Hiển thị các bài đăng có nhãn con người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn con người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Lê Anh Hùng - Nỗi sợ của con người trước ác quỷ


Lê Anh Hùng - Nỗi sợ của con người trước ác quỷ





Quang cảnh Đà Lạt với những dãy núi phía xa bao bọc khu vực trung tâm thành phố.
Quang cảnh Đà Lạt với những dãy núi phía xa bao bọc khu vực trung tâm thành phố.




Sau hơn 8 năm, tôi mới trở lại Đà Lạt vào một ngày đầu Xuân Bính Thân. Và một trong những điều mà tôi háo hức nhất khi thăm lại thành phố cao nguyên xinh đẹp và đầy mộng mơ quyến rũ này là diện kiến những bậc tiền bối lừng danh trong Nhóm Thân hữu Đà Lạt.
Tên tuổi đầu tiên mà tôi tìm đến là TS Hà Sỹ Phu, người vẫn thường được coi là thủ lĩnh của nhóm học thuật và đấu tranh dân chủ nổi tiếng khắp trong và ngoài nước ở Đà Lạt.

Do người ta đánh lại số nhà nên phải mất một lúc lâu tôi mới tìm được nhà ông theo địa chỉ mà ông công bố trên website cá nhân. Đập vào mắt tôi là một căn nhà cấp bốn nép mình khiêm tốn dưới cái dốc ngắn sát ngay bên đường Bùi Thị Xuân. Cánh cửa ngôi nhà khép chặt cùng ổ khoá bên ngoài báo hiệu chủ nhân đi vắng.

Tôi hỏi nhà hàng xóm thì được biết vợ ông phải vào Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng cấp cứu cả tuần nay và ông phải ở trong viện để chăm sóc vợ.

Đến thăm vợ chồng ông ở bệnh viện, tôi khá bất ngờ khi lần đầu tiên được gặp ông ngoài đời – một con người khá nhỏ nhắn chứ không như hình dung của tôi qua các bức ảnh trên mạng. Câu hỏi chợt bật ra trong đầu tôi: Điều gì trong con người nhỏ bé, râu tóc bạc phơ cùng ánh mắt hiền từ và bao dung kia đã khiến cả hệ thống chính trị ở Việt Nam phải khiếp sợ suốt bao năm?

Ông rất cởi mở và chân thành sau khi nghe tôi tự giới thiệu, bởi ông cũng đã biết đến “tên tuổi” tôi từ lâu. Và cuộc trò chuyện của chúng tôi cứ diễn ra như thể giữa hai người thân lâu ngày mới gặp lại nhau.

Ông cho biết, vợ ông bị xuất huyết ở gan, cộng thêm chứng máu khó đông nữa nên bệnh tình rất nguy hiểm. Từ ngày nhập viện bà phải thường xuyên truyền đạm chứ hầu như không ăn uống được gì.

Sức khoẻ ông vốn không tốt, lại phải sống trong cảnh thường xuyên bị nhà cầm quyền sách nhiễu, khủng bố suốt hơn 25 năm qua nên giờ đây tình hình sức khoẻ sa sút nghiêm trọng, với đủ thứ bệnh tật trong người. (Trong khoảng thời gian đó, ngoài một năm ngồi tù, ông còn phải trải qua hơn 400 trăm buổi bị công an hỏi cung và làm việc, mà ông nhận xét là “như vậy thì còn chi là đời một con người nữa?”)

Trước kia, mỗi khi viết sách viết báo, ông cứ viết liền tù tì một mạch, bởi tất cả đã có sẵn trong đầu ông rồi. Chỉ khi nào cần trích dẫn chính xác cho tác phẩm của mình, ông mới phải tra cứu tài liệu. Nhưng giờ thì trí nhớ của ông đã suy giảm nhiều, thường hay quên.

Ông tỏ ra rất thương yêu và quan tâm, lo lắng cho vợ. Ông nói, những gì ông làm được cho cộng đồng, xã hội và đất nước trong hàng chục năm qua trước hết là nhờ sự hy sinh to lớn và thầm lặng của bà.

Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi có lẽ còn kéo dài, nếu như không vì trước đấy, khi ông sửa lại gối cho vợ và giới thiệu tôi với bà, tôi thấy bà thì thầm điều gì đó với ông, rồi ông quay sang nói với tôi: “Chúng ta chỉ nên trao đổi chừng 10 phút thôi, bởi tôi còn phải chăm sóc vợ.”

