Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu



Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu







Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại lễ khai mạc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế lần thứ 6





Tổng thống Mỹ Barack Obama mới qua Việt Nam và được hàng trăm ngàn dân Việt chờ đợi bên đường hoan nghênh nhiệt liệt. Chính quyền cộng sản cố tiếp đón ông Obama theo cách hờ hững, kém long trọng hơn cuộc tiếp rước Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mấy tháng trước.

Sau đó, khi dân Việt Nam đi biểu tình đòi bảo vệ môi trường sống, đả đảo công ty Formosa và các nhà thầu Trung Cộng, họ còn bị đàn áp mạnh mẽ. Việt Cộng cố bày tỏ lòng trung thành với các đồng chí anh em, nhưng Trung Cộng có hung hăng hơn đối với Mỹ để răn đe đàn em bốn tốt và 16 chữ vàng hay không? Nhiều dấu hiệu cho thấy họ đã đấu dịu.


Ngày Thứ Hai, 6 Tháng Sáu, 2016, tại Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình mới công khai bày tỏ ý kiến về mối bang giao Trung Quốc với Mỹ: “Điều cơ bản là hai nước phải giữ vững các nguyên tắc, là không xung đột hay đối đầu với nhau; kính trọng lẫn nhau, và hợp tác để cả hai cùng thắng lợi.” Tập Cận Bình tỏ ý muốn hai chính phủ phải tiếp tục đối thoại để nuôi dưỡng lòng tin tưởng và cộng tác với nhau.


Lời tuyên bố trên được đưa ra trong ngày khai mạc cuộc họp “Đối Thoại Chiến Lược Và Kinh Tế Mỹ-Trung” (US-China Strategic and Economic Dialogue, SED) lần thứ tám. Cuộc họp định kỳ này được Chủ Tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào và tổng thống Obama khởi đầu từ năm 2009. Năm nay, trong số hàng trăm viên chức cấp bộ trưởng tham dự, phía Trung Cộng có Ủy Viên Quốc Vụ Viện Dương Thiết Trì, Phó Thủ Tướng Vương Dương, và Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Chu Tiểu Xuyên và Tạ Chấn Hoa (Xi Zhenhua, 谢振华), phụ trách vấn đề khí hậu thay đổi; với các bộ trưởng hoặc thứ trưởng tài chánh, thương mại, giáo dục, canh nông, khoa học kỹ thuật, và văn hóa. Phía Mỹ có Ngoại Trưởng John Kerry và Bộ Trưởng Tài Chánh Jacob Lew. Trong hai ngày họp mặt, các bài thuyết trình tập trung vào các vấn đề kinh tế, thương mại, hợp tác khoa học và vấn đề khí hậu biến đổi, vân vân.


Nhưng trong cuộc gặp gỡ bàn những vấn đề kinh tế và chiến lược này, các mối bất đồng được nêu ra đều nhỏ. Mỹ muốn Trung Cộng giảm bớt việc sản cuất thép và nhôm vì các doanh nghiệp nhà nước dù lỗ vốn vẫn tiếp tục xuất cảng hàng dưới giá thành tràn gập thị trường thế giới. Trung Cộng muốn cuộc thảo luận về Hiệp Ước Đầu Tư Song Phương tiến nhanh hơn, và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ thông báo trước các quyết định về lãi suất vì nếu lãi suất ở Mỹ tăng lên thì đồng nhân dân tệ sẽ mất giá. Bên cạnh các đề tài trên, chủ đề gay go nhất, dù không được ghi trong ghị trình, vẫn là quan điểm xung khắc giữa Mỹ và Trung Cộng trong vùng Biển Đông nước ta.

Chính phủ Mỹ đã yêu cầu Trung Cộng phải tuân theo bản quyết định mà Tòa Trọng Tài Thường Trực Thế Giới sắp công bố, theo đơn kiện của chính phủ Philippines; mà Bắc Kinh đã báo trước sẽ không công nhận. Đồng thời Mỹ lên tiếng chỉ trích Trung Cộng đang gây thêm căng thẳng tại Biển Đông với các hành động biến các tảng đá ngầm thành căn cứ quân sự trong vùng biển đang còn tranh chấp. Đáp lại, Trung Cộng tố ngược rằng chính nước Mỹ đang gia tăng các hoạt động quân sự trong vùng!


Đối với các xung đột hiển nhiên đó, ông Tập Cận Bình đã nói rõ Trung Cộng không muốn đối đầu với Mỹ. Ngôn ngữ ông ta dùng rất ôn hòa, coi tình trạng “bất đồng ý kiến trên các vấn đề nhạy cảm” là hiện tượng dĩ nhiên phải diễn ra vì lịch sử, văn hóa hai nước khác nhau. Ông ta không nói gì về những lần phi cơ Mỹ và Trung Cộng nghênh nhau trên trời cũng như tàu chiến hai nước bám nhau ngoài biển! Ngược lại, ông giảng giải, “Không có lý do nào phải sợ các quan điểm bất đồng, điều quan trọng nhất là chúng ta không giữ một thái độ kình chống trên các điểm bất đồng đó.”


