Hiển thị các bài đăng có nhãn VÔ CẢM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VÔ CẢM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

Nhạc sĩ Tuấn Khanh - Chào ánh sáng, chào những ánh mắt mở ngủ mê



Nhạc sĩ Tuấn Khanh - Chào ánh sáng, chào những ánh mắt mở ngủ mê






Ảnh: một góc của cuộc chiến tranh 1979 chống Trung Cộng xâm lược




Sự kiện tin tặc Trung Cộng tấn công vào hệ thống IT của phi cảng Tân Sơn Nhất và Nội Bài, ngày 29/7, như có một luồng ánh sáng chớp lóe lên trong suy nghĩ của hàng triệu người dân Việt. Hy vọng thay, đó là khoảnh khắc sẽ thức tỉnh được nhiều con người về hiện trạng đất nước.

Có lẽ, bất kỳ ai vẫn lớn tiếng kêu to rằng đừng quan tâm chính trị, hãy chỉ lo làm ăn – làm giàu, và hãy cứ phó mặc cho Nhà nước giải quyết mọi chuyện, lúc này sẽ phải dành chút ít thời gian nghĩ về thân phận của mình và gia đình mình. Trên các chuyến bay của ngày 29/7, một nhà triệu phú hay một người nghèo khó đều có thể bỏ xác ngay trên đất nước mình trong niềm tin cố thơ ngây phi chính trị ấy. Có hơn 400.000 hành khách đã bị ảnh hưởng như vậy từ hành động cảnh cáo của nhóm tin tặc 1937cn, do Bắc Kinh tài trợ và nuôi dưỡng, mà bên cạnh đó, có những lời tố cáo cho biết các thành viên của nhóm này đã xâm nhập từ lâu vào hệ thống IT của Việt Nam. Dĩ nhiên, còn chưa tính tới việc có ai đó là kẻ phản bội và bán đứng các thông tin quan trọng cho giặc phương Bắc.

Nhưng vì sao, giữa vô vàn thống khổ lâu nay của quê hương – từ nạn bauxite đang giết dần mòn Tây Nguyên, từ biển và đảo đang mất dần, ngư dân bỏ mạng trên biển và tuyệt vọng trên bờ, cho đến những dự án nguy nga giả tạo xây lên để tạo ra ngân khoản rút rỉa mồ hôi nước mắt nhân dân, những cuộc cưỡng chiếm đất đai của nông dân như bọn thổ phỉ chiếm đóng – chuyện mất an ninh mạng của các phi cảng Việt Nam lại gây chấn động như vậy?

Người dân Việt Nam bị ru ngủ trong một thông điệp mơ hồ là hãy chỉ nên lo cho bản thân mình, lâu nay đã trở thành những vùng quần cư ích kỷ và hẹp hòi, nên rồi chỉ biết nẹp mình trong chén cơm và manh áo. Họ quên cả đồng bào, quên cả tổ quốc, quên cả số phận tương lai của mình. Sự xót thương không còn nhưng lại liều lĩnh tội nghiệp như những hành khách theo lệnh ra khơi mà không bao giờ được chu cấp một chiếc phao cứu sinh. Những ngày cá chết, ngư dân tuyệt mạng thì nhiều người Việt nghe chừng đâu đó rất xa xôi. Bùn đỏ tràn miền Thượng thì nghe như bản tin quốc tế thoáng qua với họ. Chỉ đến khi sinh mạng của từng người bắt đầu bị đe dọa thì mới xuất hiện sự hoảng sợ và ý thức. Nhất là đối với từng con người đang chăm chút cho số tiền để dành, cho sự bình yên phi chính trị… chợt bừng tỉnh rằng mọi thứ là vô nghĩa trước một tình cảnh quá hoang tàn.

Có ý kiến hùng tráng cho rằng dân tộc Việt Nam đang bật lên đoàn kết sự kiện hoảng hốt này. Đó là một loại ngụy biện đáng thương. Sẽ không có chứng cứ nào về loại đoàn kết từ sự rúm ró sợ hãi và mơ hồ về tương lai của mình như vậy. Những con cừu chỉ còn đứng tụm vào với nhau trong niềm đau đớn bất lực trước những con sói bất kỳ giờ phút nào cũng có thể xông vào trang trại, trong khi các chủ trại chỉ biết chè chén mỗi ngày và ngủ mê với cái nhìn tin yêu, rằng bọn chó sói có thể trở thành chó chăn cừu.

Những con cừu ấy, vốn sống theo tiếng gậy chăn dắt, mang niềm tin rằng chúng cứ ăn no, dâng hiến đời mình cho chủ trại là trọn phận. Sống ngu ngơ và chết lặng im.