Tôi nhận thấy trong ánh mắt của bà dường như phảng phất một nỗi e sợ nào đấy. Rõ ràng, không chỉ sức khoẻ mà cả tính mạng của bà đang nằm trong tay một cơ sở y tế nhà nước, trong khi vị khách đường đột của vợ chồng bà lúc này lại là một đối tượng vô cùng “nhạy cảm” của chế độ: người vạch trần những tội ác khủng khiếp của một loạt lãnh đạo cộng sản chóp bu kể từ năm 2008 đến nay. Sau bao năm cùng chồng nếm đủ mùi bầm dập từ cái chính thể vẫn tự vỗ ngực “là đạo đức, là văn minh”, bà hoàn toàn ý thức được mối nguy hiểm đó.

Điều này lại càng được xác thực khi tôi đứng lên từ biệt ông bà. Tôi đề nghị chụp với ông bức ảnh lưu niệm, nhưng ông đã hết sức nhã nhặn từ chối.

Nỗi sợ của bà Hà Sỹ Phu hoàn toàn không phải là cá biệt, mà chỉ là một trường hợp điển hình trong xã hội cộng sản.

Đại tá Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Trưởng ban Lịch sử Binh chủng Phòng không - Không quân, là một trường hợp tương tự. Ông từng một thời gian hoạt động khá tích cực trong nhóm các nhà lão thành cách mạng và các trí thức phản tỉnh của chế độ. Tuy nhiên, sau lần phải vào Viện Quân y 108 mổ tim cách đây mấy năm rồi phải thường xuyên uống thuốc do viện cấp, ông không còn tham gia vận động dân chủ nhiều như trước nữa. Điều kiện sức khoẻ chỉ là lý do thứ yếu; quan trọng hơn, như ông từng có lần nói với tôi: “Người ta có thể cắt thuốc tôi bất cứ lúc nào.” Với một người từng là đảng viên, sỹ quan cao cấp, từng viết tới hàng chục tập hồi ký cho các vị tướng quân đội và biết nhiều thứ chuyện “thâm cung bí sử” của chế độ, hơn ai hết ông hiểu tính mạng của mình đang nằm trong tay ai.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng ở Hải Phòng, thuật lại câu chuyện là năm 2008, trước đám tang Cụ Hoàng Minh Chính, hai viên công an đã đến nhà ông để ngăn cấm ông đi dự đám tang. Họ đã không ngần ngại lấy cái chết vô cùng thương tâm của cặp vợ chồng nghệ sỹ nổi tiếng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh, để doạ ông.

Cái chết đầy bí hiểm của những nhân vật cao cấp trong bộ máy như Dương Bạch Mai, Hoàng Văn Thái hay Lê Trọng Tấn, v.v. vẫn còn là những nghi án lịch sử, mà thủ phạm đáng ngờ nhất lại chính là các “đồng chí” của họ.

Trong cuộc trò chuyện ngày 20/1/2013, Trung tướng Đặng Quốc Bảo (nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn, nguyên Trưởng ban Khoa giáo Trung ương) cho tôi biết là để bày tỏ những điều mà ông tâm huyết nhất về hiện tình đất nước, về tương lai giống nòi với các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, ông đã phải kèm theo những lời lẽ như thế này: “Nếu các anh muốn giết tôi thì dễ thôi vì tôi tự giết tôi. Tôi không còn sống được bao lâu nữa. Các anh không giết tôi thì rồi tôi cũng chết thôi” (!!!).

Nhiều người gặp tôi cũng không khỏi “thắc mắc” là tại sao tôi vẫn còn tồn tại trên đời này sau ngần ấy năm phải đương đầu trực diện với bao thế lực hắc ám. Tôi giải thích với họ rằng gia đình tôi cũng đã “no nê chê chán” với những “ân huệ” của họ, hết trại tâm thần đến nhà tù, cùng bao phen thoát chết trong gang tấc khác. Họ muốn bịt miệng chúng tôi nhưng thành bại lại do ý Trời; điều đó nằm ngoài ý chí của họ. Hơn 8 năm trước, tôi đến Đà Lạt là trên đường trốn chạy khỏi sự truy sát của họ, chứ hoàn toàn không phải tham quan du hí gì. Ngoài ra, nếu họ không giết chúng tôi thì còn có kẻ bán tín bán nghi, chứ họ xuống tay với chúng tôi rồi thì đến đứa trẻ cũng tin những gì chúng tôi tố cáo là sự thật.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Một góc khác của con người Hồ Chí Minh



Nguyễn Hưng Quốc - Một góc khác của con người Hồ Chí Minh






Thiếu niên Việt Nam đi ngang qua một cơ sở sản xuất tượng Hồ Chí Minh.




