Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

Nguyễn Trọng Dân - Rối loạn tại Quân khu II: Liệu Tập Cận Bình đã có thể sẵn sàng ứng cứu TBT Trọng nếu quân đội tiến hành đảo chánh?


Nguyễn Trọng Dân - Rối loạn tại Quân khu II: Liệu Tập Cận Bình đã có thể sẵn sàng ứng cứu TBT Trọng nếu quân đội tiến hành đảo chánh?








Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - Bộ trưởng Quốc Phòng (QP) Ngô Xuân Lịch lật đật sang thăm Trung Cộng chỉ 11 ngày sau vụ thanh toán giết chết bí thư tỉnh Yên Bái thuộc QK II và 22 ngày sau khi thiếu tướng Lê Xuân Duy TLQK II đột ngột từ trần. Tướng Lịch sang thăm Trung Cộng trong bối cảnh chức TLQK II vẫn chưa có ông tướng nào nhận lãnh trách nhiệm một cách chính thức. Cho đến nay, sau gần một tháng tướng Duy mất, QK II vẫn là rắn không đầu với trên dưới hơn 35 ngàn quân. Trong tương lai, ai sẽ đảm nhiệm chức TLQK II vẫn còn mờ mịt chưa rõ khi mà tranh giành đấu đá thanh toán bên trong nội bộ đảng và nội bộ các tướng lãnh QP vẫn còn đang diễn ra chưa đến hồi kết thúc.



I. Lo lắng của Chủ tịch Tập Cận Bình trước tình trạng rối loạn tại QK II:



Ngay lúc tướng Lịch viếng thăm Trung Cộng, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đặc cách ông Trần Hảo lên làm bí thư tỉnh Vân Nam một cách vội vã sau khi ông Hảo làm chủ tịch tỉnh này được 18 tháng.


Trần Hảo là tay chân của họ Tập từ thời Tập còn là bí thư Thượng Hải năm 2007. Hảo đã từng tiếp TBT Trọng sang thăm Vân Nam khi còn làm tỉnh trưởng vào tháng Tư năm 2015 để bàn bạc sâu hơn về chi tiết trách nhiệm của tỉnh Vân Nam trong việc hỗ trợ TBT Trọng theo chỉ thị của họ Tập. Nay thì với cương vị bí thư tỉnh Vân Nam, ông Hảo có toàn quyền đẩy mạnh những hỗ trợ cần thiết cho TBT Trọng trong tương lai cũng như ông Hảo sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi thực thi những kế hoạch của Chủ tịch Tập Cận Bình trong việc giúp đỡ TBT Trọng.


Cách đây tám tháng, tức là vào tháng 12 năm 2015, họ Tập cũng vội vàng đưa tướng Lý Tác Thành lên làm tư lệnh Lục quân, một binh chủng mới được thành lập trong quân đội Trung Cộng; có khả năng tấn công can thiệp vào Việt Nam trong chớp nhoáng với hỏa lực rất mạnh. Tướng Thành đã từng tham chiến tại Việt Nam, nhất là tại vùng biên giới thuộc QK II nên có kinh nghiệm về địa hình hiểm trở của quân khu này. Binh chủng Lục quân mới được thành lập của Trung Cộng dường như chỉ để tập trung tấn công nhanh can thiệp vào Việt Nam khi cần thiết, ngoài ra không thấy mục tiêu chiến lược nào khác được đề ra cho bình chủng này trong chính sách quốc phòng của Trung Cộng.


Những hành động vội vàng kể trên của họ Tập dễ bị báo chí và giới truyền thông hiểu lầm là họ Tập muốn gây thêm vây cánh cho mình trước nhiều chống đối trong nội bộ trước thềm đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2017. Nhưng trên thực tế, nếu họ Tập muốn củng cố quyền lực tại TƯ, thì tay chân thân tín của mình như Trần Hảo phải được đề cử vào địa phương hay tỉnh thành có vị trí then chốt trọng yếu gần Bắc Kinh, có nhiều ảnh hưởng về kinh tế đến chính trị trực tiếp đến tại TƯ hơn là ra vùng biên giới xa xôi. Rõ ràng, giới phân tích đã thấy họ Tập rất lo lắng bồn chồn trước những rối loạn bất ổn bên trong nội bộ quân đội của ĐCSVN, nhất là tại QK II, cũng như lo sợ sự lung lay của TBT Trọng. Thái độ này được cho là phù hợp với hành động bồn chồn vội vã của họ Tập khi cử đặc phái viên Tống Đào hiện diện ngay kỳ bỏ phiếu truất phế thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng Giêng năm nay để tăng thêm sức hậu thuẫn một cách không cần thiết vì Trọng đã đi đến thắng cuộc một cách rõ ràng trong lần bỏ phiếu thứ nhì - do những người bỏ phiếu đã hoàn toàn bị phe Trọng khống chế và mua chuộc.



II. Tại sao họ Tập bồn chồn lo lắng đến sự an nguy quyền lực của TBT Trọng?



Trong suốt gần tám năm qua, họ Tập đã tìm đủ cách để phá vỡ hoặc làm chậm lại đối sách liên minh liên kết các quốc gia trong vùng biển Đông do Tổng thống (TT) Obama của Hoa Kỳ khởi xướng. Nỗ lực của TT Obama là liên minh các nước liên quan một cách chặt chẽ nhằm tạo một sức mạnh chung để áp lực, buộc Trung Cộng phải từ bỏ tham vọng bành trướng lãnh hải của mình. Do đó, để đối phó lại, Bắc Kinh có một đối sách ngoại giao cụ thể chi tiết đối với từng quốc gia trong vùng để phá hoại nỗ lực kêu gọi liên kết của Hoa Kỳ. Cụ thể là đối sách ngoại giao của họ Tập đã thành công ở Úc khi Bắc Kinh làm quốc gia này hoài nghi sức mạnh liên kết trong lời kêu gọi của Hoa Kỳ.