Tập Cận Bình giải thích thêm: “Nhiều điểm bất đồng có thể được giải quyết với những nỗ lực của hai bên khi cả hai đều cố gắng giải quyết.” Hơn nữa, “Những vấn đề chưa thể giải quyết được bây giờ thì hai bên nên nhìn nhận vị thế thực tế của nhau và giải quyết theo hướng xây dựng.” Tập Cận Bình dùng những hình ảnh hoa mỹ hơn, đề nghị Vùng Á Châu-Thái Bình Dương phải là một “đia bàn lớn bao dung lẫn nhau để hợp tác” (inclusive big ­platform for cooperation) chứ không phải là “một vùng cho các quốc gia thi thố đối đầu” (“arena for countries to leverage”)!


Mọi người có thể hiểu rằng Cộng Sản Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ, vì quân lực của họ chưa sẵn sàng. Nhưng lý do quan trọng nhất là nền kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ nếu xung đột vũ lực xẩy ra khiến hàng hóa không thể xuất cảng và tuyệt đường tiếp tế nguyên liệu và nhiên liệu. Khi hàng trăm triệu công nhân Trung Hoa theo nhau mất việc làm thì chỉ một năm hay nửa năm sau dân lục địa sẽ nổi loạn. Một hành động đấu dịu hiển nhiên là từ ba tuần qua các tàu hải giám của Trung Cộng đã ngưng không quấy nhiễu, để cho các thuyến đánh cá Phi Luật Tân được tự do hoạt động trong vùng biển hai bên đang tranh chấp.


Trước thái độ hòa hoãn của Tập Cận Bình, Ngoại Trưởng John Kerry đã khẳng định: “Lập trường của chúng tôi là các phe không được giải quyết những bất đồng (trong vùng Biển Đông) bằng những hành động đơn phương. Phải giải quyết bằng luật pháp, qua ngoại giao và thương thảo. Nước Mỹ kêu gọi các quốc gia hãy đi tìm các giải pháp ngoại giao, đặt nền tảng trên tiêu chuẩn quốc tế về tinh thần tôn trọng luật pháp.” Lời tuyên bố đó nhấn mạnh thêm ý kiến yêu cầu Trung Cộng phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Thế giới; và lên án việc Trung Cộng xây cất các phi tường và căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo.


Trước đó một ngày, trong cuộc hội họp Shangri-La tại Singapore, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter đã cảnh cáo Trung Cộng đang dựng lên một “Trường Thành Cô Lập” bằng các hành động quân sự hóa vùng Biển Đông. Để đáp lại, phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng, tướng Tôn Kiến Quốc (Sun Jianguo, 孙建国) chỉ phản ứng bằng một lời đe dọa ngầm chứa mối lo sợ bị các nước tẩy chay, khi ông ta nói rằng mọi âm mưu cô lập hóa Trung Quốc sẽ thất bại.


Ngay tại hội nghị Shangri-La, người ta đã thấy dấu hiệu Trung Cộng đang bị cô lập hơn, khi nước Pháp bắt đầu bầy tỏ thái độ về các xung đột tại Biển Đông. Chủ Nhật vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp Jean-Yves Le Drian đã nhắc tới và nhấn mạnh một luận điểm mà chính phủ Mỹ vẫn dùng làm căn bản chính sách của họ. Ông Le Drian kêu gọi hải quân các nước Châu Âu hãy thực hiện các cuộc hải hành “thường xuyên và biểu lộ rõ ràng” (regulier et visible) để chứng tỏ họ hiện diện trong vùng này. Mục đích của hành động đó là chứng tỏ các nước Châu Âu tuân thủ, tôn trọng luật pháp về biển và quyền tự do hàng hải. Ông Le Drian nêu những ý kiến cụ thể: “Nếu hôm nay mà luật biển không được tôn trọng tại vùng Nam Hải, thì ngày mai sẽ đến lượt các vùng biển Bắc Cực và Địa Trung Hải cũng như các nơi khác bị đe dọa.” Hai vùng biển được nêu tên trong câu này rõ ràng ám chỉ các hành động quân sự của chính phủ Nga tại biển Baltic và bở biển Syria.

Ông Le Drian cảnh báo, “Nếu chúng ta muốn ngăn ngừa mối nguy hiểm khi xung đột xảy ra, chúng ta phải bảo vệ quyền tự do hàng hải này, và chính chúng ta phải đứng ra bảo vệ,” ngầm nói rằng các nước Châu Âu không thể để cho một mình nước Mỹ đóng vai trò cảnh sát trên mặt biển!


