Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

VietTuSaiGon - Chuyện thằng mù làm vua xứ chột



VietTuSaiGon - Chuyện thằng mù làm vua xứ chột





nhantintuchuc.jpg




Người xưa nói: “Trong xứ chột, thằng mù nghiễm nhiên làm vua. Mà khi đã được làm vua, thằng mù sẽ bằng mọi giá tìm ra những thằng sáng và những thằng mù khác, không phải để cùng chia ngai vàng hay ánh sáng mà để làm cho những thằng kia bị chột vĩnh viễn, để mãi mãi mù được làm vua…”. Câu chuyện này lại rất ứng với Việt Nam hiện tại. Thật là đáng buồn cười và đau lòng khi càng ngày những thằng mù càng tác oai tác quái và thả sức đâm chột mắt những thằng sáng!

Gần đây nhất, và cũng nổi cộm nhất là vụ ông Nguyễn Phước Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã liên tục ký những quyết định thuyên chuyển và bổ nhiệm cho con trai ông là Lê Phước Hoài Bảo lên làm những chức danh cao dần, chỉ trong vòng chưa đầy năm năm, Lê Phước Hoài Bảo đã đi từ một sinh viên mới ra trường lên đến chức Giám đốc sở Kế Hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam mặc dù thời gian công tác không đủ để thi ngạch chuyên viên. Có thể nói rằng chức danh này là một trong những chức danh có cơ may lên làm Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh nhất bởi hiện tại, nó là cơ quan rất quan trọng của những tỉnh đang phát triển, Quảng Nam không ngoại lệ.

Câu chuyện Lê Phước Hoài Bảo, chưa đầy ba chục tuổi lên nắm chức giám đốc một trong những sở rất quan trọng của một tỉnh và nắm quyền điều khiển nhiều “bô lão” có tuổi đảng, vừa hồng lại vừa chuyên này vô hình trung gợi nhớ nhiều nhân vật khác như các con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên nắm những chức danh đầu tỉnh, con trai Nguyễn Bá Thanh, con trai Nông Đức Mạnh, con rể Giàng Seo Phử, con trai của Nguyễn Văn Chi, tức Nguyễn Xuân Anh… Nhìn chung, danh sách “con quan lại được làm quan” ở Việt Nam hiện tại có thể nói rằng đếm không xuể. Bởi nếu ngược dòng thời gian một chút, ngay cả Nguyễn Bá Thanh nếu không phải là con trai Nguyễn Bá Tùng thì chưa chắc đã được ngồi ghế Chủ tịch Đà Nẵng.

Và xa hơn một chút, nếu Nguyễn Tấn Dũng chỉ đơn giản là một anh y tá quèn ở miệt Tây Nam Bộ, mang dòng máu của một y tá A, B, C nào đó không phải là thứ gộc trong trung ương đảng Cộng sản thì suốt đời Dũng cũng chỉ là một y tá, cao lắm thì học bổ túc, chuyên tu hay tại chức gì đó để làm một bác sĩ, ăn lương bác sĩ trước khi về hưu. Ngay cả Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân, Vũ Đức Đam, Lê Thanh Hải… Nói chung là toàn bộ hệ thống quan chức cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, thậm chí cấp xã của Việt Nam đều thăng tiến theo diện cha truyền con nối, không có gì khác.

Và tại sao khi nói về hệ thồng này, tôi phải nói rằng giữa xứ chột thì thằng mù làm vua? Chẳng nhẽ người Việt Nam đã bị chột hết rồi sao? Không, như ông bà xưa đã nói, khi thằng chột lên làm vua, nó sẽ tìm cách đâm chột mắt bất kì thằng mù hay thằng sáng nào hắn biết được để giữ ngôi vị làm vua của hắn. Cách đâm chột mắt của giới quan chức Cộng sản Việt Nam hiện tại chẳng có gì là kín đáo, thậm chí lộ liễu, trân tráo và thách thức là cách của họ.

Bởi với “truyền thống” xét tuyển dựa trên lý lịch, ngay từ lúc bước vào trường đại học, con cái của giới quan chức Cộng sản được ưu tiên nhiều thứ, từ điểm xét tuyển được cộng thêm cho đến chế độc học phí, bảo hiểm y tế, các loại phí dịch vụ nội trú để ăn ở, học tập. Khi ra trường, những sinh viên con nhà Cộng sản được ưu tiên chỗ làm việc và phát triển thành đảng viên. Khi đã thành đảng viên rồi thì cánh cửa tương lai của họ rộng mở, chỉ cần có thêm cái dù cho mạnh, đủ rộng một chút thì tương lai làm quan bự của họ là đương nhiên. Trong khi đó, có rất nhiều chất xám của Việt Nam phải chảy máu vì không có việc làm, làm không đúng chuyên môn để rồi chán nản, phần khác bỏ việc bởi bị ép uổng, không chịu nổi áp lực chính trị…

Trở lại chuyện Lê Phước Hoài Bảo, xét lại quá trình anh ta lên làm Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư, không khỏi giật mình:

“Tân Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Nam Lê Phước Hoài Bảo sinh năm 1985.

Theo học Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, chuyên ngành Tài chính tín dụng, sau khi tốt nghiệp, Lê Phước Hoài Bảo được UBND tỉnh Quảng Nam rút về làm việc, Bảo cũng là người đầu tiên được tỉnh đưa đi học thạc sỹ chuyên ngành Quản trị tài chính và chiến lược tại Trường Claremont Graduate University (Hoa Kỳ).

Sau hai năm, Lê Phước Hoài Bảo về lại Quảng Nam. UBND tỉnh Quảng Nam quyết định phân công Hoài Bảo về công tác tại Phòng Xúc tiến đầu tư của Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai.

Làm chuyên viên một thời gian, Lê Phước Hoài Bảo được bổ nhiệm vào vị trí Phó phòng Xúc tiến đầu tư của Ban này. Không lâu sau, Bảo được bổ nhiệm lên Trưởng phòng.

Ngày 26/2/2014, Lê Phước Thanh, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam (cha ruột của Bảo) ký Quyết định số 649 điều động ông Lê Phước Hoài Bảo từ Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai sang công tác tại UBND huyện Thăng Bình.

Đến ngày 14/3/2014, HĐND huyện Thăng Bình khóa X tổ chức Kỳ họp thứ 11 (kỳ họp bất thường) để bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND huyện, nhiệm kỳ 2011-2016. Kết quả, Lê Phước Hoài Bảo đã trúng cử chức danh Phó Chủ tịch UBND huyện Thăng Bình nhiệm kỳ 2011-2016.

