nhất là những người Việt Nam tị nạn cộng sản ra đi từ miến Nam sau năm 1975.

Do đó, tôi đã viết ngay một ý kiến phản biện bài viết, nhưng rồi cảm thấy chưa nói đủ, đành phải viết thêm bài phảm biện này cho độc giả được rõ ràng hơn về cộng đồng người Việt Nam tại Đức.

Điểm sai lầm quan trọng trong bài của Phạm Thị Hoài là không nói rõ người Việt Nam tại Đức có 2 cộng đồng, phân biệt rõ rệt như các tác giả Đỗ Trường và Người Buôn Gió ( Bùi Thanh Hiếu ) đã viết trong các bài tôi được đọc trước đây trên ĐCV.

Hai cộng đồng này không hề có liên lạc, sinh hoạt hay dính dáng gì đến nhau và cũng gần như phân chia ranh giới rõ ràng. Cộng đồng mà Phạm Thị Hoài nói đến chủ yếu nằm ở Đông Berlin, miền đất thuộc cộng sản Đông Đức trước đây. Cộng Đồng của người Việt tị nạn CS nằm bên phần đất phía tây của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Cộng đồng thứ nhất, có tên Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản, thành lập vào những năm đầu của thập niên 80. Trước tháng 4/1975 chỉ có khoảng 200 sinh viên Việt Nam du học từ miền Nam tại Tây Đức cũ ( BRD=Bundes Republik Deutschland=Cộng Hòa Liên Bang Đức ). Do số lượng ít ỏi nên chưa hình thành được một cộng đồng VN.

Đến đầu thập niên 80 số lượng người Việt Nam ở Tây Đức tăng lên do chính phủ Đức nhận theo quota của chương trình ODP, cộng với số thuyền nhân do các thương thuyền của Đức cùng với gần 10.000 người do tàu Cap Anamur của Tiến sĩ Rupert Neudeck vớt ở biển Đông, cộng đồng này gồm hầu hết những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, ngoại trừ số người Hoa trên tầu Hải Hồng và một số ít người Bắc ra đi từ Hải Phòng được thương thuyền Đức vớt.

Tổng cộng đến cuối năm 1986, cộng đồng Người Việt Tị Nạn CS (viết tắt CĐNVTNCSVN ) có khoảng 40.000 người, phân tán, rải rác trong nhiều tiểu bang, thành phố chứ không túm tụm lại thành một nhóm hay khu phố.

Do có chính sách giúp đỡ, tái định cư rõ rệt, tất cả những người Việt Nam đến Đức theo chương trình ODP hoặc được tàu Đức vớt, đều được chính phủ Đức, các hội thiện như Caritas, Hồng Thập Tự…giúp đỡ trong chuyện học hành, đào tạo nghề nghiệp, tìm kiếm nhà cửa, việc làm, trường học…

Do đó, hầu hết đã nhanh chóng ổn định đời sống, dễ dàng hội nhập vào đời sống mới, hoàn toàn không có việc trộm cắp, buôn bán ma túy, thuốc là, cướp của giết người hay thanh toán nhau để tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn.

Cộng Đồng NVTNCSVN trong thời gian đó đã có rất nhiều sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị…giới thiệu với người dân Tây Đức về đất nước Việt Nam như tổ chức Tết Việt Nam, giỗ tổ Hùng Vương, biểu tình chống chế độ cộng sản ngày 30/04 tại Bonn ( thủ đô của Tấy Đức cũ )… tạo được nhiều thiện cảm, ấn tượng đẹp đẽ với người dân Tây Đức.

Cộng đồng NVTNCS này hầu như không có liên hệ gì với những sinh hoạt của tòa đại sứ CSVN, ngoại trừ một thiểu số rất ít, dính dáng chuyện giấy tờ hộ tịch, hôn thú, visa…

Xin nói về cộng đồng thứ hai, cộng đồng mà Phạm Thị Hoài đề cập trong bài.

