Hiển thị các bài đăng có nhãn TS Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TS Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Ts Nguyễn Hưng Quốc - Bao giờ chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ?



Ts Nguyễn Hưng Quốc - Bao giờ chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ?




image


Một câu hỏi mà tôi thường nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần, là: Bao giờ chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ?


Nếu câu hỏi ấy trực tiếp đặt ra với tôi, câu trả lời của tôi bao giờ cũng là: Không biết. Không thể biết. Hơn nữa, không ai có thể biết.


Trong câu trả lời trên, hai yếu tố đầu, không biết và không thể biết, tương đối dễ hiểu. Đó là câu trả lời rất chủ quan, dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân. Tôi, cũng giống bao nhiêu người Việt Nam khác, chỉ có tấm lòng chứ không có bất cứ điều kiện nào để theo dõi và đánh giá tình hình cho chính xác. Bởi vậy, câu trả lời, dù tích cực hay tiêu cực, dù để khẳng định hay để phủ định, đều là những cách đoán mò. Nó vừa không có cơ sở vừa không đáng tin.


Tôi chỉ muốn giải thích thêm mệnh đề thứ ba trong câu trả lời trên: Không ai có thể biết.



image


Ngày 25 tháng 1 năm 2011, hai tuần trước khi chế độ Hosni Mubarak ở Ai Cập sụp đổ, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc ấy là bà Hillary Clinton khẳng định một cách chắc chắn: “Chính quyền Ai Cập vẫn vững mạnh”. Mà không phải chỉ có bà Clinton, lúc ấy, tất cả các nhà lãnh đạo tại châu Âu, kể cả Pháp và Đức, đều tiên đoán như vậy. Mười mấy ngày sau, lịch sử chứng minh là họ hoàn toàn sai.



image


Mấy tháng sau, người kế nhiệm bà Clinton ở cương vị Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, ông John F. Kerry tuyên bố chế độ độc tài của Bashar al-Assad ở Syria sẽ sụp đổ sớm. Lời tiên đoán ấy cũng sai nốt. Cho đến nay, mấy năm trôi qua, cuộc nội chiến tại Syria vẫn khốc liệt, càng ngày càng khốc liệt, nhưng chiếc ghế của al-Assad vẫn vững vàng.


Cần nhớ là đằng sau bà Clinton và ông Kerry cũng như các nhà lãnh đạo ở châu Âu là những bộ máy tình báo khổng lồ, đầy phương tiện, kinh nghiệm và năng lực. Vậy mà tất cả các bộ máy ấy đều bất lực.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

TS Nguyễn Hưng Quốc - Số phận của văn học miền Nam sau 1975



TS Nguyễn Hưng Quốc - Số phận của văn học miền Nam sau 1975










Lời tác giả: Nhân dịp một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 sắp được tổ chức tại hai toà soạn hai nhật báo Người Việt và Việt Báo tại California trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2014, tôi xin đăng lại một đoạn trong cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ Cộng sản 1945-1990 để quý bạn đọc thấy được số phận bi thảm của văn học miền Nam sau năm 1975.

***

Tháng 4.1975, chế độ Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ. Đảng Cộng sản nắm chính quyền trong cả nước.

Chính sách có tính chất “chuyên chính vô sản” đầu tiên được áp dụng tại miền Nam là nhắm vào văn hoá, văn học miền Nam trước 1975.

Trước khi chủ trương bắt các sĩ quan và các công chức trung, cao cấp thuộc chính quyền cũ đi học tập cải tạo, trước khi tung ra chiến dịch đánh tư sản mại bản tại các thành phố lớn miền Nam, cộng sản, ngay từ tháng 3 và tháng 4.1975, chiếm được địa phương nào, đã tức khắc ra lệnh đóng cửa toàn bộ các cơ sở sinh hoạt văn học nghệ thuật, từ báo chí đến nhà xuất bản, nhà phát hành và các hiệu sách, đã ra lệnh cho dân chúng phải tiêu huỷ toàn bộ dấu vết của nền văn học nghệ thuật miền Nam. Trong lúc vẫn tiếp tục duy trì nền kinh tế năm thành phần thì cộng sản chỉ chấp nhận một thành phần văn học duy nhất: thành phần văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, chịu sự thống trị tuyệt đối của đảng.

