Hiển thị các bài đăng có nhãn chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Tù chết và bị thương được đền tiền



Tù chết và bị thương được đền tiền




Nhân các vụ tử vong hoặc bị bạo hành trong tù tại Việt Nam tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận, BBC Tiếng Việt giới thiệu ví dụ một số quốc gia có cơ chế bồi thường:









Hoa Kỳ

Trong tháng 5/2015, một người ở Ohio bị tù gần 40 năm vì tội giết người mà ông không hề gây ra đã được toà án Mỹ công nhận trắng án và bồi thường 2 triệu đô la.


Ông Ricky Jackson, 59 tuổi cùng hai người bạn bị xử năm 1975 vì tội giết một doanh nhân.


Theo trang Cleveland.com, không chỉ nhận 2 triệu đô la từ tiểu bang Ohio, ông Jackson còn nhận "khoản tiền lương" không công bố để bù lại 39 năm không đi làm.


Tuy thế, theo trang CBSNews thì không phải tiểu bang nào của Mỹ cũng có luật công nhận bồi thường cho phạm nhân bị xử oan sai ngay lập tức.

Cả nước Mỹ chỉ 29 công nhận quyền đó còn 21 bang còn lại không ghi quyền này trong luật.


Tuy vậy, trong mọi trường hợp, người dân đều có thể thuê luật sư kiện nhà tù hoặc chính quyền tiểu bang để đòi bồi thường.


Ông Marty Tankleff, bị xử năm 1988 và đã ngồi tù 17 năm sau khi bản án bị coi là có yếu tố sai trái.


Ông đã thắng kiện tiểu bang New York nhận 3,4 triệu đô la tiền bồi thường.
Anh Quốc


Năm 2012, chính phủ Anh phải đền cả thẩy 13 triệu bảng Anh cho gần 4000 trường hợp bị thương tật, bị ngã, bị chết trong nhà tù.


Người bị giam quá hạn vì nhà tù không làm kịp giấy tờ thả họ đúng ngày cũng được bồi thường, theo báo Anh, tờ The Mirror hồi 2013.


Tính trung bình cứ mỗi tuần có 70 trường hợp tù nhân nhận chừng 3000 bảng Anh khi bị ngã, bị thương lúc chơi thể thao trong tù.








Trên thực tế, tiền bồi thường cho mỗi vụ là 15.000 bảng nhưng sau khi trừ tiền phí luật sư, tù nhân nhận khoảng 3620 bảng mỗi người.


Với con số trên 3700 vụ việc, nhà nước Anh phải trả 8,5 triệu bảng bồi thường.


Trong 47 trường hợp tù nhân bị chết khi trong trại giam, gia đình họ nhận trung bình 35 nghìn bảng cho một trường hợp.


Các vụ bồi thường xảy ra không chỉ với thường phạm.


Trong tháng 10 năm nay, tướng Serbia, ông Radislav Krstić được bồi thường 50 nghìn bảng Anh vì bị một số tù nhân Hồi giáo tấn công khi đang thi hành án ở nhà tù Wakefield tại Anh.


Những kẻ tấn công đã dùng dao lam cứa cổ ông Krstic nhưng ông không chết.


Họ muốn trả thù cho đồng đạo Hồi giáo vì ông Krstić bị tòa án quốc tế ở The Hague, Hà Lan xử 35 năm tù năm 2001 vì tội diệt chủng với người Hồi giáo ở Nam Tư cũ.


Theo luật Anh, khi bị giam giữ, tù nhân được đảm bảo an toàn thân thể và chạy chữa y tế đúng hạn, đúng tiêu chuẩn.


Nếu bị bạn tù hay cai ngục hành hạ, tấn công, tiền bồi thường còn cao hơn khi họ bị ngã, bị tai nạn.


Trong bảng ghi các vụ bồi thường ở nhà tù Anh Quốc 2004-2008 (đường dẫn tại đây) có thể thấy một trường hợp bị bạn tù tấn công tại Liverpool, khiến nạn nhân được bồi thường 30 nghìn bảng Anh.