Khi chính phủ Pháp nhập trận vào vùng biển Đông Nam Á, họ cũng chứng tỏ các nước khác ở Châu Âu không còn thờ ơ trước các hành động hung hãn của Trung Cộng. Một ngày sau khi ông Le Drian nói mạnh, chúng ta đã thấy phản ứng của Tập Cận Bình là đấu dịu.



Tuesday, June 7, 2016



Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

Trương Nhân Tuấn - Ngày "quốc khánh" của Việt Nam chắc sẽ sớm xảy ra hơn dự tính



Trương Nhân Tuấn - Ngày "quốc khánh" của Việt Nam chắc sẽ sớm xảy ra hơn dự tính








Ngày « quốc khánh » của Việt Nam chắc sẽ sớm xảy ra hơn dự tính. Dĩ nhiên nó không phải là ngày 2 tháng 9. Chữ « khánh » trong « quốc khánh 2-9 » là chữ khánh của « vui mừng ». Chữ « khánh » trong bài này là chữ khánh của « khánh tận », « khánh kiệt ». Ngày « quốc khánh » tức là ngày quốc gia khánh kiệt, tức phá sản. Ngày đó đang tới.


Theo định nghĩa thông thường, « phá sản » là khi anh không còn khả năng để trả nợ. Một cá nhân bị « phá sản » thì tài sản cá nhân bị « phát mại » để trả cho chủ nợ. Trường hợp phá sản của một quốc gia, ta có thể xem lại trường hợp nước Á Căn Đình (Argentine, năm 1998 và 2002), hay trường hợp Hy Lạp hiện nay. Hệ quả của quốc gia phá sản là người dân lãnh đủ : của cải quốc gia trở thành của cải nước ngoài, người dân nghèo càng thêm nghèo.


Hãy lắng nghe những lời chân thật của những người có trách nhiệm và hiểu biết về VN, ta thấy « tình hình thât là tình hình ».


Anh Tư Sang hôm rồi than thở với cử tri : nợ công tăng nhanh hơn mức tăng trưởng GDP tới 3 lần. Số nợ công đã vượt mức « báo động » là 65% GDP (là mức mà quốc hội cho phép). Đây là con số chính thức của cơ quan thống kê nhà nước.


Con số này chưa tính vào số nợ của các tập đoàn xí nghiệp quốc doanh. Báo chí trong ngoài nước cho biết « những quả đấm thép của nền kinh tế Việt Nam có tổng nợ phải trả năm 2014 lên tới hơn 1,7 triệu tỷ đồng tương đương 44,2% tổng sản phẩm nội địa GDP ».


Các tập đoàn kinh tế quốc doanh dĩ nhiên do nhà nước bảo trợ. Khi các xí nghiệp này mượn nợ nước ngoài thì có nhà nước bảo đảm sau lưng. Con số (nợ) 44,2% tổng sản lượng sản phẩm nội địa là con số kinh khủng.


Ước lượng số nợ công của VN phải ở mức từ 100% đến 200% GDP.


Mà nợ công càng tăng thì tiền lời càng tăng. Việt Nam hiện nay phải dùng đến 25% ngân sách quốc gia cho việc trả nợ.


Tình trạng của VN hiện nay là phải đi vay nợ để trả nợ. Bởi vì các nguồn thu của ngân sách đang gặp bế tắc.


Nguồn thu lớn nhứt của ngân sách là dầu khí, chiếm từ 15% đến 25%. Giá dầu hiện nay thấp dưới mức khai thác có lời (60 đô/thùng). Tức là, với giá dầu 40 đô/thùng hiện nay, VN không thể khai thác dàu nữa.


Các nguồn tài nguyên khác như than đá, gỗ, các mỏ khoáng sản khác… thì đã cạn kiệt.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Lê Văn - Vì sao VN thoái vốn nhà nước ở 10 công ty? Một công đôi ba việc!!!



Lê Văn - Vì sao VN thoái vốn nhà nước ở 10 công ty? Một công đôi ba việc!!!








Lê Văn (Danlambao) - Câu hỏi lớn là tại sao (CS) VN lại thoái vốn nhà nước hay bán cổ phần ở 10 công ty vào lúc nầy?

10 công ty nầy ắt phải là những công ty làm ăn có lời như Vinamilk và chín doanh nghiệp khác thì cổ phần mới có giá và có người mua tức là việc bán nầy phải “đạt được lợi ích cao nhất”. Chỉ thị nầy làm cho người nghe có cảm giác đây là một chiến lược thoái vốn thần kỳ.

Tại sao lại không thoái vốn nhà nước ở các công ty khác, nơi mà các công ty làm ăn lỗ lã triền miên sống được là nhờ tiền tiếp máu từ ngân sách nhà nước tức là tiền thuế của dân để một mặt vừa lấy lại vốn vừa khỏi phải tiếp tục bù lỗ mãi hết năm nầy đến tháng nọ.