Lâu nay, trên sách báo chính thống trong nước, ai cũng ca ngợi Hồ Chí Minh. Được khen nhiều nhất, ngoài tài lãnh đạo, là khả năng cảm hoá người khác của ông. Theo những bức chân dung do hệ thống tuyên truyền của đảng Cộng sản tô vẽ, hầu như bất cứ người nào, từ các chính khách đến các văn nghệ sĩ, từ giới trí thức đến giới bình dân, từ người Việt Nam đến người ngoại quốc, hễ gặp Hồ Chí Minh một lần là kính phục và cảm mến ông ngay tức khắc. Cá tính và tài năng ngoại giao của Hồ Chí Minh gần như trở thành một huyền thoại.


Mới đây, trong một bài hồi ký về nhà thơ Lưu Trọng Lư, kịch tác gia Vũ Đình Phòng, một đảng viên Cộng sản, kể lại những câu chuyện hoàn toàn khác hẳn. Theo ông, ấn tượng mà Hồ Chí Minh để lại trong ký ức của Lưu Trọng Lư là một người “thô lỗ, cục cằn”; dưới mắt Hà Huy Giáp, Hồ Chí Minh là một người “khó tính” và nóng nảy; còn Đỗ Đức Dục, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá, thì thẳng thừng gọi Hồ Chí Minh là “một con người vô văn hoá”.


Nhưng Vũ Đình Phòng là ai?


Theo bản tiểu sử in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1997, tr. 520), Vũ Đình Phòng sinh ngày 18 tháng 11 năm 1933 tại Hải Phòng. Năm 1945, ông tham gia Cách mạng tháng Tám, sau đó, vào bộ đội. Năm 1954, trở về Hà Nội, ông làm trong Vụ nghệ thuật Bộ Văn hoá, rồi được cử sang Nga du học (1960-64) về ngành sân khấu. Về nước, ông làm việc ở Quảng Ninh một thời gian rồi về Hội sân khấu. Là hội viên Hội Nhà văn, ông xuất bản một số vở kịch và một số cuốn sách về lý luận và phê bình kịch nghệ. Ngoài ra, ông dịch cũng khá nhiều.


Hiện nay, về hưu, ông vẫn sống trong nước.


Dưới đây, tôi xin trích nguyên văn một số chuyện Vũ Đình Phòng kể liên quan đến Hồ Chí Minh theo bản đăng trên Viet-studies.info.


***


“Sau Hiệp nghị Genève, anh [Lưu Trọng] Lư được chuyển ra Hà Nội. Suốt thời gian Kháng chiến, từ Cách mạng Tháng Tám đến lúc ấy, anh chỉ ở Khu Bốn (miền Trung), chưa được nhìn thấy Bác bao giờ, cho nên ra Hà Nội, anh vẫn ao ước được “nhìn thấy” Bác bằng xương bằng thịt. Năm sau anh được phân về tham gia ban lãnh đạo Vụ Nghệ thuật, và được phân công đặc trách “khối Văn công”. Cuối năm ấy (1956), đột nhiên Vụ nhận được điện thoại từ Phủ Chủ tịch yêu cầu một điều, đại khái: “Mấy hôm nay Bác có vẻ buồn. Yêu cầu Vụ Nghệ thuật cử vài diễn viên ca múa và ngâm thơ lên tiêu khiển cho Bác.” Lệnh còn nói rõ: “Nhất thiết phải có nghệ sĩ ngâm thơ bằng giọng miền Trung.” Nhận được lệnh, anh Lư bàng hoàng, vậy là nhất định phen này sẽ được gặp Bác, thỏa nỗi ao ước bấy lâu, vì chắc chắn anh sẽ phải đích thân dẫn tốp văn công ấy lên Phủ Chủ tịch và có mặt trong lúc các diễn viên biểu diễn. Anh hồi hộp chờ cho mau đến giờ đi.


Lên đến Ba Đình, trong lúc các diễn viên vào một phòng nhỏ trang điểm và thay quần áo, anh thơ thẩn ngoài hành lang tòa nhà, bước chân lững thững và hồi hộp chờ … Đột nhiên anh thấy có bóng người từ cuối hành lang đi đến. Hành lang hơi tối nên lúc đầu anh không nhìn thấy mặt, nhưng anh đoán chính là “Bác”. Dáng người mảnh khảnh và bước chân nhanh nhẹn. Anh thấy tim mình đập mạnh. Anh đứng lại, chờ Bác đến để chào và tỏ lòng tôn kính. Nhưng bất ngờ thay, Cụ bước nhanh đến, cau mặt, gắt luôn: “Không có việc gì để làm à? Mà đứng thơ thẩn, lại hút thuốc thế này? Đi tìm xem có việc gì mà làm đi chứ”. Và trong lúc ông anh của tôi còn đang đứng ngẩn người, chưa biết đối đáp ra sao thì “Cụ” đã thoăn thoắt đi khuất vào hành lang phía đối diện và biến mất…” Đột nhiên anh cảm thấy không ngờ “ông Cụ” thô lỗ, cục cằn thế!” Bao nhiêu điều trước đây anh tưởng tượng ra, về một con người lịch lãm, biến mất sạch. Thay vào đấy là một cảm giác thất vọng tràn trề… ”


Kể xong câu chuyện này anh kết luận. “Đấy là một ấn tượng rất xấu về Bác mà suốt thời gian qua và có lẽ còn lâu sau này nữa, mình phải cố xóa nó đi trong ký ức. Cho đến hôm nay chưa phải đã xóa được hết!”