Ba Lan




Tòa án công lý châu Âu - hình minh họa




Có khi một quốc gia bị tòa án quốc tế bắt bồi thường cho công dân của họ.
Năm 2013, Cộng hòa Ba Lan bị Tòa án Nhân quyền châu Âu bắt trả 3700 euro cho công dân Henryk Wereda bị xử tù năm 2007.


Lý do là ông Wereda đã bị giam quá hạn đúng ba ngày bởi giấy báo thả ông khi tòa ra lệnh đổi án tù thành 'quản chế' đến chậm ba hôm.


Tính ra mỗi ngày bị tù quá hạn ông được bồi thường 1233 euro.


Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Trần Trung Đạo - Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”



Trần Trung Đạo - Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”










Trần Trung Đạo (Danlambao) - Trong thời gian qua, hầu hết bài viết dù phê bình việc dựng tượng đài Hồ Chí Minh ở Sơn La đều nhấn mạnh đến những yếu tố như tốn kém tiền bạc, nuôi sống tham nhũng, làm cho dân tình thêm đói khổ v.v... Những phê bình đó không sai nhưng chỉ là những tác hại về vật chất, các tác hại tinh thần do những tượng đài CS gây ra còn sâu xa và nguy hiểm hơn nhiều.




Tượng đài CS một vấn nạn của các nước cựu CS







Khi người dân giành lại được quyền tự do, tượng đài cũng là nơi họ trút hết những hờn căm, phẫn uất đã bị dồn nén, chịu đựng bao nhiêu năm. Để bày tỏ thái độ dứt khoát với quá khứ, phản ứng cụ thể nhất của phong trào dân chủ cũng là giật sập tượng đài. Chỉ trong tháng 11, 1990, tại Ukraine và các quốc gia vùng Baltic, 70 tượng đài Lenin bị giật đổ. Để ngăn chận làn sóng giật sập tượng Lenin, tháng 10, 1990 Mikhail Gorbachev, lúc đó còn là Tổng Bí Thư CS Liên Xô, ra sắc lịnh ngăn cấm việc phá hủy tượng Lenin. Nhưng đã quá trễ, phong trào giật đổ tượng đài các lãnh đạo CS đã lan rộng không chỉ các quốc gia Trung Á thuộc Liên Xô mà ngay cả tại quê hương Nga của y.


Từ cuối năm 1989, hàng ngàn tượng đài các lãnh đạo CS tại 15 nước thuộc Liên Xô cũ, các quốc gia Đông Âu, Mông Cổ, Ghana, Ethiopia, Afghanistan đã bị giật sập, đập phá hay hủy hoại. Tuy nhiên, số lượng tượng đài các lãnh tụ CS cũng còn lại khá nhiều bởi vì kéo đổ hết là một việc khó khăn, đơn giản vì chúng quá nhiều, quá tốn kém và trong nhiều trường hợp dân chúng chẳng còn quan tâm đến những khối xi măng vô tri không làm ai sợ hãi nữa.


Hành động kéo đổ tượng Lenin tại thành phố Kharkiv, Ukraine vào tháng Chín năm ngoái, do đó, không phải là mới lạ. Tượng đài Lenin ở Kharkiv cũng không phải là tượng đầu tiên mà là tượng thứ 390 bị kéo xuống chỉ trong vòng 2 năm 2013 và 2014. Trước đây, Ukraine đã từng là một trong vài nước đầu tiên phá đổ tượng đài Lenin vào đầu thập niên 1990. Việc kéo đổ tượng Lenin ở Ukranie lần này chỉ là cách để chứng tỏ là thái độ dứt khoát đối với Nga.