Có phải VN sau khi chấp nhận thỏa ước TPP phải bắt đầu thi hành theo các qui định và việc thoái vốn nhà nước ở 10 công ty nầy là bước khởi đầu, nhưng theo qui định thì TPP chỉ chính thức được áp dụng sau khi được phê chuẩn bởi Quốc hội của từng quốc gia ký kết, điều nầy phải cần thời gian … nhưng tại sao VN lại nhanh chân hơn nhiều nước khác kể cả Mỹ???

Đang có một số nghi vấn mà giới theo dõi nội tình CSVN chú ý là nó không hẳn chỉ đơn giản như tuyên bố của nhà nước CSVN, một ý kiến phân tích trong vùng cho rằng, “Nhóm lợi ích thực tế” gọi tắt là “phe ThT” được các nước lớn ngoài Trung Quốc hổ trợ để lôi kéo VN vào sân chơi TPP mới, nhóm nầy đang thắng thế vì chứng minh rằng kinh tế VN theo đà hiện nay là “kinh tế nhiều thành phần nhưng lấy quốc doanh làm chủ đạo” đang ngày càng kiệt quệ không còn cách nào khác là phải hội nhập với thế giới bên ngoài nếu muốn tránh khỏi sự sụp đổ đưa đến nguy cơ sụp đổ cả chế độ và TPP coi như là hiệp thắng đầu tiên của “Nhóm lợi ích thực tế” đối với “Nhóm lợi ích truyền thống” hay cánh bảo thủ.

Phe lợi ích truyền thống đang càng yếu thế một phần vì lý do trên mặt khác qua vụ khủng hoảng HD-981 chính ngay trong nội bộ phe bảo thủ bị phân hóa TBT-NPT phải thân chinh đi Mỹ, BT-PQT gần như bị loại, tai mắt cho TC bị mang ra xử…

Cán cân quyền lực đang bất phân thắng bại vì còn phải thêm 2 hội nghị trung ương 13 & 14 nữa, cuộc đọ sức đang đi vào giai đoạn quyết liệt và chuyện cổ phần hóa vào lúc nầy chắc phải có dụng ý riêng của nó.

Người ta đã chứng kiến chuyện tham nhũng đã lên đến mức siêu như cấu kết nhau để giải tỏa cướp đất dân bán lại cho các công trình vĩ đại bằng giá rẻ mạt, có sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ giữa UBND tỉnh thành quận xã, Ban dân vận, tuyên giáo, tôn giáo, thanh niên, phụ nữ đặc biệt là bộ đội nay cũng bắt đầu tham chiến và nhứt là luôn có mặt của Công An cùng các nhóm côn đồ đánh thuê chém mướn.

Người ta đã không lấy làm lạ là tham nhũng đã biến chứng thành những nhóm lợi ích chia chác nhau qua các công trình lớn và các nhóm nầy cũng đang biến dạng thành những cuộc chia chác kinh tế mới qua việc cổ phần hóa mà chỉ có người cùng phe mới có phần qua đó để đạt các thỏa hiệp trong các quyết định về chính trị.

Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Nhà chí sĩ Quốc Gia lỗi lạc, đã luôn nhắc nhở cho dù là phe bảo thủ hay cải cách, cho dù là phe thực tế hay nhóm truyền thống, để tránh sự sụp đổ toàn diện và bị phán xét bởi Công lý, cả hai cuối cùng sẽ phải thỏa hiệp với nhau để củng cố sự thống trị.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Trần Diệu Chân - TPP: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam



Trần Diệu Chân - TPP: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam










Hiệp Ước Đối Tác Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được thông qua vào lúc 5g sáng, giờ địa phương Atlanta, Hoa Kỳ, ngày 5-10-2015.

12 quốc gia thành viên bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Malaysia, Mexico, New Zealand, Nhật Bản, Peru, Singapore và Việt Nam. Tổng sản lượng quốc gia GDP của khối là 28,5 ngàn tỷ USD, tương đương với 40% GDP toàn cầu, và là một thị trường với 600 triệu dân.

Sau khi kết thúc đàm phán, TPP được ghi nhận là một thỏa thuận lịch sử, mở ra một tương lai mới cho kinh tế thế giới.

Là quốc gia thành viên yếu kém nhất trong TPP, Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều nhất nếu biết khai thác cơ hội này. Tuy nhiên, cơ hội lớn cũng đem lại các thách thức nghiêm trọng mà chúng ta cần phải tỉnh táo nhận định cho tương lai lâu dài của dân tộc.