Thế nhưng họ Tập lại bị thất bại nặng nề trước Ấn và Phi Luật Tân dù Bắc Kinh tuyên bố sẵn sàng vung tiền tối đa để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế của hai nước này.


Ấn Độ lại vui mừng nhận sự hậu đãi kinh tế từ phía Hoa Kỳ mà gạt bỏ mọi đề nghị hậu đãi kinh tế từ họ Tập. Không những vậy, Ấn lại đi đến ký kết hiệp ước quân sự với Mỹ cuối tháng Tám năm nay; mở đường cho sự can dự sâu hơn của Hải quân Ấn tại biển Đông. Ấn Độ không bị chính sách dụ dỗ về kinh tế của Trung Cộng làm mờ mắt như họ Tập mong đợi vì chính phủ Ấn thấy rõ hiểm họa cho kinh tế Ấn nếu Trung Cộng thật sự chiếm ưu thế hay làm chủ biển Đông.


Phi Luật Tân thì không những bác bỏ mọi đề nghị ve vãn viện trợ kinh tế và bất chấp những hù dọa quân sự của Trung Cộng mà còn kiện Trung Cộng ra tòa án thường trực về biển đảo ở Hague, gọi tắt là tòa PCA (Permanent Court Arbitration). Vào tháng Bảy năm nay, tòa PCA phán quyết khẳng định Trung Cộng không có cơ sở pháp lý khi tuyên bố chủ quyền trên Trường Sa và Hoàng Sa cũng như trên đảo Hoàng Nhan (Scarborough Shoal). Tuy tòa PCA không có lực đủ mạnh để buộc Trung Cộng rút hải quân của mình ra khỏi biển Đông theo phán quyết nhưng cũng đủ làm cơ sở pháp lý để vạch trần thủ đoạn vừa lấn hiếp vừa ve vãn của Trung Cộng đối với Phi Luật Tân cũng như đối với nhiều quốc gia khác trong vùng cho mưu đồ độc chiếm biển Đông của mình.


Riêng đối với Việt Nam, một quốc gia nằm ngay tâm điểm ở biển Đông về địa dư của mọi tranh chấp lãnh hải thì họ Tập không thể nào ở vào thế thất bại như tại Phi được vì nếu Việt Nam chịu liên kết quân sự với Hoa Kỳ và đồng ý sẽ cùng Hoa Kỳ giao chiến tấn công Trung Cộng khi cần thiết thì toàn bộ đường lưỡi bò chín đoạn tại biển Đông của Trung Cộng bị cắt ngay giữa. Việt Nam có một lợi thế địa dư về hải chiến tại biển Đông rất nguy hiểm cho Hải quân Trung Cộng trên con đường bành trướng xuống phía Nam. Hỏa tiễn hiện đại của Hoa Kỳ nếu có thể đặt dọc theo dãy Trường Sơn sát biển khi phóng ra sẽ làm Hải quân Trung Cộng tê liệt và thiệt hại nặng không thể phản kháng lại. Đó là chưa kế nếu Hoa Kỳ trú đóng tại vịnh Cam Ranh thì coi như đường lưỡi bò chín đoạn tại biển Đông của Trung Cộng bị cắt làm đôi hết cách cứu vãn. Hơn nữa, Việt Nam có ngã về phía Trung Cộng thì Trung Cộng mới có điều kiện lấn hiếp giành đảo, giành biển từ từ chứ nếu Việt Nam mà là đồng minh của Hoa Kỳ thì ý đồ này của Trung Cộng sẽ rất khó mà thực hiện.


Vây cánh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nội bộ ĐCSVN đã chiếm ưu thế từ năm 2008 trở đi. Thủ tướng Dũng cần Hoa Kỳ như con người cần hơi thở vì chỉ có Hoa Kỳ mới đủ tài lực nuôi nổi tập đoàn quan liêu cán dốt hối lộ tham nhũng của ông ta. Quan hệ Việt-Mỹ được thúc đẩy mạnh mẽ trong suốt bốn năm, từ năm 2008 đến năm 2011 và đến ngày Ba tháng Sáu năm 2012, thì Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ là Panetta đã có thể đứng tại Cam Ranh mà khẳng định rằng: "Hải quân Hoa Kỳ có thể sử dụng cảng Cam Ranh là điều kiện thiết yếu cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước và điều này sẽ xảy ra trong nay may.” Vào lúc đó, Hoa Kỳ và Việt Nam đã thật sự xích lại quá gần và trở nên nguy hiểm cho đường lối bành trướng lãnh hải của Bắc Kinh ở biển Đông.


Mãi đến cuối năm 2012, Họ Tập mới lên nắm quyền kiểm soát lãnh đạo đất nước, tức là sau khi Dũng làm thủ tướng tại Việt Nam gần năm năm. Họ Tập thấy rõ mình đang bị muộn màng cho một thế cờ và vì vậy, họ Tập cần TBT Trọng như cá cần nước trong âm mưu gấp rút, hoặc là loại bỏ Dũng nhằm phá đổ hoàn toàn tiến trình hợp tác quân sự Việt-Mỹ, hoặc nếu trong trường hợp quá bi đát do muộn màng, thì chỉ cố làm tranh chấp nội bộ giữa thủ tướng Dũng và TBT Trọng gia tăng khiến quốc sách của Việt Nam trong quá trình hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ bì lừng khừng chậm lại. Đương nhiên, Hoa Kỳ không thể nào ký kết một hợp đồng thuê mướn cảng Cam Ranh lớn lao tốn kém khi nội bộ chính trị của ĐCSVN còn lo đấu đá chưa ngã ngũ cho quyết định sau cùng.