Đến ngày 2/4/2015, Lê Phước Thanh ra Quyết định số 1125 về việc điều động và bổ nhiệm Lê Phước Hoài Bảo, Phó Chủ tịch UBND huyện Thăng Bình đến nhận công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư và bổ nhiệm có thời hạn giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở kể từ ngày 9/4/2015.

Ngày 23/9, Lê Phước Thanh đã ký quyết định bổ nhiệm Lê Phước Hoài Bảo từ Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam lên làm Giám đốc Sở này…”.

Những thông tin về Lê Phước Hoài Bảo chỉ cho thấy mức độ thăng quan tiến chức rất nhanh của anh ta chứ không hề có dòng nào nói về kết quả học tập hoặc là những cống hiến của anh ta để được thăng tiến đúng với tầm vóc của sự cống hiến đó. Hoàn toàn không có, ngay cả con trai, con rể của Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Giàng Seo Phử, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Văn Chi… cũng vậy, chẳng có gì đặc biệt.

Trong vòng chưa đầy hai năm, Lê Phước Hoài Bảo nhảy vọt lên nắm chức Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư, và chắc chắn không dừng ở đây, chức danh đứng đầu tỉnh Quảng Nam cũng đang được nhắm tới. Nghiệt nỗi, muốn nắm chức này, phải bỏ ra không ít tiền bạc để đút lót cho trung ương. Và cũng đương nhiên, Thanh đút được để nắm quyền thì Thanh và Bảo cũng sẽ đút được thôi, đó là chuyện không khó trong hệ thống cầm quyền này.

Và đến đây, tự dưng tôi giật mình, ớn lạnh da gà khi nghĩ đến cả ngàn cử nhân, vài trăm tiến sĩ sắp được nhà nước “xuất khẩu tiến sĩ”! Nhưng điều đó cũng chưa đáng sợ bằng những người có đầu óc cấp tiến, có trình độ và có tư duy làm giàu cho đất nước, mang văn minh về cho đất nước đã nhanh chóng bị dập.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Châu Văn Thi - Thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn bị truy tố tội trạng lên đến 15 năm tù


Châu Văn Thi - Thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn bị truy tố tội trạng lên đến 15 năm tù






Thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn trong một cuộc trả lời phỏng vấn trước khi bị bắt. Ảnh chụp màn hình




DL - Ngày 21/9/2015 vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra, huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An đã gửi bản kết luận điều tra cho VKSND Thạnh Hoá về trường hợp của thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn (15 tuổi), trong đó đề nghị truy tố em Tuấn theo khoản 3 điều 104 BLHS có mức án tù lên đến 15 năm và buộc bồi thường 61 triệu đồng cho bị hại.


Phong trào Liên đới Dân oan tranh đấu dẫn lời của luật sư Nguyễn Văn Miếng (luật sư bào chữa cho Nguyễn Mai Trung Tuấn) cho biết: sau khi nghe đọc Bản kết luận điều tra, cháu Tuấn đã có lý luận phản bác lại:

1/ Tôi ko bị ảnh hưởng tư tưởng từ cha mẹ tôi.

2/ Tôi chỉ bảo vệ tài sản hợp pháp của gia đình tôi.

3/ Tôi không gây rối mà chỉ biểu tình theo Điều 25 Hiến pháp.

4/ Tôi không cố ý gây thương tích cho ai, tôi đã cảnh báo trước.

5/ Khi nhà tôi phát nổ và bốc cháy, mọi người chạy tán loạn, tôi tạt đại để thoát thân, tôi không biết ai tên Thủy.

6/ Tôi mặc áo có dòng chữ: “Trả lại quyền làm người cho dân”.

Trước đó, ngày 14/4/2015, gia đình ông bà Nguyễn Trung Can - Mai Thị Kim Hương đã chống trả lại lực lượng cưỡng chế khiến nhiều người bị thương. Cũng trong lúc diễn ra việc chống cưỡng chế, thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn bị cáo buộc đã dùng ca axid (dùng để châm bình ắc-quy) tạt vào lực lượng cưỡng chế khiến 1 viên công an bị thương.

Nguyên nhân của sự việc được cho là nhà cầm quyền địa phương thu hồi đất đai nhưng không đền bù thoả đáng "Họ bồi thường cho chúng tôi với giá chỉ 300.000 đồng/m2 nhưng họ lại bán cho chúng tôi ở vị trí liền kề lên tới 25 triệu/m2. Từ chỗ đó chúng tôi nhận 300.000 đồng không thể mua được ở đâu", bà Phùng Thị Ly trước đó chia sẻ.

Được biết, trong phiên sơ thẩm diễn ra trong 2 ngày 15 và 16/9/2015, Toà án huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An đã kết tội 12 dân oan là người thân trong gia đình thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn tổng cộng 27 năm tù giam và 6 năm 6 tháng tù treo.

*Khoản 3, điều 104 Bộ luật Hình Sự:

Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự:

"1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng".

Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ theo Điều 74 Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

"1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định".

Theo Luật Minh Gia.


Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, công an huyên Thạnh Hoá:

Nguyễn Phương Uyên- BÊN LỀ ĐỔ NÁT


Nguyễn Phương Uyên- BÊN LỀ ĐỔ NÁT



Phuong Uyen 1.jpg#sgb Triết lý giáo dục từ những nỗ lực của Nhóm Cánh Buồm, theo tác giả Nguyễn Phương Uyên, chúng ta hãy cùng chung tay “tạo nên tinh thần mới” cho một quê hương Việt Nam ngay từ hôm nay.


***


NHÌN LẠI LỊCH SỬ

Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 sự thành công của cách mạng Pháp khiến hàng loạt các quốc gia chuyên chế phong kiến Châu Âu sụp đổ nhanh chóng. Chỉ trong một ngày [14/10/1806] quân đội Napoléon đã đánh bại quân đội Phổ. Dưới sức ép hoặc cải cách hoặc tiêu vong ép buộc Phổ phải chấp nhận cải tổ. Đặc trưng của cuộc đại cải tổ này là vấn đề về cải cách giáo dục hầu mong muốn vực dậy một đất nước đã kiệt quệ dưới chế độ vương quyền Phổ và gánh nặng chiến tranh để lại.

Wilhelm von Humboldt là người được giao trọng trách. Ông tin tưởng, không có gì trên trái đất quan trọng bằng sự phát triển con người trong tính đa dạng phong phú của tính cách cá nhân. Đặt nền tảng trên tinh thần khai sáng và nhân văn, Humboldt đưa nền giáo dục Phổ vượt qua rào cản của các định kiến đương thời và về sau trở thành niềm tự hào của Đức trong lịch sử Âu Châu.