TPP và cơ hội mới


Nền kinh tế VN nói chung sẽ gia tăng xuất khẩu một số mặt hàng (hàng dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản) do thuế suất giảm, gia tăng đầu tư ngoại quốc, tăng trưởng kinh tế, cải thiện kỹ năng và đời sống người dân (với sản phẩm chất lượng cao, vệ sinh và an toàn, giá rẻ), chấm dứt nạn nhập siêu quá lớn từ hàng hóa Trung Quốc. Theo các điều kiện pháp lý, Việt Nam sẽ phải thay đổi cơ chế theo thị trường, cải tổ luật kinh tế, bảo vệ bản quyền trí tuệ, và quyền lợi của doanh nghiệp tư nhân sẽ do pháp trị định đoạt.

Là thành viên TPP, Việt Nam sẽ phải cam kết thi hành hai điều không có trong WTO. Thứ nhất là cam kết công khai hóa về đầu tư công, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh và vấn đề quản trị, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước… Thứ hai là phải điều chỉnh những điều không trực tiếp mang tính thương mại nhưng có liên quan đến thương mại như quyền của người lao động, quyền thành lập công đoàn và các tổ chức xã hội dân sự, bảo vệ môi trường, chống buôn bán động vật hoang dã và thực hiện công ước CITES để bảo vệ các loài động/thực vật hoang dã bị nguy cơ diệt chủng.

Những cam kết tiến đến “nền kinh tế thị trường” đúng nghĩa và tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cũng như công nhận sự hoạt động của các công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi người lao động ... đều giúp chuyển biến xã hội VN theo hướng có lợi cho dân tộc.

Quan trọng nhất là khi Việt Nam gần gũi với Mỹ sẽ gia tăng cơ hội thoát Trung và chống lại chính sách bành trướng của Bắc Kinh. Cụ thể là sự đòi hỏi của luật TPP liên quan tới những sản phẩm xuất khẩu không được sử dụng nguyên vật liệu từ các quốc gia ngoài khối, sẽ khiến VN giảm lệ thuộc nhập cảng từ Trung Quốc.


TPP và những thách thức


Trong ngắn hạn khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm dần tới 0% khiến doanh thu về thuế giảm, nhập khẩu tăng trong khi xuất khẩu giảm do không cạnh tranh lại với phẩm chất hàng ngoại quốc, và các mặt hàng nội địa yếu kém có nguy cơ bị tiêu diệt (như ngành chăn nuôi, lâm nghiệp, sản phẩm gỗ, khoáng sản, công nghiệp). Trong trung và dài hạn, VN sẽ không còn khả năng duy trì lợi thế về lao động giá rẻ, trong khi nhu cầu về lao động có kỹ năng lại gia tăng.

Các tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ sẽ khiến cho doanh nghiệp và người dân phải mất chi phí cao hơn cho các bản quyền nhu liệu cũng như các sáng chế liên quan đến sản xuất thuốc men.

Các công cụ điều hành kinh tế của Chính phủ và Ngân hàng sẽ giảm hiệu lực vì bị phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới. Ngành ngân hàng sẽ chịu sức ép cạnh tranh rất lớn của các tập đoàn tài chính thuộc các nước thành viên với các dịch vụ đa dạng. Các doanh nghiệp hưởng lợi từ hoạt động chi tiêu công của chính phủ sẽ bị cạnh tranh trực tiếp khi phải đấu thầu với các nhà thầu nước ngoài thay vì cơ chế chỉ định thầu.

Nếu không chuẩn bị kỹ, những lợi thế và bất lợi của TPP sẽ đan xen vào nhau, dẫn đến mất kiểm soát.

Tuy TPP có đem lại một thắng lợi “tâm lý” quan trọng, đó là tạo ra niềm phấn khởi cho người dân trong tình cảnh bi đát của đất nước ngày hôm nay, nhưng do tư duy và hệ thống chính trị-kinh tế lạc hậu, Việt Nam cần thời gian, nỗ lực và thiện chí để có những thay đổi thích hợp hầu có thể đạt được những thành quả và tránh bị những thách đố mới hủy hoại, thí dụ:

1. Cường độ cạnh tranh từ những sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc, Thái Lan và các mặt hàng chất lượng cao của hàng Âu, Mỹ, Nhật sẽ tiêu diệt hàng nội địa. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong môi trường kinh tế mang tính “ăn xổi ở thì” và thiếu hiểu biết về luật pháp quốc tế, do đó mà khi hội nhập vào TPP, doanh nghiệp Việt Nam chỉ loay hoay trong sân chơi của mình, trong khi các doanh nghiệp của những quốc gia thành viên TPP sẽ nhảy vào đầu tư ở Việt Nam để “đón sóng” TPP, nhất là các ngành da giày, dệt may - những ngành được cho là thế mạnh của VN. Việt Nam sẽ tiếp tục mất đi cơ hội chủ động kinh tế mà chỉ đi làm công cho các hãng xưởng ngoại quốc.

Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là phải nhanh chóng tái cấu trúc nền kinh tế, qua đó đẩy mạnh phát triển khu vực tư doanh để tận dụng sự nhạy bén thị trường của giới doanh nhân, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ quản trị thì mới có thể tham gia vào sự cạnh tranh đầy hứa hẹn của TPP. Nếu không thì hàng hóa, sản phẩm của Việt Nam tiếp tục đứng ở bảng thấp nhất trong các nước.

2. Chênh lệch giàu nghèo gia tăng do tham nhũng từ hệ thống chính trị độc tài, và sân chơi bất bình đẳng dành cho những nhóm lợi ích và quyền thế - không kịp và không thể cải sửa theo đòi hỏi của TPP. Do đó, áp lực cải tổ chính trị song song với những cải tổ kinh tế để loại trừ tham nhũng, để đáp ứng với sự cần thiết về minh bạch sổ sách, chi tiêu công, đầu tư v...v... càng gia tăng khi VN gia nhập TPP.

Chúng ta không thể ngây thơ hay ảo tưởng tin rằng khi giàu có, thịnh vượng hơn và tiếp cận với Hoa Kỳ cũng như các quốc gia dân chủ thì các chính quyền độc tài sẽ “tự diễn biến” và trở nên dân chủ hơn, tôn trọng nhân quyền hơn. Trung Quốc là một thí dụ điển hình, và VN trong suốt gần 30 năm mở cửa giao thương kinh tế với thế giới tự do, những quyền căn bản của người dân vẫn bị vi phạm trầm trọng.


Kết luận:


TPP là một công cụ nằm trong chiến lược xoay trục về Á Châu Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, bằng cách dùng các ảnh hưởng kinh tế để hình thành một liên minh chống lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Với tham vọng bành trướng, Trung Quốc qua chiến lược “Con Đường Tơ Lụa” sẽ nối kết 64 quốc gia trong khu vực với tổng nhân số lên đến 4,4 tỷ người, chiếm 29% GDP của cả thế giới.

Điều này cho thấy là tại Á Châu sẽ có hai thị trường lớn được hình thành song song, trong đó TPP có nhiều ưu thế hơn vì là thị trường có hai cường quốc Hoa Kỳ và Nhật Bản dẫn đầu.

Nếu CSVN chọn lựa tiếp tục đu dây như hiện nay để tham gia vào cả hai thị trường TPP và “Con đường tơ lụa của Bắc Kinh” do tư duy “thần phục Bắc Triều” chưa thay đổi, thì việc đu dây bây giờ sẽ bị chính những thành viên TPP tạo áp lực và bị chế tài vì không chu toàn trách nhiệm. Hy vọng, TPP là một cơ hội để thoát khỏi gọng kềm Bắc Phương với những nỗ lực tranh đấu không khoan nhượng của toàn dân.

Những đòi hỏi của TPP tự chúng không bảo đảm sự tôn trọng đầy đủ quyền con người và quyền lao động ở Việt Nam nhưng là những bước cần thiết và quan trọng để đi đúng hướng.

Nhiều người hy vọng là qua Hiệp định TPP, CSVN sẽ phải công nhận quyền thành lập Công Đoàn Độc Lập của người lao động tại Việt Nam, chấm dứt sự khống chế của Tổng liên đoàn lao động như trong những năm vừa qua. Và khi Công Đoàn Độc Lập xuất hiện thì dù có luật hay không có luật về quyền lập hội, lần lượt các tổ chức, đoàn thể xã hội và chính trị sẽ ra đời hoạt động công khai như các đoàn thể xã hội dân sự hiện nay.

Nhưng cũng có người không lạc quan như thế mà cho rằng, CSVN sẽ tiếp tục trì hoãn bằng cách giao cho quốc hội nghiên cứu nhưng không bao giờ mang ra biểu quyết như tình trạng về Luật Biểu Tình, Luật về Quyền Lập Hội hiện nay. Hơn thế nữa, trong lúc cần Hoa Kỳ và Nhật Bản ủng hộ cho việc tham gia TPP, CSVN sẽ hứa làm tất cả, nhưng sau khi gia nhập rồi thì Hà Nội làm ngơ, hay đàn áp thô bạo hơn. Sự tráo trở của Hà Nội khiến cho người ta không tin vào các cam kết của CSVN.

Tuy nhiên, nếu chúng ta coi các ràng buộc về quyền của người lao động, sự hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự trong TPP là những cam kết mà các quốc gia thành viên của TPP phải thi hành, thì đó là những lý cớ tốt nhất để tiếp tục vận động tạo áp lực buộc Hà Nội phải tôn trọng.

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Bùi Tín - Thảm họa từ sân sau cửa hậu



Bùi Tín - Thảm họa từ sân sau cửa hậu





tham hoa tu san sau cua hau.jpg



Gần đây, nhiều bài viết và phỏng vấn từ trong nước làm rùm beng về một định nghĩa mới của khái niệm “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho rằng đây là một định nghĩa mới mẻ, sáng tạo, rất nên thảo luận rộng rãi để áp dụng vào cuộc sống.