Từ vụ tấn công ngày 29/7/2016, hãy nghĩ đến những ngày về sau. Đáp trả lại một câu, mà một nhân viên hải quan Việt Nam nào đó ghi trên hộ chiếu có đường lưỡi bò, Bắc Kinh đã gửi đến một thông điệp đầy tính đe dọa không đơn giản, rằng họ đang ở khắp mọi nơi.

Mà không phải chỉ riêng hôm nay, các vụ tấn công nằm sâu trong các tin tức bị ỉm đi, bị che giấu như chuyện tầm phào, từ truyền thanh ở Đà Nẵng, Huế bị chiếm sóng, tia laser tấn công vào các phòng lái máy bay ở phi trường, kể cả những lần bị mất sóng kiểm soát không lưu khiến đường bay hỗn loạn, các sự cố mất điện bất thường ở sân bay… nhân dân bị đối xử như trẻ dại, không nên bàn đến, không cần biết đến – mặc dù những người có trách nhiệm thì ngày càng giới thiệu rõ sự bất lực của mình.

Nhưng chính nhân dân cũng bất lực. Họ nhận ra cái chết của mình mỗi ngày, nhận ra nỗi khốn khổ của quê hương này mỗi ngày bên cạnh các tuyên bố thề trung thành với tình hữu nghị bất chấp. Vận mệnh dân tộc đang bị nhấn chìm trong biển hữu nghị ấy – bao gồm lời gào thét của các quan chức cấp cao khi một mực đòi chấp nhận cho Trung Cộng nắm giữ các dự án quan yếu của đất nước, thậm chí nhượng bộ các yêu sách của Trung Quốc liên quan đến an ninh quốc gia. “Các người đã làm được gì cho đất nước chưa?” – dĩ nhiên là chưa, vì với mọi sắp đặt tàn độc đó, người Việt chỉ còn rơi nước mắt nhìn tổ quốc mình trong tay những kẻ thỏa hiệp và bọn phản bội.

Giờ thi không ai còn hồ nghi nữa, rằng Trung Cộng đã có một bước đi thâm hiểm từ rất lâu, và chỉ đợi thời cơ để chứng minh khả năng đè bẹp Việt Nam. Đừng trút mọi oán giận lên kẻ thù – vì đó là một kẻ thù đã được nhận biết rõ từ lâu – hãy oán giận những suy nghĩ kết thân với kẻ thù, tay bắt mặt mừng, thề thốt và rước kẻ thù vào nhà. Nếu không có những kẻ đó, hàng trăm cây số biên giới Việt Nam không mất cùng Thác Bản Giốc, biển Việt Nam không nguy hiểm chập chờn từng ngày, Tây nguyên không suy kiệt và Formosa Hà Tĩnh không thể hủy diệt môi trường và con người Việt Nam.

Và vì sao, những người anh chị em Việt Nam xuống đường kêu gọi chống lại âm mưu xâm lược của Bắc Kinh luôn bị đánh đập, giam cầm?

Trong một bài thơ của Bùi Chí Vinh, ông có viết rằng:

Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền
Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

Trong bất lực, người ta chỉ còn biết nghĩ đến quả báo, như một cách tự an ủi mình, và mong manh hy vọng kẻ ác có thể tỉnh giác để trở lại làm người. Nhưng với hiện thực hôm nay, mọi thứ sẽ như một luồng ánh sáng soi rọi đến từng trái tim con người Việt. Thức tỉnh từng con mắt đang mở mà như vẫn ngủ mê. Hãy biết qúy trọng từng cơ hội đi qua sợ hãi – chào một ngày mới, không phải để đoàn kết mộng mị – mà dựa vào đó để soi rõ mặt các loại anh em, bao gồm loại anh em đang phản bội lại máu thịt và tương lai dân tộc.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Nguyễn Văn Tuấn: ĐẤT NƯỚC CỦA NHỮNG TƯỢNG ĐÀI VÔ CẢM




Nguyễn Văn Tuấn: ĐẤT NƯỚC CỦA NHỮNG TƯỢNG ĐÀI VÔ CẢM










Hàng loạt địa phương có dự án xây dựng tượng Hồ Chí Minh. Có thể xem đây là một phong trào. Phong trào xây thêm tượng vốn đã quá nhiều ở đất nước này. Nhưng ý nghĩa của phong trào này là gì thì không ai rõ. Chỉ có thể giải thích rằng phong trào này xuất phát từ ý tưởng kinh doanh hình tượng lãnh tụ, và như thế là một sự khinh thường người dân đóng thuế.