Trước tháng 09 năm 1989 có khoảng 60.000 Việt Nam sống, du học và làm việc theo dạng khách thợ (Guest Worker) ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ (DDR=Deutsche Demokratie Republik), đa số sống ở phía đông Berlin và các thàn phố Leipzig, Dresden, Cottbus…Khi bức tường Berlin sụp đổ, một làn sóng người dân Đông Đức tràn qua Tây Đức trong số có nhiều người VN nói trên.

Ngày 3.10.1990 nước Đức thống nhất, cái tên DDR hoàn toàn bị xóa xổ, 60.000 người VN đột nhiên trở thành một gánh nặng cho chính quyền Đức, họ sống chùm đụp vào nhau, làm đủ mọi nghề nghiệp để sinh tồn vì không còn nhà máy, không cò chỗ làm, không nơi cấp dưỡng…

Trong lúc giao thời, một số lớn bung ra tham gia vào sinh hoạt buôn lậu thuốc lá, thành lập băng đảng tội phạm đưa người nhập cảnh lậu từ biên giới Ba Lan vào Đức.

Sau khi kế hoạch giao trả 60.000 người khách thợ lại cho cộng sản VN bất thành vì sự gian trá, bội tín của chế độ CSVN, dù đã ký kết hiệp ước và chi trả 100.000.000 Đức Mã ( Deutsche Mark khi chưa có đồng Euro ), chính phủ Đức quyết định tái định cư 60.000 người này dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại vì gánh nặng tài chính cho việc thống nhất, trong đó chỉ riêng việc tái định cư cho đám hồng quân Liên Xô đóng trên Đông Đức cũ cũa đã tốn 150 tỉ Euro ( 150.000.000.000 ), chưa kể việc xây dựng lại hệ thống Infastructure trên phần đất mà chế độ CS Đức cai trị mấy chục năm dài đã bị xuống cấp thê thảm.

Cộng đồng VN thứ hai này được thành lập với con số 60.000 người, nay phát triển lên với khoảng 85.000 người. Do không có chính sách trợ giúp rõ ràng nên hầu hết những người khách thợ này phải mưu sinh bằng mọi cách, đủ mọi ngành nghề từ hợp pháp đến bất hợp pháp, từ mở nhà hàng, tiệm may, sửa, buôn bán quần áo jeans dỏm đến làm nail, buôn thuốc lá lậu…

Với chính sách cấp Duldung ( tạm dung ) và cho phép cư trú có thời hạn ( Begrenzte Aufenthaltsgenehmigung ) nếu chứng minh được đang có thu nhập hoặc nghề nghiệp tự sinh sống, những người Việt Nam nói trên được phép ở lại nước Đức. Theo thời gian, dần dần hầu hết trở nên hợp pháp, được nhập quốc tịch, bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang đoàn tụ …

Đa số sống lương thiện nhưng cũng không ít những kẻ chỉ mong làm giầu nhanh chóng, bất chính, một số trong họ thành lập băng đảng, cấu kết với tòa đại sứ CSVN ở Berlin, tổ chức đưa người nhập cảnh lậu qua Đức, Thụy Sĩ…bằng nhiều cách.

Việc thanh toán nhau đẫm máu giữa các băng đảng Quảng Bình, Nghệ An…tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn đã một thời làm ồn ào xã hội Đức ở Đông Berlin.

Bà Phạm Thị Hoài khi viết bài đã không nói rõ nước Đức hai cộng đồng, có thể chi do vô tình nhựng chắc chắn gây ngộ nhận về toàn thể người Việt đang sinh sống tại Đức.

Bài viết của Phạm Thị Hoài cũng không nói rõ nguyên nhân gây ra bệnh ăn cắp của người Việt ở Đức trong cộng đồng mà bà đề cập tới, mà cũng không riêng gì ở Đức, báo chí hàng ngày đăng rôm rả việc tiếp viên hàng không VN bị bắt vì ăn trộm hàng hóa trong siêu thị ở Nhật, Úc…, nguyên nhân chính là do chế độ cộng sản Việt Nam khốn nạn, gian manh, xảo quyệt, tàn ác, hèn nhát…mà Nguyễn Thiện Nhân là một trong những tên lãnh đạo đã gây ra.