Mà thật ra, không phải đợi đến tháng 4.1975, ngay trước đó nữa, từ những năm đầu tiên của thập niên 1960, ở miền Bắc, cộng sản đã có ý đồ huỷ diệt văn học miền Nam bằng hai biện pháp: một là chụp mũ nền văn học miền Nam là “văn học thực dân mới” để qua đó, xoá bỏ vị trí uy nghi của nó trong tiến trình văn học dân tộc, hai là, ngụy tạo ra cái gọi là “văn học giải phóng miền Nam Việt Nam” với những người cầm bút ở miền Bắc được lén lút đưa dần vào miền Nam, ẩn náu trong rừng núi, bưng biền, tự xưng là nói lên những tiếng nói tâm huyết nhất của đồng bào miền Nam.

Phụ hoạ với hai biện pháp trên, báo chí miền Bắc không ngớt vu khống, xuyên tạc văn học miền Nam. Theo Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, trong quyển Nhà văn Việt  nam, tập 1, từ năm 1954 đến 1975, không kể các bài phát trên sóng của đài Tiếng nói Việt Nam, chỉ tính riêng trên các tạp chí và tuần báo lớn tại Hà Nội như Học Tập, Thống Nhất, Nghiên cứu nghệ thuật, Văn Nghệ, Tạp Chí Văn Học... đã có tới 286 bài viết thực hiện âm mưu này (tr. 305).

Sau năm 1975, chiếm được miền Nam, mức độ chống phá văn học miền Nam của đảng Cộng sản ngày càng gia tăng với một quy mô rộng khắp và với một mức độ vô cùng dữ dội. Không có cuộc Đại hội đảng nào, cộng sản lại không nêu việc xoá bỏ văn học nghệ thuật miền Nam lên thành một nhiệm vụ chính trị khẩn cấp. Báo cáo tại kỳ họp Quốc hội khoá 5, Lê Duẩn chỉ thị: “Sau ngày giải phóng, nhân dân ta đã làm rất nhiều việc nhằm quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hoá ấy. Công việc này cần được tiếp tục một cách kiên trì, tích cực và triệt để”.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

TS Nguyễn Hưng Quốc - Văn hoá dân chủ



TS Nguyễn Hưng Quốc - Văn hoá dân chủ






image



Một nền dân chủ không phải là tổng số các thiết chế dân chủ. Có những nơi và những lúc có các thiết chế dân chủ; ừ, thì cũng bầu cử, cũng có đối lập, cũng có tam quyền phân lập đàng hoàng nhưng lại vẫn không có dân chủ. Ngoài vấn đề thiết chế, để có dân chủ, người ta cần một yếu tố khác: văn hoá dân chủ. Nói một cách tóm tắt, một nền dân chủ lành mạnh cần được xây dựng trên một nền văn hoá dân chủ lành mạnh. Không có văn hoá dân chủ, chế độ độc tài, sau khi bị lật đổ, sẽ dẫn đến tình trạng hoặc hỗn loạn hoặc một chế độ độc tài khác, có khi còn khắc nghiệt hơn nữa.


Nhưng văn hoá dân chủ là gì?




image



Trước hết, về khái niệm văn hoá: Trong cả mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá, tôi tâm đắc nhất với định nghĩa của các nhà nhân học (anthropology) trong thời gian gần đây: Đó là một hệ thống biểu tượng, ý nghĩa, giá trị và quy phạm (norm) chi phối cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm và cách hành xử của cả một cộng đồng đông đảo. Theo cách hiểu ấy, văn hoá dân chủ có thể được định nghĩa là một hệ thống biểu tượng, ý nghĩa, giá trị và quy phạm chi phối quan hệ quyền lực giữa những người cai trị và những người bị trị để mọi người biết phân biệt cái đúng và cái sai, cái nên và cái không nên, cái có thể chấp nhận được và cái không thể chấp nhận được, từ đó, biết tương nhượng nhau hầu tạo nên một cuộc sống hài hoà, ở đó, mọi người đều được tôn trọng.

Trong định nghĩa trên, yếu tố quan trọng nhất là sự tôn trọng những cái khác và những người khác. Nền độc tài nào cũng được xây dựng trên tinh thần loại trừ những người khác và những cái khác. Độc tài là một tâm lý ích kỷ và tự kỷ: Họ chỉ biết có mình họ và những gì quen thuộc nhất đối với họ. Mọi chế độ độc tài đều bài ngoại, đều kỳ thị chủng tộc hoặc kỳ thị giai cấp cũng như tôn giáo và phái tính. Văn hoá dân chủ, ngược lại, đề cao sự khoan dung và hoà đồng.


Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

TS Nguyễn Hưng Quốc - Khi một cây bút ra đi




TS Nguyễn Hưng Quốc - Khi một cây bút ra đi





image
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng 1970



Một người quen mất: Buồn. Khi người quen ấy lại là một nhà văn/nhà thơ, hơn nữa, một nhà văn/nhà thơ mình yêu thích: càng buồn hơn nữa. Cũng là người quen cả, nhưng với nhà văn/nhà thơ, qua tác phẩm của họ, bao giờ chúng ta cũng cảm thấy gần gũi hơn, thân mật hơn, do đó, việc ra đi của họ, dù muốn hay không, cũng làm chúng ta buồn rầu nhiều hơn.

Không những buồn rầu, tin tức về cái chết của một nhà văn/nhà thơ bao giờ cũng có vẻ gì như bất ngờ. Ngay cả khi chúng ta biết họ đã lớn tuổi hoặc bệnh hoạn lâu ngày, chúng ta vẫn cứ sửng sốt như thường. Lý do chính là vì một người cầm bút dường như không có tuổi. Đọc các tác phẩm của họ, dù chúng được viết lúc họ đã cao niên, chúng ta cũng thường có cảm giác như tâm hồn họ vẫn còn rất trẻ thơ. Để có thể chìm đắm miên man trong thế giới tưởng tượng. Để có thể rung lên những xúc động khẽ khàng và tinh tế trước một cái đẹp có khi rất nhẹ nhàng, thoáng qua trong cuộc sống.


Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

TS Nguyễn Hưng Quốc nhận định về bài thơ “Tau Chưởi” của Trần Vàng Sao



TS Nguyễn Hưng Quốc nhận định về bài thơ “Tau Chưởi”  của Trần Vàng Sao





image
Tranh dân gian Việt Nam



Dùng thơ hay văn chửi nhau, từ xưa đến nay, không hiếm. Nhưng ở Việt Nam, hầu hết những bài thơ hay văn chửi nổi tiếng nhất lại thuộc văn học dân gian, không có tác giả. Trong văn học viết, chỉ có hai loại: Một, phần giai thoại, ví dụ Hồ Xuân Hương chửi các nho sĩ tấp ta tấp tểnh làm thơ… con cóc:

Một đàn thằng ngọng đến xem chuông
Chúng bảo nhau rằng: ấy ái uông

hoặc Cao Bá Quát chửi các nhà thơ trong nhóm Thi Xã ở Huế:

Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An

và hai, một số bài thơ chửi bóng chửi gió, thâm thúy nhưng nhẹ nhàng của các tác giả như Phan Văn Trị, Khuyễn Khuyến và Tú Xương vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Bài thơ “Tau chưởi” của Trần Vàng Sao mới đây được phổ biến trên facebook là một trường hợp ngoại lệ.



image


Thứ nhất, từ góc độ lịch sử, đó là một bài thơ chửi đầu tiên có tác giả với tên tuổi và thời điểm sáng tác đàng hoàng; hơn nữa, nó là một tiếng chửi trực diện, mạnh mẽ, chát chúa, như vỗ vào mặt những kẻ có quyền lực mà ăn gian nói dối.

Thứ hai, về khía cạnh văn hoá, cho đến nay, trong văn học dân gian, những bài chửi hay nhất đều xuất phát từ Huế. Trần Vàng Sao cũng là người Huế, hiện vẫn còn sống ở Huế. Trong bài thơ, rõ ràng ông muốn tiếp tục truyền thống những bài chửi mất gà nổi tiếng ở quê ông (1). Tại sao Huế, kinh đô kéo dài hơn cả trăm năm của triều Nguyễn, lại nổi bật lên tài năng chửi bới như thế? Tìm hiểu để trả lời được câu hỏi ấy, theo tôi, chắc sẽ rất thú vị.



image


Thứ ba, về tính chất liên văn bản, nhan đề “Tau chưởi” không thể không gợi nhớ đến bức thư ngỏ “Tôi tố cáo” (J’accuse) của Émile Zola đăng trên tờ L’Aurore ngày 13 tháng 1 năm 1898. Nếu bức thư của Zola được xem như một dấu mốc trong quá trình tham gia vào việc phản biện xã hội của người trí thức, bài “Tau chưởi” của Trần Vàng Sao không chừng sẽ là một dấu mốc lớn trong quá trình thức tỉnh của trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam trước các huyền thoại giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp tại Việt Nam.

Thứ tư, về phương diện thẩm mỹ, theo tôi, đây là một bài thơ hay. Hay ở ngôn ngữ: Rất sắc. Hay ở nhịp điệu: Rất mạnh. Hay ở tư tưởng: Nó giống như một bản cáo trạng.