Tôi có cảm tưởng rằng VN là một nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Đi từ thành phố đến tỉnh lẻ và làng xã, hầu như chỗ nào cũng có một vài tượng đài. Có nơi có hàng chục tượng lớn nhỏ đủ kiểu. Ví dụ như Hà Nội đã có hơn 30 tượng đài, và người ta đang lên kế hoạch xây thêm hơn 30 tượng khác từ nay đến 2020. Sẽ rất thú vị nếu biết con số thống kê về tượng đài trên cả nước, nhưng với con số trung bình 20 tượng đài/tỉnh, tổng số tượng đài rất có thể lên đến con số hàng ngàn.


Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta từ xưa đã rất quan tâm đến tượng, nhưng ý nghĩa thì không giống như kiểu xây tượng đài ngày nay. Ngày xưa (trước 1975) ở miền Nam cũng có (tuy không nhiều) tượng đài, nhưng đa số là tượng của các anh hùng dân tộc. Chúng ta đã biết ở Sài Gòn có những bức tượng nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn, Thánh Giống, bên cạnh những tượng Phật Thích Ca và Chúa Jesus. Còn ở Rạch Giá có tượng Nguyễn Trung Trực rất nổi tiếng, nghe nói sau 1975 bị “cách mạng” cho xe tải đến kéo sập, nhưng không sập và thế là còn tồn tại đến ngày nay. Người dân xem tượng là cái gì linh thiêng, để tôn thờ; nếu không tôn thờ thì cũng là nơi để tỏ lòng kính trọng. Do đó, dù là đơn giản được cấu trúc bằng đất sét, nhưng không ai dám phá các tượng.


Ở miền Nam sau 1975 thì các tượng đài theo kiểu XHCN mới bắt đầu xâm nhập các miền quê và tỉnh lẻ. Sau 1975, các tượng đài trở thành đối tượng để ngắm nhìn là chủ yếu, chứ không phải để thờ phượng. Hồi còn nhỏ, tôi chưa biết cảm nhận được cái đẹp của những bức tượng đó; phải đến sau 1975 có dịp so sánh với các bức tượng heo motif XHCN (sẽ nói sau) tôi mới thấy cái thẩm mĩ và dân tộc tính của những bức tượng trước 1975.


Cái đặc điểm chủ yếu của các tượng đài VN là liên quan đến các sự kiện và nhân vật “cách mạng.” Phổ biến nhất có lẽ là tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính đến nay đã có 31 tỉnh thành xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, và sẽ có 58 tượng HCM sẽ được xây dựng từ nay đến 2030. Đi đâu cũng thấy ông, lúc thì giơ tay chào ai đó, lúc thì mặc cái áo khoác hờ hững, lúc thì nhìn ra sông (như tượng ở Cần Thơ)m lúc thì nhìm chằm chằm vào người đối diện, lúc thì ôm trẻ em, v.v. Nói chung là ông xuất hiện khắp nơi và dưới vài kiểu cách. Kế đến là những nhân vật từng là đồng chí hay đàn em của ông. Một số khác là các tượng đài ghi lại một sự kiện xảy ra trong thời chiến tranh, và những tượng này không phải ai cũng biết và hiểu. Nhưng nhìn chung, các tượng đài sau này được dựng lên chủ yếu là để ngắm nhìn, thỉnh thoảng làm nơi chụp hình, chứ không phải là các tượg đài cho sự tôn kính và thờ phượng.


Một đặc điểm nổi bậc sau này là rất ít những tượng đài liên quan đến các nhân vật trong lịch sử trước “cách mạng”. Tượng Lê Lợi ở bùng binh Cây Gõ đã bị cho “ra đi” không trở lại. Ngoài một số ít tượng đài mà VNCH để lại (như tượng Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn (cũng sắp ra đi), Thánh Gióng, v.v.) tượng của các anh hùng thời xưa đều bị thay thế bằng các đồng chí của cụ Hồ hay các sự kiện liên quan đến “cách mạng”. Có thể xem sự phân bố tượng đài vừa là một cách tuyên truyền, mà cũng là một cách xem thường và ngạo mạn với lịch sử.


Có thể nói rằng hầu hết các tượng đài “cách mạng” khá thô kệch và thiếu tính dân tộc. Tôi không phải là nhà điêu khắc, nên không biết phân tích sao cho có hệ thống; tôi chỉ biết nói lên cảm nhận cá nhân mà thôi. Cảm nhận của tôi là các bức tượng do các nhà điêu khắc VN thiết kế mang tính xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nói trắng ra là bắt chước. Bắt chước Tàu, bắt chước Nga. Chẳng hạn như hình dưới đây cho thấy cách thiết kế tượng chủ tịch HCM theo kiểu giơ tay là bắt chước theo tượng của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành. Các loại tượng khác cũng thế. Vì bắt chước các nước vốn là thủ đô của tuyên truyền, nên các tác phẩm tượng đài của VN không có tính nghệ thuật cao, nếu không muốn nói là lai căng.