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Phạm Thị Hoài - Lý Quang Diệu gửi Margaret Thatcher về vấn đề thuyền nhân Việt Nam


Phạm Thị Hoài - Lý Quang Diệu gửi Margaret Thatcher về vấn đề thuyền nhân Việt Nam








Trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, chương “Nạn kiều”, nhà báo Huy Đức nhắc tới “Phương án II”, “một kế hoạch ‘được phổ biến miệng để giữ bí mật’, theo đó: người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản.”[1] Đó là thời điểm từ giữa năm 1978 đến giữa năm 1979, khi chiến dịch bài Hoa ở Việt Nam dâng cao và chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ. Những người vừa mất nơi sinh sống, vừa mất hết tiền của vào tay chính quyền để ra đi “hợp pháp” trong vòng bí mật và không ít cũng sẽ mất mạng trên biển trong kế hoạch này phần lớn là người Việt gốc Hoa.





Phương án bí mật, chưa bao giờ được chính quyền Việt Nam thừa nhận này, được đánh giá từ một nguồn bất ngờ khác: bức thư của cố Thủ tướng Singapore vừa qua đời, gửi cho cố Thủ tướng Anh ngày 5/6/1979, đăng trên trang Margaret Thatcher Foundation.

Chúng ta đã biết rằng Lý Quang Diệu ủng hộ sự xích lại gần nhau của Trung Quốc và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam để kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô. Ông cũng biện bạch cho Pol Pot, rằng Khmer Đỏ là một phương án cần thiết, chẳng qua chỉ bị giới truyền thông cường điệu lên thành ma quỷ[2].Về xung đột biên giới Việt-Trung, ông cho rằng nếu Trung Quốc không dạy cho Việt Nam một bài học thì giờ này Liên Xô đã bành trướng thế lực ra toàn Đông Nam Á, rằng các nước trong khu vực đều hưởng lợi từ đòn phủ đầu của người Tàu. Khi ấy, Đặng Tiểu Bình đã coi ông là cố vấn và mô hình Singapore đã trở thành hình mẫu của Trung Hoa hiện đại. Họ Lý và họ Đặng gặp nhau hai lần, trò chuyện kéo dài, nồng ấm và trân trọng lẫn nhau, ngày 12 và 13/11/1978, trong chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Singapore. Trước đó một tháng, nhanh chân hơn, ngày 16/10/1978, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng đến Singapore tiếp kiến Lý Quang Diệu. Nhưng cuộc trò chuyện giữa họ Lý và họ Phạm, theo miêu tả của một nhà ngoại giao Singapore chứng kiến cả ba cuộc gặp mặt[3], diễn ra lạnh lẽo.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Phạm Thị Hoài - Tên “Bác” trên môi




Phạm Thị Hoài - Tên “Bác” trên môi





“Lời cảm ơn tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và các ban ngành” của ông Đoàn Văn Vươn cuối phiên tòa xử vụ Tiên Lãng, theo thông tin từ báo chí chính thống, làm nhiều người trong chúng ta tê tái. Nó khiến tôi nhớ đến miêu tả đắng ngắt của ông Hoàng Văn Chí [i] về thời Cải cách Ruộng đất mà ông trực tiếp chứng kiến ở Khu Bốn: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời ấy, ông Hồ Chí Minh, đã không hề kí lệnh ân xá nào cho những người bị kết án tử hình oan [ii], nhưng trước khi bị bắn những đảng viên trung kiên vẫn hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm!”.


Gần hơn, tôi cũng nhớ đến những tờ đơn của người Việt vượt biên sang Đức gửi chính quyền nước này: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đơn xin tị nạn tại Cộng hòa Liên bang Đức… Chỉ thiếu điều họ nhẩm tên “Bác” trên môi để cầu được hưởng quy chế tị nạn chính trị.


