Hiển thị các bài đăng có nhãn 17-2-2014. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 17-2-2014. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Đinh Tấn Lực - Những Liệt Sĩ Ngậm Ngùi Chết Thêm Lần Nữa


Đinh Tấn Lực - Những Liệt Sĩ Ngậm Ngùi Chết Thêm Lần Nữa






“Từ nay, đất nước ta vĩnh viễn bước vào
kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do…”
(Lê Duẩn – 02-9-1975).



Kỷ nguyên hòa bình “vĩnh viễn” ấy chỉ đếm được có mỗi 641 ngày. Đó là 641 ngày của những chuyến tàu Thống Nhất vội vã chuyển hàng trên đường ray xuyên Việt từ Nam ra Bắc. Đó là 641 ngày khởi đầu của các chiến dịch dài hơi tù cải tạo/diệt tư thương/kinh tế mới/hợp tác xã/tem phiếu hộ khẩu/ngăn sông cấm chợ/đổi tiền… Đó cũng là 641 ngày ký sinh của một guồng máy tiếp tục ăn bám quân viện lẫn kinh viện (nên phải răm rắp theo lệnh truyền) của Đệ Tam Quốc Tế.

Tháng 6 năm 1977 là mốc điểm chính thức bùng vỡ cuộc chiến tranh khốc liệt giữa Mát-xcơ-va và Bắc Kinh (thông qua Lê Duẩn của VN và Pol Pot của Khmer).

Cuối năm 1977, Lê Duẩn huy động sáu sư đoàn của quân đội nhân dân VN đánh sâu vào tận Neak Luong rồi mới rút lui, mang theo một số nhân vật quan trọng bên phía Khmer, trong đó có cả thủ tướng tương lai của Campuchia là Hun Sen.

Cuối năm 1978, Lê Duẩn điều chuyển 17 sư đoàn bộ binh và các sư đoàn không quân, lữ đoàn thiết giáp, pháo binh, công binh… đánh thẳng vào Nam Vang, Siem Reap, Battambang, lấn sâu vào cả bên trong biên giới Thái. Ước chừng tổng lực quân đội VN thời bấy giờ vào khoảng hơn nửa triệu quân, thì đã có khoảng phân nửa của lực lượng ấy tham chiến, với hệ quả thương vong lên tới hàng chục vạn chiến sĩ, dân công và thanh niên xung phong, cùng nhiều vạn thường dân VN ở vùng biên giới Tây Nam.

Đảng CS Campuchia (mới, thân CSVN) được thành lập ngay sau đó, với chủ tịch đảng là Pen Sovan, một cán bộ Khmer tập kết về Hà Nội năm 1954. Những ủy viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth. Một nhà nước (mới, thân Hà Nội) thành hình để ổn định sinh hoạt chính trị. Heng Samrin, chủ tịch Hội đồng Cách mạng Campuchia, ký với Hà Nội một hiệp ước hợp thức hóa sự hiện diện của 180.000 bộ đội/cán bộ VN được cài lại xứ Chùa Tháp, bằng danh xưng “chuyên gia” (dưới quyền điều động tại chỗ của Lê Đức Anh).

Một tháng sau trận chiến Tây Nam kinh hoàng (đánh tay sai Tàu bằng nghĩa vụ quốc tế trên nghị quyết của Liên Xô) đó, lực lượng tổng trừ bị của quân đội nhân dân VN, bao gồm cả một phần lực lượng vừa tiến chiếm Nam Vang, cộng thêm lực lượng mới tổng động viên, được cấp tốc điều ra biên giới phía Bắc.

Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận Trung ương của đảng CSVN, số ra ngày 17-02-1979, đã đi tựa lớn choán đầy bề ngang trang nhất: “Trung Quốc phát động chiến tranh quy mô lớn trên biên giới Việt – Trung”. Đặng Tiểu Bình đặt tên cho cuộc tấn công vũ trang quy mô lớn này là cuộc chiến “giáo trừng” (dạy cho bọn lãnh đạo hiếu chiến VN 1 bài học).

Hà Nội bấy giờ, vừa mới gia nhập CMEA (29-6-1978), lại tin tưởng vào bản Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa VN và Liên Xô (03-11-1978, với chữ ký của cả đảng cộng sản lẫn nhà nước hai bên) cùng chiếc mũ bảo hiểm của điện Cẩm Linh, nên không thể ngờ “người anh em hữu hảo” TQ quyết định dàn một triệu rưỡi quân PLA dọc theo biên giới Trung-Xô, cùng lúc, điều động hơn nửa triệu quân dọc biên giới Việt-Trung (một lực lượng tương đương hay vượt cả con số toàn bộ quân đội của VN), cho trận đòn roi vọt này. Điều bất ngờ lớn hơn (và gây hậu quả núi xương sông máu dân lành) là ở dàn lãnh đạo các tỉnh dọc biên phía Bắc. Một số gia đình tỉnh ủy/huyện ủy còn không kịp chạy trước dân!

Bộ phận tuyên truyền trung ương khẩn cấp hoàn tất đồ án phủi tay/lật mặt: “Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh” (nxb KHXH-1979); và đóng thành sách “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” (nxb Sự Thật-1979). Phụ trội thêm một số tranh biếm họa “Mưu Sâu Họa Càng Sâu” (nxb QĐND-1979).