Cái định nghĩa mới ấy là gì? Là: “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Việt Nam trong thời kỳ hiện đại và hội nhập quốc tế”, lấy ra từ dự thảo văn kiện Đại hội XII, chưa được công bố chính thức cho toàn đảng và toàn dân tham gia góp ý.

Đó là một định nghĩa dài dòng, lòng thòng hơn trước, có thêm 2 chữ ”Việt Nam”, thêm các chữ “vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật của kinh tế thị trường” và thêm: “phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trong thời hiện đại và hội nhập quốc tế”.

Cái định nghĩa này kéo dài ra như để có vẻ làm dáng, cao xa, thông thái hơn, nhưng thật ra vẫn còn hoàn toàn tù mù, mơ hồ như cũ, vì nó không hề cho biết nội hàm của khái niệm “xã hội chủ nghĩa” là gì, nó là cái chi chi? Xin nhắc lại nhận định của ông Bộ trưỏng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh: “Cái định hướng XHCN làm gì có thật trong thực tế mà cứ mất công đi tìm?”. Ý kiến xác đáng này vẫn không hề được giải tỏa trong cái định nghĩa lòng thòng mới, có vẻ kinh điển và sáng tạo.

Còn có nhiều vấn đề không kém phần hệ trọng. Khi còn sống, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chỉ ra một trong những điều nguy hiểm tệ hại nhất. Đó là những cán bộ của đảng CS vừa đưọc phân công nắm chính sách, lại chính những người đó lại được giao cho trách nhiệm điều hành việc kinh doanh các tổng công ty và công ty kinh doanh của Nhà nước. Đó là cái nguy cơ “vừa đá bóng vừa thổi còi”, lý do chính làm cho cả nền kinh tế và nền tài chính hỗn loạn. Ông Kiệt nói rõ dây là kinh nghiệm sinh động do ông Lý Quang Diệu trình bày kỹ càng qua kinh nghiệm sống của Singapore.

Ông Kiệt cho rằng các bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, vụ trưởng vv…là những người chuyên nắm chính sách, quản lý việc thi hành chính sách không được kiêm nhiệm làm kinh doanh trong các tổng công ty hay các ngân hàng của Nhà nước. Nếu làm ẩu, lẫn lộn chức năng như thế sẽ làm chính sách không nghiêm, bị méo mó, kinh doanh bị hỗn lọan, nhà nước, công quỹ, ngân sách, nghĩa là tiền của nhân dân sẽ bị tổn thất, mất mát quy mô lớn vào túi các quan tham.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt thay Đỗ Mười làm thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, sau đó là Phan Văn Khải, người miền Nam được đào tạo từ Liên Xô cũ. Từ năm 1989 đã có Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư của chính phủ để chỉ đạo công tác hợp tác và đầu tư với nước ngoài. Tháng 6 năm 2005, ông Khải ký Quyết định 151, thành lập Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước – SCIC - State Capital Investment Corporation. Thảm họa kinh tế tài chính ngày càng lớn của đất nước ta bắt đầu từ đây, theo đúng dự báo của ông “thầy” Lý Quang Diệu, trúng theo mối lo lớn của ông Kiệt, đúng lúc khi nguồn FDI và ODA bắt đầu chảy vào dồi dào.

Trong ban chỉ đạo, điều hành SCIC do thủ tướng chỉ định đều là các chức sắc của chính phủ và các bộ, gồm các phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng các ngành kinh tế tài chính. Từ đó, các vị này vừa làm chức vụ quản lý chính sách ở cổng trước, ở “công đưòng”, ăn lương to của nhà nước do “tay cầm chính sách, tay cầm chủ trương”, còn ở cổng sau, cổng hậu, còn gọi là sân sau, là tham gia cái gọi là “điều hành kinh doanh” bằng vốn ê hề của nhà nước, tức là của nhân dân, để được ăn chia lăi lớn, lãi nhỏ, ăn chia “hoa hồng”, tiền thưởng khi mỗi dự án được thông qua và thực hiện, trong khi đất nước có dăm bảy ngàn dự án lớn nhỏ có giá trị vài chục tỷ đôla mỗi năm. Hàng trăm phong bì nặng nhận từ cổng hậu, sân sau mỗi tháng cho mỗi vị có thể dự đoán là gấp trăm lần lương chính. Nó được chia cho những ai? Cho các vị trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng, Tổng Thanh tra chính phủ, Trưởng ban Kiểm toán của nhà nước… do bộ tứ cao nhất của quyền lực đồng thuận điều phối phân chia. Chả thế mà có vị ở trong cuộc lớn tiếng cho rằng “đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường”! Do đó mà rất nhiều công ty quốc doanh lãi thật nhưng lỗ giả, luôn thực hiện 2, 3 bản báo cáo, kế toán, thống kê khác nhau, 1 cho bản thân lưu giữ (tuyệt mật), 1 cho cấp trên (mật), 1 nữa cho hồ sơ công khai đưọc cấp trên duyệt.