Một trường hợp khác về sự đổi mới phá cũ đó là sự bừng tỉnh của Nhật Bản. Ý thức về tầm quan trọng của con người, trong phong trào Minh Trị Duy Tân, giáo dục được thúc đẩy như đòn bẩy trọng yếu cho công cuộc cải tổ. Kết quả sau Duy Tân, Nhật bản từ một nước yếu kém và lạc hậu trở thành một nước có sức mạnh toàn diện khiến các nước phương tây phải bất ngờ, thán phục.


VIỆT NAM SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

Nhìn lại lịch sử nhân loại thật trăn trở cho tương lai của dân tộc. Hiểm họa Bắc thuộc, thứ mà nhiều người vẫn thường nhắc đến. Nhưng hãy thử từ một cái nhìn toàn cảnh. Chẳng cần phô bày lại cảnh tượng bạo lực học đường, hôi của, chôm chỉa, cướp bóc, giết người dã man, chúng ta vẫn sẽ thấy ngay văn hóa Việt đã vào giai kỳ suy thoái. Đó, là hồi chuông cảnh báo nguy cơ tự giải thể dân tộc mà chúng ta không thể phớt lờ.

Mặc dù tất cả đều đang dự trong cùng một câu chuyện, trải nghiệm và viết tiếp lịch sử. Nhưng vì mỗi nhóm người viết một cách, với một mục tiêu riêng lẻ nên chúng ta không có một căn cứ hiển nhiên nào để có thể đoán chắc được tương lai của dân tộc mình.

Cũng như niềm tin vào cái mỏ neo của một con thuyền đang chao đảo giữa đại ngàn sóng dữ. Tin tưởng và trông chờ vào chính quyền hiện tại, hay bất kể một lực lượng chính trị nào đi nữa cũng không chắc chắn. Tất cả thứ đó đều có khả năng khiến chúng ta tổn thương. Chúng ta không thể nào trông cậy vào nó, vì chúng ta sẽ gặp rắc rối khi quyền lực chính trị của nó đặt ra vô kể những giới hạn lên chúng ta.

Người Đức hay Nhật Bản đều không làm nên cái cao cả của họ do đặt kỳ vọng trên một chính thể nào. Thay vì vậy, họ ra sức xây dựng sức mạnh nội lực, phát triển tiềm năng bên trong bản thân mỗi cá thể quốc gia.

Qua con đường giáo dục, họ tin tưởng trong tương quan giữa cá thể và quốc thể thì cá thể chính là tác nhân làm nên giá trị của quốc thể. Có một câu chuyện trong cuộc đại cải tổ Đức: Khi một cư dân Đức bước ra từ một ngôi nhà vương quyền đã đổ sụp vì chiến tranh. Anh ta tự hỏi bản thân, liệu rồi những bất hạnh của anh ta có cho phép anh ta cái quyền được tự hào về mình.

Câu trả lời là: Có! Bởi cái làm nên giá trị của anh ta là phẩm chất tinh thần của anh ta, nó không hề mất đi ngay cả khi một hệ thống chính trị có sụp đổ. Như Schiler (Friedrich Schiller, 1759-1805, là nhà thơ, nhà soạn kịch, triết gia người Đức) đã khẳng định, điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây chính là sự độc lập giữa tính chất quốc gia với chính trị.

Chừng nào mà thứ giá trị ấy còn tiếp tục được củng cố, được xây dựng, được làm cho phát triển thêm thì chừng đó chúng ta còn có quyền tự hào. Quan trọng là chúng ta có thể đoàn kết, và kiên tâm cùng thực hiện một giấc mơ tự tôn dân tộc hay để nó chỉ còn là chiếc bóng lẻ loi bên dòng lịch sử 4000 năm văn hiến?


CHUNG TAY XÂY DỰNG MỘT TINH THẦN MỚI

Như những nhà cải tổ Phổ nhận định, muốn cải cách nhà nước và xã hội cho hiệu quả trước hết ta phải “tạo nên một tinh thần mới” cho con người. Cái “tinh thần mới” này là làm cho tinh thần bên trong mỗi người trở nên tự chủ và vượt thoát sự bó buộc trong thế giới mưu sinh. Vì vậy trong bối cảnh hiện tại giáo dục chính là một phương thức cứu cánh để tạo nên cái mới này.

Mặc dù giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước, nhưng nền chính trị chuyên quyền đã làm vô hiệu hoá mọi nổ lực cải cách. Đã không tự mình làm được, tại sao nhà nước không tạo điều kiện cho sự chung tay góp sức của những hội đoàn ngoài quốc doanh?

Ở những nền Cộng hòa và Dân chủ như Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, người dân là những người nắm giữ vận mệnh của đất nước nhưng nền chính trị chuyên quyền chỉ sử dụng người dân như những công cụ phục vụ cho chế độ. Những ý kiến thuận chiều mới được dùng để tham khảo, các ý kiến khác bị gạt bỏ thậm chí với những ý kiến chống lại sẽ bị quy chụp, vu vạ vào các điều luật về an ninh quốc gia.

Có bao nhiêu người vẫn tiếp tục muốn điều này? Tại sao chúng ta không tự vận động? Chúng ta không thể mãi chỉ kêu gọi, hoặc chỉ đưa ra phương sách chờ đợi cho đến khi nhà cầm quyền ngó ngàng đến nó nữa.

Gần đây có những cố gắng của một nhóm làm sách mang tên Cánh Buồm. Nhưng chỉ một nhóm thì không đủ lực để “tạo nên một tinh thần mới” cho người Việt. Mỗi người chúng ta đều phải có phận sự can dự vào thực hiện trọng trách này.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Mất cảnh giác


Nguyễn Hưng Quốc - Mất cảnh giác






Tap Can Binh-noi tai My.jpg




Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên - Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Bài phát biểu của Tổng Thống Obama trước Đức Thánh Cha Phanxicô


Bài phát biểu của Tổng Thống Obama trước Đức Thánh Cha Phanxicô








Chào buổi sáng! Chúa đã làm nên một ngày thật tuyệt vời! Kính thưa Đức Thánh Cha, Michelle và tôi xin chào mừng Ngài đến với Nhà Trắng. Ở đây thường không đông người như thế này – nhưng tầm mức và tinh thần của cuộc gặp gỡ ngày hôm nay chỉ phản ánh phần nào lòng yêu mến sâu xa của 70 triệu người Công Giáo Mỹ… và con đường sứ điệp tình yêu và hy vọng của Ngài đã truyền cảm hứng cho biết bao người, trên khắp đất nước chúng tôi và trên toàn thế giới. Thay lời cho người dân Mỹ, thật là vinh dự lớn lao và là đặc ân cho tôi được chào đón Ngài đến với nước Mỹ.