Số lượng tượng đài Lenin tại Nga còn lại nhiều nhưng không có nghĩa người dân Nga xem Lenin như là biểu tượng của ngước Nga. Dân chúng Nga yêu dân chủ kết án Lenin như một tội đồ dân tộc vì đã (1) xây dựng một chính quyền khủng bố có hệ thống để cai trị Nga suốt 74 năm; (2) tàn phá Đế Quốc Nga và giết sạch gia đình hoàng gia Tsar Hoàng; (3) ký hiệp ước bán nước Brest-Litovsk sang nhượng đất đai của Nga cho Đức và các cường quốc Trung Âu; (4) gây ra cuộc nội chiến Nga sau khi cướp chính quyền 1917 dẫn đến cái chết của 15 triệu dân Nga vô tội; (5) tịch thu tài sản dân chúng, tàn phá nhà thờ, tu viện; (6) ký hàng loạt mật lịnh ám sát nhiều trăm ngàn người dân vô tội, nông dân có đất dai, tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa Giáo.




Nguồn gốc của chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”




Gần như quốc gia nào cũng có xây một số tượng đài để tưởng niệm các danh nhân, các anh hùng dân tộc của quốc gia họ như George Washington, Abraham Lincoln của Mỹ, Simon Bolivar, Manuel Carlos Piar của Venezuela, Trần Hưng Đạo, Quang Trung của Việt Nam v.v... nhưng chỉ có dưới các chế độ CS, tượng đài các lãnh đạo CS được sử dụng như một phương tiện tuyên truyền gây tác hại vô cùng độc hại, nhất là đối với các thế hệ trẻ.


Sắc lịnh “Tuyên truyền Tượng đài” do Lenin đề xướng có một tên khá dài “Về việc dời các Tượng đài được Dựng lên để Vinh danh Tsars Hoàng và Quan chức và việc Phát triển Đề án Tượng đài Tưởng nhớ đến Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Nga” (On Removing Monuments Erected in Honor of Tsars and Their Servants and Developing a Project for Monuments Dedicated to the Russian Socialist Revolution) được công bố ngày 12 tháng Tư, 1918.









Chỉ trong vòng một tháng, các tượng đài vua chúa Nga bị kéo sập hay bị dời đi. Thời đó Lenin còn sống nên tượng đài được dựng lên đầu tiên là tượng đài Karl Marx do điêu khắc gia E. V. Revde đúc và đặt tại Penza. Hội đồng Ủy Viên Nhân Dân ngày 30 tháng Bảy, 1918 chấp thuận một danh sách đảng viên CS gồm 69 tên được xây tượng đài tưởng niệm. Lễ khai mạc mỗi tượng đài được tổ chức trọng thể. Sau khi Lenin chết, bộ máy tuyên truyền đảng CS tập trung vào việc biến Lenin thành bất tử qua việc đúc hàng ngàn tượng Lenin đủ kiểu và đặt tại khắp nơi.


Để gia tăng sản xuất tường đài Nhà Máy Điêu Khắc Tượng Đài được chính thức khai mạc tại Leningrad năm 1922 để đúc tượng các “anh hùng lao động”, “anh hùng Sô Viết”, các lãnh đạo CS. Có nhiều năm nhà máy sản xuất đến 5000 tượng đài CS. Trả lời phỏng vấn của báo Christian Science Monitor tháng 11, 1990, điêu khắc gia Albert Charkin, tác giả của nhiều mẫu tượng Lenin cho biết những hình ảnh Lenin đơn giản, khiêm cung, thân mật, gần gũi chỉ là những hình ảnh giả tạo.


Người đời nguyền rủa Stalin nhiều hơn Lenin nhưng quên rằng tất cả tội ác của Stalin đều phát sinh từ nền móng của cơ chế toàn trị do Lenin dựng lên, trong đó có cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp do hung thần Felix Dzerzhinsky lãnh đạo. Chỉ trong vòng một tháng từ tháng Chín đến tháng Mười, 1918, ước lượng đã có 10 ngàn đến 15 ngàn người bị cơ quan Cheka thủ tiêu. Danh từ “Khủng bố Đỏ” xuất hiện trong giai đoạn này.