Họ Tập đã thành công khi TBT Trọng khéo léo xoay chuyển hàng ngũ nhân sự trong đảng đang từ dày đặc người của thủ tướng Dũng thành một lực lượng đông đảo truất phế Dũng.


Tuy nhiên, sau khi thở phào nhẹ nhõm là đã loại được thủ tướng Dũng ra khỏi TƯ rồi, cả TBT Trọng và Tập Cận Bình mới nhận ra là họ đã dùng thuốc quá liều lượng, vì giờ đây, thế lực mà ĐCSVN phải đối phó bên trong nội bộ của mình lại chính là quân đội, và nếu như biến loạn xảy ra tại Việt Nam do quân đội tiến hành, thì mọi công sức của họ Tập trước giờ bị trôi sông hết! Hơn bao giờ hết trong lúc này, Chủ tịch Tập Cận Bình cần bè đảng của TBT Trọng tồn tại trên quyền lực để hợp thức hóa lãnh hải tại biển Đông của Trung Cộng thông qua lấn hiếp (lãnh hải) Việt Nam.



III. Tại sao quân đội bất mãn TBT Trọng?



Họ Tập hiểu rõ TBT Trọng tuy có thể đối phó với thủ tướng Dũng, chiến thắng Dũng một cách ngoạn mục từ thế yếu nhưng Trọng sẽ không đủ sức để đối phó với những kẻ cầm súng, nhất là những kẻ cầm súng đang bất mãn. Các tướng lãnh đang nắm binh quyền bất mãn ở TBT Trọng vì ba lý do chính sau:


Lý do 1: TBT Trọng hậu đãi ngân sách bổng lộc cho các tướng Công An quá cao so với các tướng lãnh sĩ quan quân đội


Hầu hết, tất cả các cấp sĩ quan Công An giàu có nhanh chóng hơn các tướng lãnh sĩ quan quân đội là một điều quá rõ do lực lượng Công An đang trở thành kiêu binh được đảng cưng chiều và trở thành công cụ chó săn sai bảo để bảo vệ ổn định chính trị chế độ. Do đó, lực lượng Công An có toàn quyền thao túng ngân sách để đục khoét và và tham nhũng.


Tướng Công An Trần Đại Quang lại đang làm Chủ-tịch Nước khiến bộ Công An được bao che chắc chắn nên hối lộ và tham nhũng trong ngành Công An lan tràn trắng trợn mà các sĩ quan bên quân đội không làm gì được. Các tướng lãnh sĩ quan quân đội ngày một nóng mặt bất mãn nhưng do đang còn nhiều tranh chấp bên trong nội bộ QP từ cấp quân khu lẫn TƯ, các tướng lãnh sĩ quan quân đội đành nhắm mắt làm ngơ.


Tuy nhiên, sự nhịn nhục của những kẻ cầm súng bao giờ cũng rất giới hạn, và lực lượng tướng lãnh công an bu vây quanh TBT Trọng sẽ không đủ sức chống đỡ những ông tướng quân đội này khi họ ra lệnh nổ súng.


Lý do 2: TBT Trọng dù gì cũng bị các tướng lãnh quân đội coi là nhờ có Tập Cận Bình mà có quyền bính.


Trong cuộc đấu đá giữa Trọng và Dũng, TBT Trọng mở cửa gọi họ Tập giúp mình tối đa công khai, thậm chí, mời và tiếp cả đặc phái viên của họ Tập là Tống Đào ngay ngày đại hội đảng bỏ phiếu truất phế thủ tướng Dũng. Giới tướng lãnh quân đội hiểu rõ TBT Trọng sẽ lèo lái quân đội đi vào con đường nhịn nhục Trung Cộng một cách tối đa quá đáng. Điều này chắc chắn như đổ thêm dầu vào cơn lửa bất mãn sẵn có trong giới tướng lãnh quân đội.


Mọi quốc sách về quốc phòng của Việt Nam từ đây điều bị Bắc Kinh chi phối do TBT Trọng mở rộng cửa cho Trung Cộng can thiệp. Điều này càng làm căng thẳng giữa quân đội và TBT Trọng gia tăng mạnh. Thêm vào đó, Tham mưu Trưởng Đỗ Bá Tỵ bị hất ra khỏi bộ QP do áp lực của Trung Cộng càng làm giới tướng lãnh sĩ quan thân tướng Tỵ cảm thấy bất an lo lắng cũng như bất mãn. Sự bất mãn này không có gì có thể xoa dịu được nữa.


Lý do 3: TBT Trọng làm chậm quá trình hiện đại hóa quân đội.


TBT Trọng có thể mượn nợ của Trung Cộng bạc tỷ dùng làm kinh phí đấu đá chính trị nhưng Trọng không thể nào mượn nợ Trung Cộng để canh tân quân đội. Chẳng lẽ nào Trung Cộng ngu đến nỗi cho Trọng mượn kinh phí canh tân quân đội để gia tăng sức mạnh QP của Việt Nam hay sao?