Hôm nay, chúng ta đánh dấu nhiều điểm khởi đầu. Thưa Đức Thánh Cha, Ngài được chúc mừng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ châu Mỹ. Đây là chuyến thăm nước Mỹ đầu tiên của Ngài. Và Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên chia sẻ Thông Điệp trên Twitter.



http://baomai.blogspot.com/



Thưa Đức Thánh Cha, chuyến thăm của Ngài không chỉ cho phép tôi, trong cách thế khiêm tốn, đáp lại lòng hiếu khách đặc biệt mà Ngài rộng mở với tôi tại Vatican năm ngoái. Nó cũng cho thấy biết bao người dân Mỹ, từ mọi nền văn hóa và thuộc mọi niềm tin, quý trọng vai trò của Giáo Hội Công Giáo trong việc phát triển đất nước. Ngay từ thời tôi làm việc tại các khu phố nghèo cùng với Giáo Hội Công Giáo tại Chicago, đến thời tôi làm Tổng Thống, tôi đã tận mắt thấy cung cách mà mỗi ngày, các cộng đồng Công Giáo, các linh mục, các nữ tu, và các giáo dân nuôi những người đói khát, chữa lành người đau ốm, che chở người vô gia cư, giáo dục các trẻ em, và củng cố đức tin nâng đỡ rất nhiều người.

Điều ấy thật đúng trên đất Mỹ, cũng đúng trên toàn thế giới. Từ đường phố nhộn nhịp của Buenos Aires tới ngôi làng xa xôi ở Kenya, các tổ chức Công Giáo phục vụ người nghèo, giúp đỡ các tù nhân, xây dựng các trường học và nhà ở, thành lập các cô nhi viện và các bệnh viện. Và khi Giáo Hội đứng về phía những người đấu tranh để phá vỡ xiềng xích của nghèo đói, thì đó cũng là tiếng nói và niềm hy vọng cho những ai đang tìm cách bẻ gãy xiềng xích của bạo lực và áp bức.






Tuy nhiên, tôi tin rằng, niềm vui nồng nhiệt xung quanh chuyến viếng thăm của Ngài phải được ghi nhận, không chỉ do vai trò của Ngài trong tư cách là Giáo Hoàng, mà còn do những phẩm tính độc đáo của Ngài trong tư cách là một con người. Với lòng khiêm tốn của Ngài, Ngài mang lấy một sự đơn sơ, lịch thiệp trong lời nói và sự quảng đại trong tinh thần, chúng tôi nhìn thấy một mẫu gương sống động cho những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, Đấng là vị lãnh đạo có thẩm quyền luân lý không chỉ trong lời nói mà còn trong hành động.

Ngài mời gọi tất cả chúng ta, Công Giáo cũng như không Công Giáo, đặt “người nhỏ bé nhất” vào tâm điểm của sự quan tâm của chúng ta. Ngài nhắc chúng ta rằng, trong cái nhìn của Thiên Chúa, sự đo lường của chúng ta như là các cá nhân, như là các xã hội, không được xác định bởi sự giàu có hay quyền lực hay địa vị hay danh tiếng, nhưng xác định bởi cách thức chúng ta đáp lại lời mời gọi của Kinh Thánh để nâng đỡ người nghèo và người bị thiệt thòi, thúc đẩy công bằng và chống lại bất công, và đảm bảo rằng, mỗi người có thể sống đúng phẩm giá – bởi vì tất cả chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.






Ngài nhắc chúng ta nhớ rằng “sứ điệp mạnh mẽ nhất của Thiên Chúa” là lòng thương xót.

Điều ấy có nghĩa là chào đón người lạ với sự đồng cảm và con tim rộng mở, từ những người tị nạn phải rời bỏ quê hương vì chiến tranh tàn phá, đến những người nhập cư phải rời bỏ nhà cửa để đi tìm cuộc sống tốt hơn. Điều ấy có nghĩa là diễn tả sự cảm thông và tình yêu với những người chịu thiệt thòi và bị gạt ra bên lề, với những người chịu đau khổ, với những người đang tìm sự cứu độ.

Ngài nhắc chúng ta nhớ về cái giá phải trả cho chiến tranh, đặc biệt là những người cô thế và người không có khả năng tự vệ, và thúc giục chúng ta hướng tới tính khẩn thiết của hòa bình. Thưa Đức Thánh Cha, chúng tôi biết ơn Ngài vì sự nâng đỡ vô giá mà Ngài dành cho chúng tôi trong những bước khởi đầu với nhân dân Cuba, với lời hứa cho mối tương quan tốt hơn giữa hai quốc gia, cho sự hợp tác hơn nữa, và cho đời sống tốt hơn với người dân Cuba. Chúng tôi cám ơn Ngài vì tiếng nói đầy nhiệt huyết của Ngài chống lại các cuộc xung đột chết người. Các xung đột ấy tàn phá cuộc sống của quá nhiều người nam nữ và trẻ em.






Chúng tôi cám ơn Ngài vì Ngài mời gọi các quốc gia chống lại chiến tranh và giải quyết các tranh chấp thông qua ngoại giao.

Ngài nhắc chúng ta nhớ rằng, con người chỉ thực sự tự do khi họ có thể thực hành đức tin của mình cách tự do. Ở nước Mỹ này, chúng ta trân quý tự do tôn giáo. Thế nhưng, trên thế giới ngay lúc này đây, những người con của Chúa, kể cả các Kitô hữu, bị phân biệt đối xử, thậm chí bị giết chết vì đức tin của mình. Các tín hữu bị ngăn cản, không được tụ họp tại nơi thờ phượng. Họ bị tù đày. Các nhà thờ bị phá hủy. Vì thế, chúng tôi cùng với Ngài đứng về phía bảo vệ tự do tôn giáo và thúc đẩy đối thoại liên tôn, biết rằng mọi người ở mọi nơi phải có khả năng sống đức tin cách tự do khỏi nỗi sợ hãi và khỏi sự đe dọa.

Thưa Đức Thánh Cha, Ngài nhắc chúng tôi nhớ rằng, chúng ta có bổn phận thánh thiêng bảo vệ hành tinh của chúng ta. Đây là món quà tuyệt với Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Chúng tôi ủng hộ lời mời gọi của Ngài đối với các nhà lãnh đạo thế giới, cho việc nâng đỡ những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trong sự biến đổi khí hậu, cho việc xích lại gần nhau để bảo vệ thế giới của chúng ta cho các thế hệ tương lai.