Tượng đài các lãnh đạo CS tại 5 nước CS







Tại Bắc Hàn, toàn quốc có khoảng 34.000 tượng đài Kim Nhật Thành. Một tượng đài cho mỗi 3.5 kilomet và cứ 750 người dân có một tượng đài họ Kim. Không giống như một số tượng Lenin làm bằng đá, tượng cha con họ Kim đúc bằng đồng rất tốn kém. Tháng Bảy vừa qua, hai bức tượng đồng của cha con họ Kim được khánh thành một cách trọng thể tại tỉnh Pyongan. Để củng cố đặc điểm kế nghiệp, Kim Jong Un sẽ lần lượt cho thay thế tượng ông nội y đứng một mình bằng tượng của ông nội và cha y đứng cạnh nhau.


Tại Trung Cộng, theo BBC, nhiếp ảnh gia Cheng Wenjun đã đi khắp Trung Hoa lục địa để chụp hình các tượng đài Mao Trạch Đông và ông ta ghi nhận khoảng 2000 tượng đài. Điều đáng lưu ý, một phần ba số tượng đài nằm trong khu vực các trường đại học. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh nhật của Mao, lãnh đạo Trung Cộng cho đúc một tượng Mao ngồi gác chân trên ghế bằng vàng và cẩm thạch, cao chỉ 80 cm, nặng 50 kilograms nhưng có giá thành lên đến 16 triệu đô la.


Tại Lào, tượng lãnh tụ CS Kaysone Phomvihane cũng có mặt trên nhiều công viên, cơ quan nhà nước. Năm 2004, Bắc Hàn đúc tặng Lào 200 tượng Kaysone Phomvihane bằng đồng để đặt tại các cơ quan đảng và nhà nước Lào.


Tại Cuba, mặc dù Fidel Castro chưa chết, tượng đài của y cùng với Che Guevara cũng đã được dựng nhiều nơi trên quốc gia hải đảo này.


Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Văn Hóa-Thanh Niên & Du Lịch, Việt Nam hiện có 134 tượng đài Hồ Chí Minh, trong đó gồm 103 tượng đặt tại các trụ sở cơ quan, 31 tượng được dựng tại các quảng trường. Theo kế hoạch từ nay đến 2030 sẽ xây thêm 58 tượng họ Hồ, nâng tổng số lên 192 tượng.




Tượng đài CS không phải là biểu tượng văn hóa của một dân tộc




Để bênh vực việc xây tượng đài Hồ Chí Minh, ông Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt nam, phát biểu: "Tôi cho rằng, không nên đặt vấn đề xây dựng những tượng như thế đắt hay rẻ. Trước khi phán xét phải nhìn nhận tổng thể giá trị văn hóa. Tượng đài sẽ là động lực cho sự phát triển, nên không thể nói vì còn nhiều người đói thì phải mua cơm trước. Đôi khi văn hóa cũng phải đi trước." Ông Đào Ngọc Nghiêm không hiểu văn hóa là gì mà nói sảng, tượng đài Hồ Chí Minh không có liên hệ gì đến văn hóa Việt Nam.


Văn hóa được định nghĩa khác nhau ít nhiều tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu nhưng tựu chung là đời sống vật chất và tinh thần đặc thù của một dân tộc. Trong tuyên bố về các dạng văn hóa thế giới vào ngày 2 tháng 11, 2001, UNESCO định nghĩa văn hóa là “tập hợp của các đặc điểm tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần riêng biệt của một xã hội hay một nhóm xã hội trong đó bao gồm cách sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và niềm tin”.


Tạm gác qua chuyện đói no, chỉ bàn về văn hóa thôi thì tượng đài Hồ Chí Minh không phải là biểu tượng văn hóa hay một phần của văn hóa dân tộc Việt Nam vì hai lý do chính:




1. Tượng đài CS không mang tính văn hóa đặc thù








Với định nghĩa của UNESCO, các tượng đài CS, trong trường hợp này là tượng đài Hồ Chí Minh, không phải là biểu tượng văn hóa đặc thù của một dân tộc mà chỉ là sản phẩm tuyên truyền phát xuất từ một nguồn gốc CS do Lenin đề ra vào ngày 12 tháng Tư, 1918 tại Nga và đã đước áp dụng giống nhau một cách chính xác tại hầu hết các quốc gia CS.