Về cách thức xử sự này của ông Hồ, về sau tôi đã được ông Hà Huy Giáp kể, sau khi ông nghe tôi đọc bản phác thảo ban đầu kịch bản “Kể chuyện Bác Hồ” (kịch bản sau đấy được viết lại rồi “bị” cưỡng bức nhận thêm tác giả thứ hai… Chính ông này đổi tên kịch bản thành “Người Công dân số Một”).


Ông Hà Huy Giáp kể rằng sau Đại Hội Hai, Đảng ra công khai, đổi tên thành Đảng Lao Động, Sau Đại hội, “Cụ” giữ ông Hà Huy Giáp ở lại (đoàn đại biểu Nam Bộ ra họp hình như chỉ có ba người) giúp Cụ. Ông Hà Huy Giáp ở bên Bác vài tháng. Và ông kể đại khái: “Bác rất nghiêm, nghiêm đến mức khó tính. Nghe thấy tiếng cười bên ngoài là Bác đang gõ máy chữ, cũng chạy ra mắng: “Không có việc gì à? Mà nhăn răng cười cợt thế kia? Tìm việc gì mà làm chứ. Có đống củi kia, ra mà bổ đi…” Cụ khó tính đến nỗi không ai dám bén mảng đến gần phòng của Bác. Chỉ khi Bác cho ai đi gọi thì mới dám đến…

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Đèn Cù tập 2: Bí ẩn cung đình đỏ và thân phận con người


Đèn Cù tập 2: Bí ẩn cung đình đỏ và thân phận con người


2014-11-25

kinhhoa11252014.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh




dencu-2-622.jpg
Bích chương quảng cáo Đèn Cù tập 2 của Trần Đĩnh.
Courtesy Người Việt Books


Tác phẩm Đèn cù phần 2 của nhà văn Trần Đĩnh sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian tới đây. Những dòng tự sự về thân phận con người trong chế độ cộng sản cũng như những bí ẩn chính trị bị che dấu tiếp tục được phơi bày. Sau đây là góc nhìn của một trong những độc giả đầu tiên của Đèn cù phần hai.


Hồng cung bí sử


“Ông Lê Trọng Nghĩa xuất thân là một sinh viên khoa Luật, thông thạo nhiều thứ tiếng. Năm 23 tuổi (tức 1945) ông làm thuyết khách gặp gỡ Trần Trọng Kim, thuyết phục chỉ huy Nhật ở Trại Bảo an binh và tham gia đàm phán với Tổng chỉ huy quân đội Nhật ở Hà Nội. Chia sẻ về công việc của mình, ông nói: "Tôi theo dõi tất cả các vấn đề có quan hệ tới đối phương như Pháp, Mỹ, và các nước khác có liên quan đến cách mạng Việt Nam. Dựa vào những tin tức đó, Bộ Chính trị đưa ra chủ trương, quyết sách". Giai đoạn Cách mạng Tháng 8, ông Nghĩa đại diện chính quyền Việt Minh liên hệ với quân đội Nhật. Chủ trương lúc đó của Việt Nam là chỉ huy quân giải phóng đánh vào quân Nhật đang co cụm ở Thái Nguyên để mở đường Nam tiến.”


Đó là đoạn trích từ bài báo ngày 11/10/2014 trên báo mạng Vnexpress tại Việt nam. Bài báo này ghi nhận cảm nghĩ của ông Lê Trọng Nghĩa về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời cũng ghi vắn tắt tiểu sử của ông Nghĩa, một người từng đứng đầu ngành tình báo Việt nam và giữ vai trò quan trọng nhất trong cuộc cướp chính quyền tháng Tám năm 1945.

Điều mà báo này không nhắc đến là chuyện ông Nghĩa bị bắt, không án trong cái gọi là vụ án xét lại chống Đảng.


“Sự thành công của cách mạng tháng tám
không phải là sự tổ chức sắc sảo từ đầu
đến cuối của đảng cộng sản Việt nam mà là
một khoảng trống về quyền lực lúc ấy trên
bán đảo Đông Dương.”
-Trần Đĩnh