Chỉ có Hoa Kỳ mới thật sự mở vòng tay kêu gọi liên kết và sẵn sàng giúp TBT Trọng canh tân quân đội. Cho nên, đường lối chính trị của TBT Trọng ngã về phía Trung Cộng do cần hậu thuẫn khi đấu đá nội bộ đóng hoàn toàn mọi cánh cửa dẫn đến hy vọng có thêm kinh phí để canh tân hiện đại hóa quốc phòng. Điều này buộc các tướng lãnh trong quân đội cảm thấy cần phải tiến hành loại bỏ Trọng để cứu vãn tình thế tụt hậu bi đát của quân đội. Việt Nam là một đất nước có chiều dài trên ba ngàn cây số bờ biển nhưng hiện nay lại phải đi xin từng chiếc tàu tuần duyên cũ về để sử dụng.



IV. Tại sao rối loạn QK II làm họ Tập lo lắng quá mức?



QK II rối loạn khiến Chủ tịch Tập Cận Bình lo lắng quá mức là bởi vì ông ta sợ không thể đem quân cứu được Trọng khi Hà Nội có loạn khiến bao công sức bỏ ra củng cố sự nghiệp chính trị của TBT Trọng trở thành đem muối bỏ biển hết.


Tập Cận Bình là một người rất am hiểu về lịch sử của đất nước ông. Ông biết rất rõ người Mãn Châu sở dĩ có thể cai trị được người Hán suốt mấy trăm năm là do buổi ban đầu Ngô Tam Quế, vốn là tướng trấn giữ Sơn Hải Quan làm quân Mãn không cách gì vượt qua xâm lược Trung Hoa cho nổi, đã mở cửa thành cho quân Mãn tràn vào tiến thẳng đến Bắc Kinh tiêu diệt Lý Tự Thành, mở ra cho triều đại nhà Thanh của người Mãn cai trị Trung Hoa.


Ngày hôm nay, QK II chính là “Sơn Hải Quan” dưới mắt của họ Tập, cản đường tiến của Lục quân Trung Cộng vào Hà Nội để cứu TBT Trọng nếu đảo chánh xảy ra. Hơn nữa, QK II có đầy đủ sức quân, sức súng và khả năng hậu cần để QK I có thể an tâm mà dựa lưng cầu viện. Quân số thường trực của QK II tuy là bằng với quân số của QK I với trên 35 ngàn quân nhưng khi cần, số quân huy động có thể nhanh chóng tăng gấp ba lần. Phi trường quân sự tại Yên Bái thuận tiện cho mọi tăng viện. Các độ cao núi non hiểm trở của QK II đủ sức để pháo binh và hỏa tiển có thể tăng viện hỏa lực cho QK I nếu cần thiết.


Nếu họ Tập có được một ông tướng tư lệnh theo kiểu "Ngô Tam Quế" trấn thủ ở QK I nên cất quân đâm xuyên QK I tiến đến Hà Nội thay vì đi qua ngã của QK II cho dễ dàng hơn thì cũng bị sức mạnh quân sự từ QK II tiến đánh chận lại không cách gì tiến thêm nổi về Hà Nội. Trong trường hợp họ Tập điên tiết vừa đánh QK I và QK II cùng lúc thì một mình QK II vừa đánh phòng thủ quân khu của mình, vừa đủ sức tăng viện cho QK I khiến Trung Cộng phải dừng bước tiến rồi lần hồi bị phản công nếu QK II nhận được tiếp viện từ hậu phương. Quân khu II mà còn phòng thủ và chi viện cho QK I thì binh chủng Lục quân của họ Tập không cách gì có thể tiến đến Hà Nội trong chớp nhoáng để cứu TBT Trọng được.


Nói tóm lại, QK II còn, Hà Nội còn. Quân khu II mất thì họ Tập sẽ có Hà Nội trong tay. Giới tướng lãnh Trung Cộng hiểu rõ điều đó và họ Tập đang tìm đủ cách thúc ép TBT Trọng đưa ra một ông tướng theo kiểu "Ngô Tam Quế" lên làm TLQK II, sẵn sàng mở ngỏ QK II để Lục quân của họ Tập có thể đến Hà Nội trong chớp nhoáng khi cần thiết.


Chỉ có điều hiện nay, khó mà có ai ngồi vào chức TLQK II. TBT Trọng có thể đá được Dũng ra khỏi TƯ không có nghĩa là ông ta đủ mạnh để sai khiến các tướng lãnh quân đội. Không phải vô cớ mà chức TLQK II vẫn còn trống cho đến nay. Không có một ông tướng kiểu "Ngô Tam Quế" nào có thể ngồi vững chức tư lệnh tại QK II cả trong tình hình tranh chấp căng thẳng tại bộ QP giữa đảng và quân đội chưa có hồi kết.


Mặc dù vụ giam lỏng bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh bị thất bại vào giờ chót, nhưng hệ lụy của nó quá nặng nề. Bộ QP của Việt Nam hiện nay đã bị bể nát mà một ông tướng chính ủy ngồi bàn giấy như tướng Lịch không cách gì có đủ sức ảnh hưởng đến các tướng đang cầm quân tác chiến. Phe quân đội giam lỏng tướng Thanh tuy thất bại nhưng vẫn còn tại chức với đầy đủ binh quyền, chỉ có mỗi tướng Đỗ Bá Tỵ là bị hất văng ra khỏi bộ QP mà thôi. Cho nên mọi bổ nhiệm của TBT Trọng trong quân đội điều bị các tướng lãnh dị ứng dè chừng và bất mãn chống đối.


Trong danh sách Ủy-viên Quân-Ủy Trung Ương (UVQUTƯ) từ năm 2010 đến 2015, thì chỉ có mỗi tướng cấp quân khu là TLQK II nằm trong danh sách, còn các UVQUTƯ còn lại là các tướng lãnh cao cấp thuộc bộ QP ở TƯ.