Lấy hình tượng các lãnh tụ CS hôn nhi đồng làm một thí dụ. Để che giấu tội ác, bộ máy tuyên truyền Liên Xô giới thiệu một Stalin hiền từ yêu nhi đồng. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh ở Việt Nam cũng yêu nhi đồng, Mao Trạch Đông ở Trung Cộng yêu nhi đồng, Todor Zhivkov ở Bulgary yêu nhi đồng. Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn yêu nhi đồng. Lãnh tụ khác nhưng cách thức, nội dung và mục đích đều giống hệt nhau.




2. Tượng đài CS không tồn tại với thời gian và truyền thống dân tộc




Như lịch sử thế giới cận đại chứng minh và người viết đã phân tích ở trên, tượng đài các lãnh đạo CS được dựng lên vì mục đích tuyên truyền nên phải bị phá hủy sau khi cơ chế chính trị tồn tại nhờ tuyên truyền và khủng bố sụp đổ. Như hai tác giả W. Logan và K Reeves viết trong tác phẩm biên khảo Những nơi đau nhức và nhục nhã, đương đầu với một “gia tài nan giải” (Places of pain and shame: dealing with "difficult heritage"), chế độ CS sụp đổ để lại những tượng đài như một gia tài không ai muốn nhận.

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Minh Vũ Hồ Văn Châm - Dư Hương Ngọt Ngào



Minh Vũ Hồ Văn Châm - Dư Hương Ngọt Ngào





alt



Bài đọc suy gẫm:  “Dư Hương Ngọt Ngào” tức bài viết về Chương Trình Chiêu Hồi rất thành công của Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến do tác giả Minh Vũ Hồ Văn Châm ghi lại.  Hình ảnh chỉ là minh họa.


Về Đây Anh
Lời và nhạc: Nguyễn Hiền - Nhật Bằng

Trích: Người ơi ước mong ngày tàn chinh chiến
Ðể toàn dân sống trong cuộc đời ấm êm
Ta nhắn gửi về nơi quê cũ xa vời
Hỡi ai lạc bước mau quay về đây  ...




alt



alt



Chương trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng và tiến hành trên nền tảng chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương lấy tình thương xóa bỏ hận thù, chân thành mở rộng vòng tay đón tiếp những anh chị em ruột thịt chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, lầm lạc phục vụ chủ nghĩa cộng sản mà tưởng là phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc. Tất cả các cán binh cộng sản ra hồi chánh, bất kể quá trình hoạt động bản thân trong hàng ngũ cộng sản như thế nào, nếu ý thức sự lầm lạc trong quá khứ, và nhiệt tình phục vụ lý tưởng tự do dân chủ, đều được phục hồi đầy đủ quyền công dân và hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.


Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi.


Chương trình Chiêu Hồi bắt đầu hoạt động vào cuối năm 1962, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi là một phân ban của Bộ Công Dân Vụ, gọi là Phân Ban Chiêu Hồi, có đẳng cấp tương đương với một Nha thuộc Bộ.

Sau chính biến 1-11-1963, Phân Ban Chiêu Hồi được chuyển sang thống thuộc Phủ Thủ Tướng. Đến năm 1965, với Ủy Ban Hành pháp Trung ương, chương trình Chiêu Hồi được giao cho Bộ Thông Tin phụ trách, có đẳng cấp tương đương với một Tổng Nha, do Thứ Ủy Chiêu Hồi cầm đầu.

Năm 1967, cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi được nâng lên cấp bộ, gọi là Bộ Chiêu Hồi, do Tổng Trưởng Chiêu Hồi cầm đầu, có Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi giúp việc.