Toàn Văn Bài Diễn Thuyết Của ĐTC Phanxicô Trước Quốc Hội Hoa Kỳ


Toàn Văn Bài Diễn Thuyết Của ĐTC Phanxicô Trước Quốc Hội Hoa Kỳ










“Kính thưa Phó Tổng thống,
Chủ tịch Hạ viện,
Và quý vị đại biểu danh dự của Quốc hội

Kính thưa quý vị,

Tôi hết lòng biết ơn vì lời mời được đến phát biểu tại phiên họp lần này của Quốc Hội ngay “tại vùng đất của tự do và là ngôi nhà của người can đảm”. Tôi rất hân hạnh suy nghĩ rằng lý do cho lời mời này đó là vì tôi cũng là một người con của lục địa to lớn này, để từ đó tất cả chúng ta đã nhận lãnh quá nhiều điều và hướng về đó chúng ta cùng chung chia một trách nhiệm chung.

Mỗi người con trai hay con gái của đất nước này đều có một sứ mạng, một trách nhiệm cá nhân và với xã hội. Trách nhiệm của chính quý vị, với tư cách là những đại biểu Quốc Hội, là phải làm cho đất nước này, ngang qua hoạt động lập pháp của quý vị, được lớn mạnh như một quốc gia. Quý vị là bộ mặt của nhân dân nước này, là những đại biểu của họ. Quý vị được mời gọi để bảo vệ và duy trì phẩm giá của đồng bào của quý vị trong nỗ lực theo đuổi không mỏi mệt và đầy đòi hỏi của thiện ích chung, bởi lẽ đây là mục tiêu chính yếu của tất cả các thể chế chính trị. Một xã hội chính trị được bảo đảm khi nó tìm kiếm, như là một ơn gọi, để nhằm thoả mãn những nhu cầu chung bằng cách khuyến khích sự phát triển của tất cả các thành viên, đặc biệt là những ai ở trong các tình trạng dễ bị tổn thương và bị đe dọa. Hoạt động lập pháp phải luôn được dựa trên sự quan tâm đến con người. Vì nó, quý vị đã được mời, được kêu gọi và quy tụ lại bởi những ai đã tuyển chọn quý vị.

Công việc của quý vị là điều khiến cho tôi phải suy tư dưới hai cái nhìn về nhân vật Mô-sê. Một mặt, tổ phụ và người ban hành luật cho dân Ít-ra-en tượng trưng cho nhu cầu của dân tộc để làm cho ý thức về sự hiệp nhất được sinh động ngang qua sự lập pháp đúng đắn. Mặt khác, nhân vật Mô-sê dẫn đưa chúng ta trực tiếp đến với Thiên Chúa và như thế là đến với phẩm giá siêu việt của con người. Mô-sê cung cấp cho chúng ta một sự tổng hợp tốt đẹp của công việc của quý vị: đó là quý vị được yêu cầu để bảo vệ, bằng công cụ pháp luật, hình ảnh và nét giống với Thiên Chúa được phác họa trên mỗi khuôn mặt của con người.

Hôm nay, tôi không chỉ muốn nói với quý vị, nhưng còn với toàn thể nhân dân của Hoa Kỳ, thông qua quí vị. Ở đây, cùng với các đại biểu của họ, tôi muốn tận dụng cơ hội này để đối thoại với hàng ngàn người nam và người nữ, những người đang nỗ lực mỗi ngày để thực hiện công việc hằng ngày một cách trung tín, để mang về nhà lương thực hằng ngày, để dành dụm tiền bạc và – dần dà với thời gian – để kiến tạo một cuộc sống tốt đẹp hơn cho những gia đình của họ. Đây là những người nam và người nữ không chỉ đơn thuần quan tâm đến việc thanh toán các khoản thuế của họ, nhưng trong cách thức âm thầm của mình, họ đang duy trì đời sống của xã hội. Họ khởi phát sự đoàn kết bằng hành động của mình, và họ thiết lập các tổ chức để giúp đỡ những ai đang thiếu thốn nhất.

Tôi cũng ước ao được bước vào cuộc đối thoại với biết bao người cao niên, vốn là một kho tàng thông thái được trui rèn bởi kinh nghiệm, và cũng là những người đã tìm kiếm trong nhiều cách thức khác nhau, đặc biệt ngang qua công tác thiện nguyện, để sẻ chia các câu chuyện và sự sáng suốt của họ. Tôi biết rằng rất nhiều người trong số họ đã nghỉ hưu, nhưng vẫn còn rất năng động, họ vẫn tiếp tục lao tác để kiến thiết mảnh đất này. Tôi cũng muốn đối thoại với tất cả những người trẻ, họ là những người đang lao tác để nhận ra những nguyện vọng vĩ đại và cao quý của mình, họ đã không để mình bị lầm đường lạc lối bởi biết bao đề nghị dễ dãi, họ đương đầu với những tình huống khó khăn thường là hậu quả gây ra bởi sự thiếu trưởng thành của biết bao người lớn. Tôi ước ao được đối thoại với tất cả quý vị, và tôi mong muốn làm điều đó ngang qua ký ức lịch sử của những người trẻ của quý vị.

Chuyến viếng thăm của tôi diễn ra trong thời điểm mà những người nam nữ thiện chí đang đánh dấu những kỷ niệm của một vài nhân vật vĩ đại của Hoa Kỳ. Những sự phức tạp của lịch sử và thực tại yếu đuối cứ như thế của con người, những người nam nữ, bởi vì tất cả những khác biệt và giới hạn của họ, đã có thể bằng cách làm việc chăm chỉ và hy sinh – vài người đã phải trả giá bằng mạng sống mình – để kiến thiết một tương lai tươi sáng hơn. Họ đã khuôn đúc nên những giá trị nền tảng vốn sẽ được duy trì mãi mãi trong tinh thần của nhân dân Hoa Kỳ. Một con người với tinh thần này có thể vượt qua nhiều khủng hoảng, căng thẳng và xung đột, trong khi vẫn luôn tìm kiếm những sáng kiến để tiến về phía trước, và thực hiện điều đó với một sự tử tế. Những người nam nữ này mang lại cho chúng ta một cách thức để nhìn và giải thích thực tại. Khi vinh danh ký ức của họ, chúng ta được gợi hứng, thậm chí ngay giữa những xung đột, và ngay tại đây và vào lúc này, để gợi lại những tàn tích văn hoá sâu thẳm nhất của họ.

Tôi muốn đề cập đến bốn người trong số họ: đó là Abraham Lincoln, Martin Luther King, Dorothy Day và Thomas Merton.

Năm nay đánh dấu kỷ niệm 150 năm ngày Tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát, ông là người bảo vệ sự tự do, và đã lao tác không mỏi mệt để “quốc gia này, trong Thiên Chúa, có thể sản sinh ra tự do”. Kiến thiết một tương lai của tự do đòi hòi phải yêu mến thiện ích chung và sự hợp tác trong tinh thần của sự bổ trợ và đoàn kết.