Chẳng những lai căng, mà còn rất thô và rất phi dân tộc tính. Rất nhiều bức tượng nhìn cứ như là những viên đá sắp xếp lại cho có thứ tự, chứ không có hồn. Thử nhìn và so sánh hai bức tượng Trần Hưng Đạo dưới đây sẽ thấy. Thử so sánh bức tượng Trần Nguyên Hãn hay tượng Thánh Gióng và bức tượng gì mà có mấy người chụm lại chung quanh những tảng đá màu trắng ở Sài Gòn sẽ thấy rất khác (xem hình). Một bên là thanh thoát và gần gũi, một bên là nặng chịch, dữ tợn. Hay hãy so sánh với bức tượng “Thương tiếc” trong nghĩa trang Biên Hoà (nay đã bị giật sập) các bạn sẽ thấy tôi so sánh không quá đáng. Còn các nhân vật trong tượng đài HXCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.










Hay có khi họ tạc tượng Lý Thái Tổ (ngoài Hà Nội) thì lại trông giống một ông vua Tàu nào đó, như Tần Thuỷ Hoàng! Bức tượng Lý Thái Tổ còn làm cho ông già đến tuổi 60 trong khi ông dời đô về Thăng Long mới 36 tuổi. Có thể nói rằng những công trình tượng đài đang ngự trị ở VN ngày nay, dưới cái nhìn của một người bình thường, là những hình tượng thô kệch, xa lạ, vô hồn, phi dân tộc, và lai căng.
.





Các tượng đài ở VN còn rất kém chất lượng. Chẳng đâu xa, mới đây bức tượng lớn mới được khánh thành gọi là “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” bị hư hỏng do … sét đánh. Bức tượng ở Quảng Ninh trị giá 25 tỉ đồng khi bị sét đánh mới tiết lộ chất lượng chẳng ra gì. Tượng Phật mới xây thì bị sập. Ngay cả tượng đài ở Điện Biên Phủ (41 tỉ đồng) cũng cùng chung số phận bị hư hỏng dù chỉ mới khánh thành, thậm chí còn bị rút ruột 30%. Nói chung là bất cứ tượng đài hoành tráng nào do VN xây đều có vấn đề về phẩm chất.


Chính vấn đề phẩm chất đặt câu hỏi lợi ích đằng sau phong trào xây dựng tượng Hồ Chí Minh. Người ta phải hỏi ông cụ Hồ đã có quá nhiều tượng trên khắp nước, lí do gì để xây thêm cho ông. Chẳng có lí do nào thuyết phục cả, ngoài lí do lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Ai cũng biết ở VN có xây dựng là có “chia chác”, có lại quả (kickback), hay nói trắng ra là có tham nhũng. Xây càng nhiều, lại quả càng cao, như một bài báo rất sinh động vừa phản ảnh.


Thật ra, nhìn toàn cảnh, phong trào xây tượng HCM chỉ là một nhánh trong phong trào bao quát hơn. Đó là phong trào xây dựng viện bảo tàng, Văn Miếu, và đài tưởng niệm. Có lẽ khởi đầu là mấy đền thờ của những nhân vật như Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, v.v. dần dần lan sang đền thờ của ba má ông cụ Hồ. Sau đó là trào lưu xây viện bảo tàng, có khi lên đến hàng vạn tỉ đồng. Sau viện bảo tàng là đến văn miếu, dù người chủ trương xây chưa biết thờ ai! Sau văn miếu, như chúng ta thấy là đến tượng chủ tịch HCM. Tất cả là một dòng chảy về xây dựng, nó y chang như trào lưu bên Tàu, nơi mà tượng đài và khu du lịch được xây dựng rất nhiều.


Tôi đếm sơ qua những tượng đài và đền miếu xây trong thời gian gần đây (ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, v.v.) thì số tiền bỏ ra đã hơn 1300 tỉ đồng (tức khoảng 65 triệu USD). Ngay Sơn La đòi xây tượng HCM với cái giá 1400 tỉ đồng thì không ngạc nhiên ai nghe tin cũng sốc. Càng sốc hơn khi Sơn La là một trong những tỉnh nghèo nhất ở VN, với tỉ lệ nghèo là 64%. Thật ra, các tỉnh vừa kể đều là những tỉnh nghèo hay rất nghèo. Ví dụ như Hà Giang và Điện Biên có tỉ lệ nghèo lên đến 71%. Nghèo mà đòi xây tượng nghìn tỉ đồng thì người bình thường nhất cũng nghĩ đến cái lợi ích đằng sau việc xây tượng.