Tháng 2 năm 1974, Bộ Chiêu Hồi được bãi bỏ, chương trình Chiêu Hồi do Tổng Cục Chiêu Hồi thuộc Bộ Dân Vận Chiêu Hồi phụ trách.

Điều đáng lưu ý là chương trình Chiêu Hồi không phải chỉ một mình Bộ Chiêu Hồi chịu trách nhiệm thi hành. Bộ Chiêu Hồi chủ yếu phụ trách mặt nổi của chương trình, như tuyên vận, tiếp nhận, huấn chính, phục hoạt. Trong thực tế, nhiệm vụ chính của Bộ Chiêu Hồi là phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan chính phủ như Quân Đội, Cảnh Sát, Tình Báo, Thông Tin, Ngoại Giao, Tư Pháp, và quân đội đồng minh, để tiến hành chương trình Chiêu Hồi trong khuôn khổ chương trình Bình Định và Phát Triển, đặc biệt là về mặt tuyên vận chính nghĩa chống chuyên chính vô sản, và về mặt khai dụng người hồi chánh để nắm vững địch tình.


Tổ chức Điều hành.


Ở cấp trung ương, Tổng Trưởng Chiêu Hồi được sự giúp đỡ của Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi về mặt công tác, của Tổng Thư Ký về mặt hành chánh, của Thanh Tra Trưởng điều khiển Khối Thanh Tra và Lượng Giá, và của Phụ Tá Kế Hoạch đảm trách Khối Kế Hoạch Chương Trình. Ngoài Văn Phòng Tổng Trưởng và các Nha Quản Trị, Công Tác, Phục Hoạt, Pháp Chế, Tiếp Nhận, và An Ninh Tình Báo, ở cấp trung ương còn có Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè và Trung Tâm Huấn Nghệ Trung Ương ở Biên Hòa. Các nha được chia thành sở, sở chia thành phòng, phòng chia thành ban.

Ở cấp quân khu có Văn Phòng Đại Diện Chiêu Hồi và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp quân khu.

Ở cấp tỉnh có Ty Chiêu Hồi do Trưởng Ty điều khiển, và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp tỉnh. Riêng Đô Thành Sài Gòn có Sở Chiêu Hồi do một Chánh sự vụ điều khiển.

Ở cấp quận có Chi Chiêu Hồi do Trưởng Chi cầm đầu. Cấp quận không có trung tâm tiếp nhận thường trực.

Ngành Chiêu Hồi không có cán bộ cấp xã. Phần vụ chiêu hồi ở xã do cán bộ Thông Tin phụ trách.

Nhân viên Bộ Chiêu Hồi ước chừng 11.000 người, gồm công chức chính ngạch, công nhật, hợp đồng, quân nhân biệt phái, cán bộ chiêu hồi, và 90 đại đội võ trang tuyên truyền tuyển chọn trong số cán binh cộng sản ra hồi chánh.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Vũ Đông Hà - Việt gian Phùng Quang Thanh và chính sách đầu hàng quân xâm lược của đảng CSVN



Vũ Đông Hà - Việt gian Phùng Quang Thanh và chính sách đầu hàng quân xâm lược của đảng CSVN






Vũ Đông Hà (Danlambao) - Nếu "hòa bình" là mục tiêu nhắm đến trong "cuộc xung đột" giữa Việt Nam và Tàu cộng thì mục tiêu ấy chỉ có hy vọng đạt được khi quân xâm lược thấy rằng quân đội Việt Nam sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ tổ quốc bằng mọi giá. "Hòa bình" chỉ hiện hữu trong sự lo ngại từ cả hai phía về hiểm họa chiến tranh. Trong bàn cờ cân não, nếu ở lãnh vực ngoại giao cần phải có những tuyên bố khéo léo thì phía quân đội, các tướng lãnh phải luôn bày tỏ thái độ cứng rắn, không nhân nhượng, không lùi bước, không đầu hàng.