Tất cả chúng ta đều nhận thức rằng, và hết lòng âu lo, bởi sự xáo trộn của hoàn cảnh xã hội và chính trị trong thế giới ngày nay. Thế giới của chúng ta ngày càng trở nên một nơi chốn của xung đột bạo lực, oán ghét và tính hung bạo, bị vi phạm ngay cả nhân danh Thiên Chúa và tôn giáo. Chúng ta biết rằng không có tôn giáo nào lại được miễn trừ khỏi những hình thức của ảo tưởng cá nhân và chủ nghĩa cực đoan mang tính ý thức hệ. Điều này có nghĩa là chúng ta phải hết sức tỉnh táo với mọi dạng thức của chủ nghĩa cuồng tín, dưới hình thức tôn giáo hay bất cứ dạng thức nào. Một sự cân bằng tinh tế thì cần thiết để đánh bại bạo lực vi phạm vì nhân danh tôn giáo, một ý thức hệ hay một hệ thống kinh tế, trong khi vẫn bảo đảm đảm sự tự do tôn giáo, tự do tư tưởng và những tự do của cá nhân. Nhưng cũng có một cám dỗ khác mà chúng ta phải đặc biệt đề phòng để chống lại: đó là quy giản luận đơn sơ vốn chỉ nhìn thấy cái tốt và cái xấu; hay, nếu quý vị muốn, chỉ thấy có người công chính và những tội nhân. Thế giới đương đại, với những vết thương mở rộng đã tác động đến biết bao nhiêu anh chị em của chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải đương đầu với mọi dạng thức của sự phân cực vốn sẽ chia cắt nó thành hai phe. Chúng ta biết rằng trong nỗ lực để được giải thoát khỏi kẻ thù bên ngoài, chúng ta có thể bị cám dỗ để dung dưỡng cho kẻ thù bên trong. Bắt chước sự căm ghét và bạo lực của những bạo chúa và sát nhân đấy là cách tốt nhất để chiếm chỗ của chúng. Đó là một điều mà quý vị, với tư cách là người, sẽ khước từ.

Phản ứng của chúng ta đúng hơn phải là một phản ứng của hy vọng và chữa lành, của bình an và công lý. Chúng ta bị đòi hỏi để vận dụng sự can đảm và trí thông minh để giải quyết những khủng hoảng địa lý chính trị và kinh tế. Ngay cả trong thế giới phát triển, những tác động của những cơ cấu và hành vi bất công thì cũng quá rõ ràng. Những nỗ lực của chúng ta phải nhắm tới phục hồi hy vọng, chỉnh đốn những sai lầm, duy trì những sự tận tâm, và đẩy mạnh sự thịnh vượng của những cá nhân và các dân tộc. Chúng ta phải tiến bước về phía trước cùng nhau, như là một, trong một tinh thần của huynh đệ và đoàn kết đã được canh tân, hợp tác một cách quảng đại vì thiện ích chung.

Những thách đố trước mặt chúng ta ngày nay mời gọi một sự canh tân đối với tinh thần hợp tác, vốn đã thực hiện biết bao điều tốt đẹp trong suốt lịch sử của Hoa Kỳ. Sự phức tạp, tính nghiêm trọng và sự khẩn thiết của những thách đố này đòi buộc chúng ta phải đóng góp những nguồn lực và tài năng của mình, và kiên quyết hỗ trợ lẫn nhau, với sự tôn trọng những khác biệt và những xác tín trong lương tâm của chúng ta.

Nơi mảnh đất này, các nhiều tôn giáo khác nhau đã đóng góp rất nhiều cho việc kiến thiết và củng cố xã hội. Ngày nay, cũng như trong quá khứ, thật là quan trọng khi tiếng nói của đức tin vẫn tiếp tục được lắng nghe, bởi vì đó là một tiếng nói của tình huynh đệ và tình yêu, vốn đã cố gắng để mang lại những gì tốt đẹp nhất cho mỗi con người và cho mỗi xã hội. Sự hợp tác như thế thực là một dũng lực vô song trong trận chiến để loại trừ những dạng thức mới mang tính toàn cầu của tình trạng nô lệ, bắt nguồn từ những bất công trầm trọng vốn chỉ có thể được vượt thoát thông qua những chính sách mới và những hình thức mới của sự đồng tâm của xã hội.

Đến đây, tôi nghĩ đến lịch sử chính trị của Hoa Kỳ, là nơi mà chế độ dân chủ đã cắm rễ sâu trong tâm trí của nhân dân nước này. Tất cả các hoạt động chính trị đều phục vụ và đẩy mạnh lợi ích của người dân và được đặt trên nền tảng của sự tôn trọng phẩm giá của họ. “Chúng ta thừa nhận những chân lý này là hiển nhiên đúng, đó là người nam và người nữ được dựng nên bình đẳng, cũng như họ được Tạo Hóa phú bẩm cho những quyền nhất định bất khả nhượng, mà trong số đó là quyền được sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn Độc lập, ngày 04 tháng 07, 1776). Nếu thể chế chính trị thực sự chỉ phục vụ con người, thì hệ quả là nó không thể nào nô lệ cho kinh tế và tài chánh. Đúng ra, thể chế chính trị là một sự biểu lộ của nhu cầu để chúng ta hợp nhất, nhằm kiến tạo cho thiện ích to lớn nhất: đó là một cộng đồng hy sinh những lợi ích riêng để chia sẻ, trong công bằng và hòa bình, những tài sản, những lợi tức, và đời sống xã hội của nó. Tôi không đánh giá thấp những khó khăn có thể liên quan, nhưng tôi muốn khuyến khích quý vị trong sự cố gắng.

Ở đây tôi cũng nghĩ đến cuộc diễu hành mà Martin Luther King đã dẫn đầu từ Selma đến Montgomery năm mươi năm về trước của chiến dịch nhằm hoàn tất “giấc mơ” của ông về những quyền lợi đầy đủ về chính trị và dân sự cho người Hoa Kỳ gốc Phi Châu. Giấc mơ ấy vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho chúng ta. Tôi hạnh phúc vì Hoa Kỳ tiếp tục, đối với nhiều người, vẫn là một vùng đất của “những giấc mơ”. Những giấc mơ sẽ dẫn đến hành động, để tham dự và để dấn thân. Những giấc mơ sẽ đánh thức những gì sâu thẳm và chân thực nhất trong đời sống của con người.