Thế nhưng QUTƯ khóa 2015-2020 kỳ này thì khác hẳn, hầu hết các tư lệnh quân khu đều là UV, cho thấy quyền uy của bộ trưởng QP đã gần như không còn nữa, trong khi các tướng quân khu có ảnh hưởng lớn hơn tại TƯ, các tư lệnh quân khu từ nay sẽ nói chuyện bàn việc quốc phòng cũng như mặc cả hợp tác hay phản đối trực tiếp thẳng đến TBT Trọng.


Danh sách UVQUTƯ năm 2015- 2020 bao gồm hầu hết các tướng tư lệnh quân khu:






Danh sách UVQUTƯ năm 2010- 2015 chỉ có mỗi TLQK II năm trong danh sách:








Quyền hạn của các tướng tư lệnh quân khu gia tăng một cách bất ngờ qua mặt bộ QP như thế cho thấy TƯ đảng đang đối phó với một tình trạng cát cứ sứ quân manh nha hình thành mà mọi sự bổ nhiệm hay thay thế các tư lệnh từ TƯ đều bị giới sĩ quan quân khu chống đối triệt hạ.


Bất luận là vì lý do gì mà quân đội loại bỏ TBT Trọng trong nay mai, thì họ Tập cũng cần tiến quân xuyên qua QK II suôn sẻ để kịp thời đến Hà Nội cứu TBT Trọng. Thế mà cho đến giờ phút này, con đường xuyên qua QK II dành cho Lục quân của họ Tập vẫn chưa được bảo đảm là sẽ không có kháng cự. Trong khi đó, họ Tập biết rõ những kẻ tướng lãnh cầm súng khi bất mãn, khó mà đoán biết được khi nào tiếng súng sẽ nổ để rồi TBT Trọng bị truất phế. Họ Tập lo sợ rối loạn ở quân khu II sẽ lây lan về Hà Nội khiến bao công sức nâng đỡ TBT Trọng của mình lại bị xôi hỏng bỏng không!


Ngày nào TBT Trọng chưa thể biệt phái được một tướng chính ủy kiểu Ngô Tam Quế ra đóng QK II là ngày đó, tính mạng của TBT Trọng vẫn nằm ngoài khả năng tiếp cứu của họ Tập.


Đại Nghĩa - Sự thật về "Cách mạng tháng 8" và ngày "Độc Lập" 2 tháng 9



Đại Nghĩa - Sự thật về "Cách mạng tháng 8" và ngày "Độc Lập" 2 tháng 9









Đại Nghĩa (Danlambao) - Đã 71 năm qua lịch sử Việt Nam bị người cộng sản đánh tráo một cách trắng trợn làm cho nhiều người được sinh ra và lớn lên trong thời gian này chỉ học và nghe theo sự tuyên truyền sai lạc nên đã ngộ nhận về lịch sử của dân tộc mình. CSVN chỉ khoác lác bịa ra những chiến tích hào hùng chống Tây chống Mỹ mà không dám nhắc đến truyền thống anh hùng bất khuất của tổ tiên ta đã từng đánh đuổi quân xâm lược Bắc kinh. CSVN không dám nhắc đến sự tàn ác của giặc Tàu trong suốt thời gian đô hộ đất nước ta như thế nào. CSVN đã ru ngủ người dân Việt một lòng hữu hảo với “đồng chí” láng giềng 16 chữ vàng và 4 tốt, trong khi bọn chúng đang lăm le chiếm lấy nước ta một lần nữa.

Lịch sử Việt Nam bị cộng sản dối lừa như thế nào xin nghe “Nhà sử học Hà Văn Thịnh nói về Hồ Chí Minh” trả lời phỏng vấn của nhà báo Mặc Việt Hồng trên báo điện tử Đàn Chim Việt chua chát nhận rằng:

“Tôi nói thật với chị, lịch sử Việt Nam hiện đại, chỉ có 30% sự thật, 70% giả dối. Đó là điều đau lòng. Ví dụ đánh nhau 30 năm, với Pháp và Mỹ mà Việt Nam không thua trận nào là không thể chấp nhận được…

Sự dối trá đó làm cho sinh viên không thích sử nữa. Thấy sử là bịp bợm, chán quá! Tôi đã viết trên báo Lao Động năm 2005, ‘Lịch sử theo trang sách học trò’, tôi vạch rõ, dậy sử mà suốt ngày phải nói dối, đó là điều đau lòng lắm. Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều trí thức ở hoàn cảnh nan giải, giữa nói thật và không nói thật. (DanChimViet online ngày 19-5-2010)

71 năm qua lịch sử Việt Nam đã bị cộng sản đã cố tình bưng bít, ngày hôm nay những đảng viên trí thức lão thành đã vượt qua sợ hãi, với tư cách là những chứng nhân của lịch sử, họ đã can đảm nói lên sự thật cho người đời nay cũng như con cháu đời sau sẽ không còn bị CSVN lừa phỉnh nữa.


I. "Cách mạng tháng 8-1945":


Theo nhà văn Vũ Thư Hiên, con của cụ Vũ Đình Huỳnh - thư ký riêng của Hồ Chí Minh trong thời kỳ đầu lập quốc, nói chuyện trong Bàn tròn thứ Năm do đài BBC tổ chức ngày 13-8-2015 ông Hiên đưa ra vấn đề “Tháng 8-1945: Cách mạng hay khởi nghĩa?” Theo quan điểm của ông Vũ Thư Hiên thì:

“Tôi nghĩ đây là cuộc khởi nghĩa đã đưa lại nền độc lập và sau đó những mục tiêu đề ra ở những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa bị phản bội.