Ông Vươn không thấy mình là nạn nhân của hệ thống, ông chỉ tuyên chiến với những sai phạm cục bộ ở địa phương. Song không chỉ mình ông đinh ninh như thế. Hơn một năm trước, khi loan tin “vỡ òa niềm vui” sau kết luận của Thủ tướng, truyền thông nhà nước đã đưa Tiên Lãng thành chiến dịch đặt niềm tin vào sự đúng đắn tuyệt đối, vào infallibilitas của trung ương, của hệ thống. Mỗi nắm đấm giơ về phía Hải Phòng đều kèm theo hai bàn tay hoan hô về phía Hà Nội.

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

PHẠM THỊ HOÀI - Lại nói về nỗi sợ hãi





Lại nói về nỗi sợ hãi










Phạm Thị Hoài (procontra.asia) - Chế độ này, dù yếu hay mạnh, được đặt nền móng và bảo vệ trước hết bằng sự khiếp nhược của người dân. Chừng nào còn vững tin vào hiệu quả của sự khiếp nhược này, chính quyền còn cho phép mình ngang nhiên và tùy tiện hành xử bất chấp tất cả chứ không riêng gì bất chấp lí lẽ của một người bất đồng chính kiến hay bất chấp bi kịch của mấy trăm gia đình nông dân. Chừng nào nhận thấy sự khiếp nhược này bắt đầu có dấu hiệu sứt mẻ, việc đầu tiên và đương nhiên mà chính quyền tiến hành là củng cố và gia tăng sự khiếp nhược đó. Không phải nỗi sợ của chính quyền, mà sự khiếp nhược của người dân mới là điều đáng bàn đến...

*

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

PHẠM THỊ HOÀI - CHỌN ĐƯỜNG






Chọn đường

Tháng 6 20, 2012

Phạm Thị Hoài



Là một trong những người được mời tham gia đồng sáng lập Phong trào Con đường Việt Nam, trước hết tôi xin cảm ơn sự tin cậy của nhóm khởi xướng. Tôi tin rằng những nỗ lực riêng của các cá nhân đã góp phần vào sự trưởng thành và tiến bộ của xã hội Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, song những chuyển biến nền tảng, đặc biệt là chuyển biến về mô hình chính trị, để giải quyết những vấn nạn lớn của xã hội này cần sự hình thành và phát triển của những tổ chức, đảng phái và phong trào vận động xã hội. Tôi luôn vui mừng trước những tín hiệu về sự xuất hiện của những phong trào như thế và đương nhiên cũng đầy lo âu vì hiểu rõ rằng đối tượng được ưu tiên đàn áp trong một nhà nước toàn trị không phải là các anh hùng cá nhân, mà là những mầm mống của tổ chức. Vì vậy, tôi dành rất nhiều thiện cảm cho sự kiện Phong trào Con đường Việt Nam ra đời và đánh giá cao tính công khai của nó, phẩm chất cần thiết cho một phong trào chính danh và theo tôi là phù hợp với đặc điểm của thời đại chúng ta đang sống. Tôi cũng ngưỡng mộ sự sắc sảo và phong cách ôn hòa trong những bài viết của ông Lê Công Định, người được công luận biết đến nhiều nhất trong nhóm khởi xướng, và kính trọng sự dấn thân của cả ba thành viên nhóm khởi xướng, những người đã đánh đổi vị trí xã hội thành đạt của mình lấy tổng cộng gần 25 năm tù chưa kể thời gian quản chế, trong khi tuyệt đại đa số chúng ta, kể cả những người đang sống ở các xứ tự do như tôi, không sẵn sàng trả một cái giá thấp hơn thế rất nhiều nhưng có thừa lí do chính đáng để biện minh.


Với tất cả cảm tình và sự trân trọng, tôi xin phép nêu ra đây những băn khoăn của mình về phong trào Con đường Việt Nam và mong rằng sự thẳng thắn này được ghi nhận như dấu hiệu đáp lại sự tin cậy nói trên.