Trong những thế kỷ gần đây, hàng triệu con người đã đến vùng đất này để theo đuổi ước mơ kiến tạo một tương lai trong tự do. Chúng ta, những con dân của lục địa này, không sợ hãi những người nước ngoài, bởi vì nhiều người trong số chúng ta đã từng là người nước ngoài. Tôi nói điều này với quý vị với tư cách là người con của những người di dân, bởi vì tôi biết rất nhiều người trong số quý vị là con cháu của những người di dân. Thảm thương là, những quyền lợi của những ai đã cư ngụ ở đây trước chúng ta rất lâu đã chẳng luôn luôn được tôn trọng. Cho tất cả những con người và những quốc gia của họ, từ con tim của chế độ dân chủ của Hoa Kỳ, tôi ước ao được tái khẳng định lòng quý trọng lớn lao và sự cảm kích của mình. Những tiếp xúc sơ khởi thì đã bị hỗn loạn và đầy bạo lực, nhưng rất khó để phán xét quá khứ bằng những tiêu chuẩn của hiện tại. Tuy nhiên, khi người khách lạ ở giữa chúng ta van xin chúng ta, chúng ta không được phép lập lại những tội lỗi và sai lầm ấy của quá khứ. Chúng ta phải kiên quyết giờ đây sống càng cao thượng càng tốt, như là cách chúng ta giáo dục những thế hệ mới không bao giờ quay lưng lại với “những láng giềng của chúng” và mọi sự chung quanh chúng ta. Kiến thiết một quốc gia mời gọi chúng ta nhận ra rằng chúng ta phải thường xuyên liên hệ với các quốc gia khác, và phải từ bỏ đi cái quan niệm của thái độ thù nghịch để rồi vận dụng một sự bổ trợ lẫn nhau, trong một cố gắng thường hằng để làm hết sức mình. Tôi xác tín rằng chúng ta có thể làm được điều này.

Thế giới của chúng ta đang phải đương đầu với thảm họa di dân với một quy mô to lớn chưa từng thấy kể từ sau Thế chiến thứ 2. Điều này mang lại cho chúng ta nhiều thách thức lớn và rất nhiều quyết định khó khăn. Trên lục địa này, cũng thế, hàng ngàn con người bị thu hút di cư về phương bắc để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn cho chính họ và những người thân yêu, để tìm kiếm những cơ hội to lớn hơn. Đây chẳng phải là điều chúng ta mong muốn cho chính con em chúng ta sao? Chúng ta không nên ngạc nhiên vì số lượng của họ, nhưng đúng hơn hãy nhìn nhận họ như những con người, ngước nhìn khuôn mặt của họ và lắng nghe những câu chuyện của họ, cố gắng để đáp ứng hết khả năng chúng ta có thể cho hoàn cảnh của họ. Để đáp ứng trong một cách thức luôn luôn đầy tính nhân đạo, công bình và huynh đệ. Chúng ta cần tránh cơn cám dỗ chung ngày nay: đó là loại bỏ bất cứ thứ gì gây rắc rối. Chúng ta hãy nhớ đến khuôn vàng thước ngọc: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12).

Giới răn này chỉ cho chúng ta một hướng đi rõ ràng. Chúng ta hãy đối xử với người khác với cùng một tình cảm nồng nàn và lòng trắc ẩn như chúng ta mong ước họ đối đãi với mình. Chúng ta hãy mang lại cho tha nhân những cơ hội như chúng ta tìm kiếm cho chính mình. Chúng ta hãy giúp người khác lớn lên, như chúng ta mong muốn làm cho chính mình. Nói vắn gọn, nếu chúng ta muốn an toàn, hãy trao ban sự an toàn; nếu chúng ta muốn sống, hãy trao ban sự sống; nếu chúng ta muốn những cơ may, chúng ta hãy mang lại những cơ may. Thước đo mà ta dùng cho tha nhân cũng sẽ là thước đo mà thời gian sẽ dành cho chúng ta. Khuôn vàng thước ngọc cũng nhắc nhớ chúng ta về trách nhiệm bảo vệ và bênh vực sự sống con người trong mọi giai đoạn phát triển của nó.

Xác tín này đã dẫn đưa tôi, từ khi bất đầu thừa tác vụ của mình, đến việc bênh đỡ ở nhiều cấp độ khác nhau cho việc xóa bỏ án tử hình trên toàn cầu. Tôi xác tín rằng đây là cách thức tốt đẹp nhất, bởi vì mọi sự sống là thánh thiêng, mỗi bản vị người được phú bẩm cho một phẩm giá bất khả nhượng, và xã hội chỉ có thể hưởng lợi từ việc phục hồi cho những ai bị kết án vì phạm tội. Gần đây những anh em giám mục của tôi ở đây, trong nước Hoa Kỳ này đã canh tân lời kêu gọi của họ cho việc xóa bỏ án tử hình. Tôi không chỉ ủng hộ họ, mà còn khuyến khích tất cả những ai xác tín rằng một hình phạt công bằng và cần thiết thì không bao giờ được phép loại trừ chiều kích của hy vọng và mục tiêu của việc hoán cải.

Trong những thời khắc này khi mối bận tâm về xã hội đã trở nên quá quan trọng, thì tôi không thể nào bỏ qua không nhắc đến Tôi Tớ Chúa Dorothy Day, là người đã sáng lập Phong trào Công Nhân Công Giáo. Chủ nghĩa tích cực mang tính xã hội của chị, khao khát của chị cho công bình và sự quan tâm cho những ai bị áp bức, đã được gợi hứng bởi Tin Mừng, bởi niềm tin của chị và gương lành của các thánh.

Biết bao nhiêu tiến bộ đã được thực hiện trong lãnh vực này trong nhiều khu vực của thế giới! Biết bao điều đã được thực hiện trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba này để kéo con người ra khỏi sự đói nghèo cùng cực! Tôi biết rằng quý vị chung chia với xác tín của tôi rằng vẫn còn rất nhiều việc cần làm, và nhất là trong trong những thời khắc của khủng hoảng và khó khăn về kinh tế thì lại càng không thể nào đánh mất tinh thần đoàn kết toàn cầu. Đồng thời tôi cũng muốn khuyến khích quý vị luôn nghĩ đến những người xung quanh chúng ta đang mắc kẹt trong vòng vây của đói nghèo. Họ cũng cần được trao ban hy vọng. Cuộc chiến chống lại nghèo khổ và đói khát phải được thực hiện thường xuyên và trên nhiều mặt trận, đặc biệt nơi những nguyên nhân của nó. Tôi biết rằng rất nhiều người Hoa Kỳ ngày nay, cũng như trong quá khứ, đang đương đầu với vấn nạn này.