Khi người đứng đầu quân đội là Bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố "Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng" (1) - ông ta đã cho quân xâm lược thấy được cái tẩy hèn nhát và vô hình chung đã đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam treo cờ trắng đầu hàng quân xâm lược.

Chính sách đầu hàng trong sĩ diện hảo đối với thế giới và mị dân đối với quần chúng Việt Nam là chính sách nhất quán của đảng cộng sản Việt Nam. Chính sách này không chỉ mới thể hiện trong giai đoạn "giàn khoan HD981" mà đã kéo dài nhiều năm tháng. Giàn khoan HD981 chỉ là một hệ quả tất yếu cũng như nhiều "giàn khoan xâm lược" khác sẽ là những hệ quả tất yếu - tiếp tục được Tàu cộng đặt để lên Việt Nam cho đến khi Bắc Kinh hoàn thành giấc mộng bá quyền.

Chính sách đầu hàng và thuần phục này đã được thể hiện rất nhất quán bởi Phùng Quang Thanh, người chỉ huy lực lượng đại diện cho sức mạnh của tổ quốc trong việc bảo vệ chủ quyền.

Đây là người trong lúc cả nước vừa lo âu vừa phẫn nộ trước hành vi xâm lược của Bắc Kinh thì đã bắt tay và thần phục với Bộ trưởng quốc phòng Tàu cộng Thường Vạn Toàn rằng: "Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan." (2)

Đây cũng là người chỉ huy quân đội đã từng nói với Tôn Quốc Tường, Đại sứ Trung Quốc trước đây tại Việt Nam rằng: "Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đoàn kết, hữu nghị, “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” với Trung Quốc; Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, đều kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và là hai nước xã hội chủ nghĩa, có nhiều điểm tương đồng. Việt Nam mãi mãi biết ơn sự giúp đỡ quý báu của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam trong những năm qua." (3)

Đây là người mà trước đây, trong lúc người Việt khắp nơi đang lên án Trung Quốc cắt dây cáp tàu Bình Minh, thì tại hội nghị đối thoại Shangri-La ở Singapore đã cúi đầu nói với Bộ trưởng quốc phòng Tàu cộng lúc đó là Lương Quang Liệt rằng: "hai nước Trung Việt là anh em tốt, đối tác tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt (4 tốt), quân đội hai nước có truyền thống quan hệ tốt đẹp. Trước sau quân đội hai nước cần tăng cường các lãnh vực giao lưu và hợp tác, cùng nhau bảo vệ khu vực này hòa bình ổn định." (4)

Đây là người đã xác định thái độ phục tùng trước sau như một với quan thầy Tàu cộng, khi nhân kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Tàu cộng đã phát biểu trong buổi tổ chức gặp mặt đại biểu các thế hệ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam được đào tạo bởi Tàu cộng qua các thời kỳ: “Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam”. (4)

Quân đội Nhân Dân Việt Nam làm sao có được ý chí, tinh thần chiến đấu để làm tròn trách nhiệm của một người lính, làm sao có thể nhắm thẳng quân thù mà bắn khi mà người chỉ huy vẫn một mực hết năm này qua tháng khác coi trọng hữu nghị, trân trọng và đội ơn quân xâm lược?  

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Phá sản chính sách kêu gọi Việt kiều 'giữ quốc tịch Việt Nam'


Phá sản chính sách kêu gọi Việt kiều 'giữ quốc tịch Việt Nam'

Monday, March 31, 2014 5:41:23 PM  


Cứ 1,000 người mới có 1.3 người 'đăng ký'


WESTMINSTER (NV) - “Nếu chính quyền Việt Nam coi người Mỹ gốc Việt vẫn đang là công dân Việt Nam thì chả cần phải buộc họ làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam như họ vẫn hành xử từ trước tới nay.”

Ông Hà Ngọc Cư, giám đốc điều hành cơ quan CISS chuyên về di dân và tị nạn tại Houston, Texas, bình luận như vậy với báo Người Việt, về quy định của Bộ Tư Pháp Việt Nam là “ngày 1 tháng 7, 2014 là hạn chót để người Việt hải ngoại đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.”