Nó phản bội một cách từ từ chứ không phải ngay lập tức. Không có cái mốc nào cho sự phản bội cả. Nhưng nếu phải đặt ra một cái mốc thì tôi nghĩ là sau năm 1949 khi mà biên giới Việt Nam và Trung Quốc gắn liền, khi cách mạng Trung Quốc đã thành công”. (BBC online ngày 14-8-2015)

Đảng viên cộng sản Trần Đĩnh, người viết tiểu sử của Hồ Chí Minh kể lại trong tự truyện “Đèn cù” thì “Cách mạng tháng 8-1945” cũng được gọi là Khởi nghĩa như nhà văn Vũ Thư Hiên. Theo Trần Đĩnh thật ra ngày 19-8 ông Hồ và bộ sậu còn nằm im trong... hang Pác-Bó ở Việt Bắc đến khi quân Nhật mở cổng cho qua Cầu Đuống mới được phép về Hà Nội gióng trống kéo cờ. Trần Đĩnh kể:

“Nhân đây nên nói đến vai trò của Lê Trọng Nghĩa, một trong ba nhân vật chủ chốt làm Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội.

Nghĩa lãnh đạo đảng Dân chủ và là người trực tiếp đàm phán với Bộ Tham mưu quân đội Nhật, chính quyền Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại và các đảng phái chính trị, góp phần quan trọng cho Tổng khởi nghĩa diễn ra hòa bình, nhanh gọn”. (Đèn cù II-trang 536)

“Một hiện tượng đáng chú ý: Khởi nghĩa đã thành công ở Hà Nội một hai ngày rồi mà trên căn cứ địa cụ Hồ vẫn chưa hay biết”. (Đèn cù II-trang 539)

“Tân trào ba ngày không biết Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi và quân chiến khu về phải xin Nhật cho qua Cầu Đuống, chỉ hai việc ấy thôi đủ nói Việt Minh chả có đuổi gì Nhật hết”. (Đèn cù II-541)

Nhà báo Trần Tiến Đức, con trai của Bác sĩ Trần Duy Hưng - thị trưởng đầu tiên của Hà Nội sau cuộc Khởi nghĩa cho rằng Việt Minh chỉ lợi dụng thời cơ “khoảng trống quyền lực” để chiếm chính quyền chứ không có công có đánh đấm gì cả. Ông Trần Tiến Đức cho rằng lúc bấy giờ:

“Số đảng viên chỉ trên 1 nghìn...

Và vì thế mà cái ngày 19-8 ở Hà Nội đã nổ ra cuộc cướp chính quyền mà cái cuộc cướp chính quyền ấy nổ ra đúng lúc chính phủ Trần Trọng Kim định tổ chức cuộc biểu dương lực lượng với thanh niên ở Nhà Hát Lớn thì trong số đó mà ngày hôm đó làm mà sau này tôi có tìm hiểu, có lẽ chỉ có vài ba đảng viên Cộng sản, còn tất cả là những người Việt Nam tự xưng đã nắm lấy thời cơ ấy và biến nó thành cuộc khởi nghĩa”. (BBC online ngày 14-8-2015)

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống, là một nhà giáo ưu tú của trường Đại học Xây dựng, một người đảng viên cộng sản lão thành đã vượt qua được sự sợ hãi để từ bỏ đảng và nói rõ về cái ngày mà CSVN gọi là “Cách mạng tháng 8” như sau:

“Cho đến nay thì có nhiều chứng cớ rõ ràng là Cách mạng tháng 8 không đánh Pháp, đuổi Nhật, còn nước Việt Nam đã tuyên bố độc lập từ tháng 4 năm 1945. Cách mạng tháng 8 chỉ làm việc cướp chính quyền, nhưng không phải về tay nhân dân mà về tay đảng Cộng sản. Như thế cả bốn nội dung đều là giả dối, đó là ngụy biện nổi tiếng của tuyên truyền cộng sản mà cho đến bây giờ hàng chục triệu người vẫn còn bị nhầm”. (Boxitvn online ngày 8-8-2015)

Nhà văn Đại tá QĐCS Phạm Đình Trọng, người đã từ bỏ đảng CSVN sau nhiều năm phục vụ vì đã thấy được sự lừa bịp và vong ân của đảng này:

“Suốt 70 năm qua tất cả tài liệu, sách báo của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đều phải thú nhận với lịch sử rằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cướp chính quyền. Hành xử kẻ cướp tất nhiên bất chính và bất minh”. (DanChimViet online ngày 27-1-2015)


II. Ngày Độc lập 2-9-1945:


Hoàng đế Bảo Đại chính là người tuyên bố Việt Nam Độc lập đầu tiên vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 từ tay người Pháp chứ không phải là ngày 2-9 do Hồ Chí Minh tuyên bố như đảng cộng sản thường rêu rao.

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống trong dịp 2-9 năm nay viết bài “Vài đánh giá nhầm trong cách mạng tháng 8” đã giải thích rõ ràng để đính chính nhằm trả sự thật lại cho nhân dân và lịch sử.

Đêm 9 tháng 3-1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất Việt Nam không còn người Pháp cai trị. Ngày 11-3 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam Độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp. Tháng 4-1945 giải tán triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng. Ngày 15-8 Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 17-8 Chính quyền Hà Nội tổ chức mít tinh, treo cờ Quẻ Ly để chào mùng nước Việt Nam Độc lập. Cuộc mít tinh bị người của Việt Minh cướp đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo Việt Minh”. (Boxitvn online ngày 18-8-2016)

Luật sư Lê Công Định, một Cựu Tù nhân lương tâm cũng là người sống và lớn lên trong chế độ cộng sản đã nhận thấy sự dối lừa lịch sử của CSVN nên ông đã xác nhận rằng:

“Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam.