Dĩ nhiên là một phần của nỗ lực to lớn này là việc gầy dựng và phân phối của cải. Sử dụng đúng đắn những tài nguyên tự nhiên, việc ứng dụng cách thích hợp kỹ thuật công nghệ và việc thấm nhuần tinh thần của các công ty là những nhân tố chính yếu của một hệ thống kinh tế vốn nỗ lực để trở nên hiện đại, bao gồm tất cả và đứng vững. “Thương mại là một ơn gọi cao quý, hướng đến việc sản sinh ra của cải và cải thiện trái đất”. Nó có thể một suối nguồn của thịnh vượng đầy ích lợi cho khu vực ở nơi nó hoạt động, đặc biệt nếu nó nhận thấy việc tạo ra công ăn việc làm như là một phần thiết yếu trong sự phục vụ của nó đối với thiện ích chung” (Laudato Sì, 129). Thiện ích chung này cũng bao gồm cả trái đất, một chủ đề trọng tâm của thông điệp mà tôi viết gần đây để “bước vào một cuộc đối thoại với tất cả mọi người về ngôi nhà chung của chúng ta” (Laudato Sì, 3). “Chúng ta cần một cuộc đối thoại bao gồm tất cả mọi người, bởi vì những thách đố về môi trường chúng ta đang phải chịu đựng, và gốc rễ con người của nó, liên quan và có tác động đến tất cả chúng ta” (Laudato Sì, 14).

Trong thông điệp Laudato Sì, tôi kêu gọi một nỗ lực can đảm và trách nhiệm để “tái định hướng những bước đi của chúng ta” (Laudato Sì, 61) và ngăn ngừa những ảnh hưởng nghiêm trọng của việc hủy hoại môi trường vốn gây ra bởi hoạt động của con người. Tôi xác tín rằng chúng ta có thể thực hiện một sự khác biệt và tôi tin chắc Hoa Kỳ – và Quốc Hội này – có một vai trò quan trọng để thực thi. Đây là thời điểm của những hành động can đảm và các chiến lược, nhắm thực hiện đầy đủ một “nền văn hóa của sự chăm sóc” (Laudato Sì, 231) và “một sự tiếp cận tổng hợp để chống lại nghèo khổ, khôi phục phẩm giá của những ai bị loại trừ, và đồng thời bảo vệ thiên nhiên” (Laudato Sì, 139). “Chúng ta có tự do cần thiết đủ để giới hạn và điều khiển kỹ thuật công nghệ” (Laudato Sì, 112); “để nghĩ ra những cách thức khôn ngoan của…việc phát triển và giới hạn khả năng của chúng ta” ” (Laudato Sì, 78); và khiến cho công nghệ “phải phục vụ một dạng thức khác của tiến bộ, một dạng thức lành mạnh hơn, nhân bản hơn, xã hội hơn và toàn vẹn hơn”(Laudato Sì, 112). Về mặt này, tôi tin tưởng rằng những trung tâm nghiên cứu và học thuật trỗi vượt của Hoa Kỳ có thể thực hiện một sự đóng góp quan trọng trong những năm sắp tới.

Một thế kỷ trước, lúc khởi đầu của Thế Chiến, điều mà Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô 15 đã gọi tên là một “lò sát sinh vô nghĩa”, thì một người Hoa Kỳ kiệt xuất đã chào đời: tu huynh dòng Xi-tô Thomas Merton. Ngài vẫn là một nguồn cảm hứng về mặt tinh thần và là người dẫn đường cho rất nhiều người. Trong tự thuật của mình, ngài viết: “Tôi đã bước vào thế giới. Tự do với thiên nhiên và mang hình ảnh của Thiên Chúa, thế nhưng tôi đã là tù nhân của bạo lực của chính mình và sự ích kỷ của chính tôi, trong hình ảnh của một thế giới mà tôi được hạ sinh vào. Thế giới ấy là hình ảnh của hỏa ngục, đầy rẫy những con người giống như tôi, yêu mến Thiên Chúa, nhưng vẫn còn căm ghét Ngài; họ được sinh ra để yêu mến Ngài nhưng lại sống trong nỗi sợ của sự đói khát vô vọng tự mâu thuẫn với chính mình”. Merton trước tiên là một người của cầu nguyện, một nhà suy tư đã từng thách đố những điều chắc chắn vào thời của mình và đã mở ra những viễn tượng mới cho các linh hồn và cho Giáo Hội. Ngài cũng là một con người của đối thoại, một nhà hoạt động cho hòa bình giữa các dân tộc và tôn giáo.

Từ viễn tượng này của cuộc đối thoại, tôi muốn công nhận những nỗ lực được thực hiện trong những tháng gần đây để giúp vượt qua những khác biệt lịch sử được nối kết với những giai đoạn đau thương của quá khứ. Đó là nhiệm vụ của tôi để bắc những nhịp cầu và giúp đỡ tất cả những người nam nữ, bằng bất cứ cách nào có thể, cũng làm tương tự như tôi. Khi các quốc gia đã từng xung đột với nhau hồi phục lại con đường đối thoại – một cuộc đối thoại vốn có thể bị ngắt quãng bởi vì những nguyên do chính đáng nhất – thì những cơ hội mới mẻ lại khai mở cho tất cả. Điều này đã và đang đòi hỏi sự can đảm và liều lĩnh, vốn là những điều khác với sự vô trách nhiệm. Một lãnh đạo chính trị tốt lành là người, với lợi ích của tất cả mọi người trong tâm trí, chộp lấy khoảnh khắc trong một tinh thần cởi mở và thực dụng. Một lãnh đạo chính trị tốt luôn chọn lựa để khởi xướng những tiến trình hơn là chiếm dụng những khoảng không (Evangelii Gaudium, 222-223).

Phục vụ cho đối thoại và bình an cũng có nghĩa là thực sự quyết tâm để tối thiểu hoá, trong dài hạn, và chấm dứt biết bao cuộc xung đột vũ trang trên khắp hoàn cầu. Ở đây chúng ta phải tự vấn: Tại sao những vũ khí giết người lại có thể được bán cho những ai âm mưu giáng xuống vô số những đau thương trên các cá nhân và xã hội? Đáng buồn thay, câu trả lời, như chúng ta đã biết, giản đơn đó là vì tiền: tiền được tấm đẫm trong máu, thường là máu của người vô tôi. Trên khuôn mặt của sự im lặng đáng xấu hổ và đáng khiển trách này, đó là nhiệm vụ của chúng ta để đối mặt với vấn đề và ngăn chặn việc mua bán vũ khí.

Ba người con trai và một con gái của mảnh đất này, bốn cá nhân với bốn ước mơ: Lincoln, tự do: Martin Luther King, tự do trong sự đa nguyên và không loại trừ; Dorothy Day, công bằng xã hội và những quyền của con người; và Thomas Merton, khả năng đối thoại và mở ra với Thiên Chúa.

Đó là bốn đại diện của nhân dân Hoa Kỳ.