Cô Phương Hà (trái), một người nhập cư từ Việt Nam, tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ trong buổi lễ tổ chức tại Fairfax, Virginia, hôm 3, Tháng Bảy, 2013. Trên nguyên tắc, khi một người tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ là đã xin từ bỏ quốc tịch gốc. (Hình: Getty Images)



Cách đây 5 năm, Bộ Tư Pháp Việt Nam ban hành “Luật Quốc Tịch Việt Nam” có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009. Theo luật này, người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài “chưa mất quốc tịch Việt Nam phải ‘đăng ký’ với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm.”

Tuy nhiên, báo Tiền Phong hôm 30 Tháng Ba, dẫn phúc trình của “Cơ Quan Ðại Diện Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” cho hay, tính đến đầu năm 2014, chỉ mới có khoảng 6,000 người Việt Nam ở hải ngoại ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam.

So với con số xấp xỉ 4.5 triệu người Việt định cư ở ngoại quốc, tỉ lệ người Việt Nam ghi danh giữ quốc tịch “mẹ” chỉ vào khoảng 0.13%. Tức là, cứ 1,000 người thì chỉ có 1.3 người ‘đăng ký.”

Phúc trình này không công bố con số rõ ràng, chỉ cho biết rằng, người Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ và Úc ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam chiếm một tỉ lệ rất thấp.

Nếu con số này tiếp tục đứng yên vào sau ngày 1 tháng 7, 2014, có nghĩa là hơn 4 triệu người Việt Nam ở hải ngoại giữ thái độ “từ chối quốc tịch Việt Nam.”

Khoản 2 Ðiều 13, “Luật Quốc Tịch Việt Nam năm 2008 và nghị định hướng dẫn nói rằng, ngày 1 tháng 7, 2014 là hạn chót để người Việt hải ngoại ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam. Sau ngày này, người nào không ghi danh có nghĩa là sẽ bị mất quốc tịch Việt Nam.”

* Phá sản

“Luật Quốc Tịch Việt Nam” được ban hành năm 2008 được cho là đã “nới rộng cho người Việt ở hải ngoại được giữ lại quốc tịch Việt Nam,” trong trường hợp không từ bỏ, hoặc không bị tước quốc tịch.

Nhưng phúc trình của Cơ Quan Ðại Diện Người Việt Nam ở hải ngoại thú nhận rằng, trong suốt 5 năm qua, số người ghi danh giữ quốc tịch quá ít ỏi. Nhiều người cho biết, không tha thiết đến việc ghi danh vì tờ giấy này chỉ có ý nghĩa như để “giữ chỗ,” để không bị mất quốc tịch Việt Nam sau ngày 1 tháng 7, 2014.

Có người cho rằng tờ giấy đó không có giá trị về mặt pháp lý, lại càng không phải là căn cứ để đương sự có thể xin cấp phát các giấy tờ khác như sổ thông hành, chiếu khán hoặc giấy miễn thị thực.

Báo Tiền Phong cũng cho hay, rất nhiều tổ chức pháp lý như Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội Việt Nam cho rằng, việc buộc người Việt hải ngoại phải ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam là không thực tế.

Các tổ chức này yêu cầu Bộ Tư Pháp gấp rút hủy bỏ điều khoản này trong Luật Quốc Tịch sửa đổi để kịp thông qua tại cuộc họp Quốc Hội Việt Nam vào tháng 5 tới đây.

Theo báo Tiền Phong, Bộ Tư pháp Việt Nam đến nay vẫn không tán đồng lời đề nghị trên, và cho rằng Việt Nam cần “vận động công dân mình tôn vinh quốc tịch Việt Nam.”

Theo lập luận của Bộ Tư Pháp, người Việt Nam ở hải ngoại không ghi danh giữ, có nghĩa là mặc nhiên bị mất quốc tịch Việt Nam kể từ sau ngày 1 tháng 7 tới.