Ngay sau đó, vào ngày 11-3-1945, vua Bảo Đại ký Đạo dụ ‘Tuyên cáo Việt Nam Độc lập’, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền Độc lập của đất nước, thống nhất Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”. (BBC online ngày 1-9-2014)


III- Kết luận:


Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống:

“Một số người lập luận rằng nếu không có đảng cộng sản lãnh đạo làm Cách mạng tháng 8 thì đất nước Việt Nam không có được như ngày nay. Đó là một kiểu ngụy biện. Và ngày nay của Việt Nam như thế nào, có đáng mơ ước và tự hào không?

Nếu năm 1945 những người theo đảng làm cách mạng tháng 8 biết được tương lai của Việt Nam sau 70 năm sẽ như bây giờ, rất nhiều giá trị bị đảo ngược; nếu họ biết TBT đảng CSVN Nguyễn Văn Linh nói: “Biết đi với Trung Quốc thì mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất đảng”. (Boxitvn online ngày 18-8-2016)

Giáo sư Tiến sĩ Địa chất Nguyễn Thanh Giang, người cộng sản trí thức lão thành hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội tâm sự là chính ông cũng đã bị nhà nước cộng sản tuyên truyền lừa dối nên suốt thời gian dài ông đã ngộ nhận về lịch sử đã bị cộng sản đánh lừa vì theo như TBT Lê Duẫn đã nói rõ là chống Mỹ cho Liên xô và Trung cộng.

“Qua một quá trình, tôi nhận ra cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa. Đáng lẽ không nên xảy ra núi xương sông máu như vậy.

Cho đến cách nay mươi năm, tôi vẫn nghĩ là đánh Pháp, đuổi Nhật là công của đảng trong công cuộc đánh ngoại xâm...

...ông giải thích và nói rằng việc đảng cộng sản cướp chính quyền hồi năm 1945 là ‘việc không nên làm’ vì khi thay thế Pháp, Nhật đã có chính quyền Trần Trọng Kim rồi”. (BBC online ngày 1-2-2015)

Ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ tịch UBHC thành phố Hà Nội cũng là người đứng ra sửa sai sau cuộc CCRĐ năm 1953-1956 đã sớm nhận ra được tội ác diệt chủng của đảng CSVN nên ông đã rời bỏ đảng từ lâu. Ngày nay nói về “Cách mạng tháng 8” trong bài viết “Bàn chuyện từ bỏ đảng” ông Cần nói rõ cho nhân dân Việt Nam biết rằng:

“Đảng thường tự hào là đảng cướp chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức đảng CS) cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim”. (DanChimViet online ngày 11-2-2015)

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Brianna Acuesta - Trung Quốc thải hóa chất xuống biển để đẩy ngư dân ra khỏi vùng đảo tranh chấp


Brianna Acuesta - Trung Quốc thải hóa chất xuống biển để đẩy ngư dân ra khỏi vùng đảo tranh chấp









Brianna Acuesta * CTV-Danlambao lược dịch - Tàu của Trung Quốc đã bị chứng kiến thải hóa chất vào vùng biển xung quanh một hòn đảo để tiêu diệt nền kinh tế của vùng này.

Hành động này được báo cáo đã xảy ra xung quanh vùng đảo Pag-asa làm tổn hại đến các sinh vật biển trong một nỗ lực nhằm tiêu diệt nền kinh tế của vùng đảo. Khi số lượng ngư dân phải di dời ngày càng gia tăng vì lượng cá càng ngày càng giảm xuống, Trung Quốc đã tiến gần hơn đến mục tiêu chiếm đoạt vùng đảo này.

Một trang Facebook đã được dành riêng để ghi lại các bằng chứng, trong đó bao gồm hình ảnh gần đây nhất của hàng loạt cá chết đã trôi giạt vào bờ từ do hệ quả của việc thải độc.



Photo: Kalayaan Atin Ito




Pag-asa Island là một hòn đảo ở Biển Tây Philippines do người Phi cư ngụ. Đó là một phần của đô thị Kalayaan của Palawan, Philippines, nhưng các nước lớn như Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đã cố gắng để khẳng định chủ quyền vì lý do kinh tế.

Là một phần của quần đảo Trường Sa, đảo Pag-asa Island nơi duy nhất có người Phi định cư và họ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nghề cá.



Đảo Pag-asa - Photo: Ashley Gilbertion



Bằng cách đầu độc các vùng nước xung quanh đảo Pag-asa và giết chết các loài cá bản địa, Trung Quốc đang làm tê liệt nền kinh tế của đảo này và đẩy ngư dân ra khỏi nơi chốn sinh sống của họ.

Theo trang Facebook, có những suy đoán rằng một khi đảo bị bỏ hoang bởi cư dân, Trung Quốc sẽ thiết lập một căn cứ quân sự của họ trên hòn đảo này.

Bởi vì những nỗ lực của Trung Quốc nhằm xua đẩy cư dân phải bỏ đảo, các hệ sinh thái biển và các rạn san hô xung quanh đã bị phá hủy hoàn toàn. Những cá không bị chết từ hóa chất cũng phải rời khỏi vùng biển này giống như cư dân trên đảo vì sự thiếu vắng của hệ sinh thái.

Trung Quốc đã tiến hành cuộc tranh chấp lãnh thổ với Philippines trong nhiều năm qua, đặc biệt là đối với quần đảo Trường Sa. Cuộc tranh chấp của Trung Quốc bao gồm các cuộc đàm phán ngoại giao, đối đầu căng thẳng và các thủ thuật mang tính đe dọa nhưng đã thất bại trong âm mưu giành chủ quyền.

Trung Quốc hiện cũng đang có tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản, Việt Nam và Đài Loan. Có lẽ việc thải hóa chất độc hại không những chỉ xảy ra đối với với Philippines mà còn đối với các quốc gia lục địa khác đang cố gắng để bảo vệ chủ quyền của họ trên quần đảo Trường Sa.

Không cần biết xuất phát bởi những động cơ gì, các hành động của Trung Quốc đã gây tổn hại vô thời hạn và không thể đảo ngược được đối với các hệ sinh thái, các loài động vật, thực vật và con người đang phải trả cái giá cho những hành động này.

Hải Tượng - Mình vì đảng. Đảng có vì mình?



Hải Tượng - Mình vì đảng. Đảng có vì mình?





Ông Võ Văn Thôn.




Ngày 28/8/2016, việc ông Võ Văn Thôn (nguyên Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh) từ bỏ đảng CSVN nhắc chúng ta nhớ đến trường hợp của ông Lê Hiếu Đằng (1944 – 2014) người từng đảm trách chức vụ Phó Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng ở địa phương này, cũng từ bỏ đảng sau một thời gian dài gắn kết.

Cả hai ông đều thuộc thành phần lớp người đi trước, có bề dày hoạt động cách mạng gắn với phong trào HSSV xuống đường trong những năm tháng chiến tranh.

Xét về tuổi đảng, có thể nói hai nhân vật này xấp xỉ trên 40 năm đứng trong hàng ngũ đảng, có tiếng nói nhất định khi còn tại chức cũng như có những đóng góp “thiết thực” cho bộ máy chính quyền trong những năm đổi mới đất nước.

Tuy nhiên, những lời đóng góp chân thành đó lại như mũi tên bắn trúng vào sự yếu kém của đảng CSVN, lột tả bản chất giáo điều của cả hệ thống và kết quả nhận được là hai từ “cấp tiến” mà chính những đồng chí, đồng đội một thời gán ghép cho hai ông kèm theo cái nhìn không thiện cảm. Chắc chắn Ban Tuyên giáo trung ương sẽ định hướng báo chí trong nước “đánh” ông Thôn không khác gì “lên án” ông Đằng.

Nên biết rằng, trước năm 1975 vào đảng được xem như là một nhiệm vụ bất khả thi. Người vào đảng phải có thành tích nổi trội. Ngày nay vào đảng như một cú hích cho sự nghiệp làm kinh tế. Việc tuyển chọn đảng viên vì thế dễ dàng hơn trước. Có doanh nghiệp đưa chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới vào tầm nhìn chiến lược phát triển của đơn vị mình.

Không riêng việc hai ông Lê Hiếu Đằng và Võ Văn Thôn từ bỏ đảng trong những năm qua, ở một số địa phương khác cũng xảy ra tình trạng tương tự, tuy nhiên đó là những đảng viên bình thường, không giữ chức vụ quan trọng, không phải là “tù Côn Đảo” nên không lên mặt báo. Đồng thời việc xin ra khỏi đảng của đảng viên là vấn đề “nhạy cảm” do đó báo chí cả hai lề trái phải đều rất khó tiếp cận số liệu cụ thể.

Đó cũng chính là lý do đảng CSVN những năm gần đây đã ban hành rất nhiều Nghị quyết với những nội dung như “cấp bách trong tình hình mới”, “diễn biến” và “tự diễn biến”, tha hóa, xa rời quần chúng, một bộ phận không nhỏ, lợi ích nhóm... gây dư luận không tốt, gây mất uy tín cho đảng. Nhưng cuối cùng vẫn không ngăn chặn được làn sóng từ bỏ đảng.

Có rất nhiều đảng viên gạo cội, mặc dù vẫn sinh hoạt đảng ở địa phương sau khi về hưu nhưng cùng chung nhận xét: vào đảng bây giờ dễ như đi chợ. Đảng của ngày hôm qua khác rất xa với đảng của ngày hôm nay. Còn khác như thế nào, họ không dám nói ra. Chỉ rỉ tai nhau lúc cao hứng.

Việc ông Võ Văn Thôn từ bỏ đảng nhưng không chọn ngày thành lập đảng 3/2 như một số trường hợp khác cho thấy quyết định ra đảng là rất tự nhiên. Một khi người đảng viên không còn thiết tha với cái đảng của mình thì họ từ bỏ nó là việc bình thường. Không cần bận tâm là ngày tốt hay xấu.

Từ bỏ đảng có nhiều cách. Lúc đầu vào đảng theo thủ tục thì phải làm đơn xin vào. Nhưng khi không muốn ở cùng đảng thì viết đơn xin ra là một cách tế nhị. Dứt khoát hơn là bỏ sinh hoạt đảng, không đóng đảng phí một thời gian dài. Lúc này đảng sẽ ra quyết định xóa tên đảng viên.

Đảng CSVN rồi đây sẽ xóa tên thêm một người trong danh sách đỏ. Đối với rất nhiều người đảng viên, họ luôn canh cánh trong lòng câu hỏi mình vì đảng, nhưng đảng có vì mình hay không? Đảng bây đã thay đổi rất nhiều. Đảng tham quyền cố vị. Đảng của tập hợp lợi ích nhóm. Đảng không còn là đảng…

Hi vọng có người sẽ chọn cách trả lời như của ông Lê Hiếu Đằng, của ông Võ Văn Thôn hay tự tìm cho mình một hành động từ bỏ đảng không giống với bất cứ người nào.