Đây là cuộc tham nhũng công khai, “hợp pháp”, cuộc ăn cắp khổng lồ của “nhà nước nhân dân”, của “đảng CS của dân, do dân, vì dân”, được che đậy kín đáo, không lộ liễu như những cuộc cướp đất của các cường hào cộng sản ở khắp nơi, tệ hại không kém.

Chính đây là lý do tại sao tài sản của các quan chức CS tham nhũng lại kinh khủng đến vậy, như Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Trần Văn Truyền, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Trường Tô, Trần Đại Quang, Dương Chí Dũng, Phạm Quý Ngọ…đều lớn gấp bội các nhà điền chủ Nam bộ xưa, các đại địa chủ và tư bản thời Pháp.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - Tôi Lậy Mấy Ông




S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - Tôi Lậy Mấy Ông







“Xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ nầy không biết đã có CNXH hoàn thiện ở VN hay chưa.”


Ngày 6 tháng 10 năm 2014, báo Tuổi Trẻ đi tin:


Ông Phạm Hồng Thái (50 tuổi, trú thôn Tân Phong, xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn, Quảng Nam) uống thuốc diệt cỏ tự tử vì bị nghi oan  lấy trộm 9,2 triệu đồng của người cùng xóm.


Trong bức thư viết trên giấy học trò gửi công an huyện Nông Sơn, ông Thái viết: “Tôi mong mấy ông điều tra lại cho kỹ giùm tôi, tôi bị oan, tôi chỉ biết lấy cái chết làm trong sạch mà thôi. Khi mấy ông nhận lá đơn này là tôi đã đi rồi.”


Còn thư gửi người bị mất tiền, ông Thái viết: “Tao chết rồi không phải vì tao lấy tiền của mi đâu. Tao buồn là bạn bè mấy chục năm tan như mây khói. Mấy ổng đánh tao quá, tao phải nhận bừa.”




Nguồn ảnh: phunuonline


Công an Việt Nam dùng nhục hình bức cung hay đánh chết dân là chuyện thường ngày nhưng ngôn ngữ khoan hoà của nạn nhân (qua cả hai bức thư tuyệt mạng) khiến tôi cứ băn khoăn mãi:


“Tôi mong mấy ông điều tra lại cho kỹ giùm tôi, tôi bị oan, tôi chỉ biết lấy cái chết làm trong sạch mà thôi. Khi mấy ông nhận lá đơn này là tôi đã đi rồi” và “Tao chết rồi không phải vì tao lấy tiền của mi đâu. Tao buồn là bạn bè mấy chục năm tan như mây khói. Mấy ổng đánh tao quá, tao phải nhận bừa.”

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

(VNTB) - Khủng hoảng ngân sách trầm trọng và nguy cơ đổ vỡ nền kinh tế



(VNTB) - Khủng hoảng ngân sách trầm trọng và nguy cơ đổ vỡ nền kinh tế







Những con số khác xa


(VNTB) - Đã bắt đầu thời kỳ khủng hoảng ngân sách trầm trọng, đó là hậu quả tất yếu của thời kỳ lãng phí ngân sách, đầu tư ồ ạt vào các dự án kinh tế của nhà nước.

Bội chi ngân sách diễn ra liên tục hàng chục năm qua, kéo theo nợ công cũng gia tăng tương ứng. Mức thâm hụt ngân sách của VN rất cao so với các nước trong khu vực.

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thâm hụt ngân sách của VN không dưới 6%GDP/năm. Các tổ chức quốc tế đưa ra những con số khác xa với báo cáo của Bộ Tài chính. Ví dụ năm 2009, con số thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc theo báo cáo của Bộ Tài chính là 3,7% GDP, trong khi đó con số tương ứng do ADB và IMF công bố cao hơn nhiều, lần lượt là 6,6% và 9,0% GDP.


Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng 411 tỉ đồng


Ngân sách lãng phí vào việc gì?


Thứ nhất, lãng phí chi phí hội họp. Không biết trên thế giới có nước nào họp hành nhiều bằng VN hay không? Cán bộ nhà nước từ cấp xã đến cấp trung ương họp hành liên miên, những cuộc họp lê thê với những phát biểu kiểu ‘định hướng’ dài dòng mất thời gian cứ lập đi lập lại. Việc lãng phí như thế nào, tiêu tốn ngân sách bao nhiêu chắc không cần phải nhắc lại. Tình trạng này kéo dài suốt mấy chục năm và trở thành đặc trưng của bộ máy công quyền.

Thứ hai, lãng phí chi phí cho cán bộ nhà nước đi học. Đủ các hình thức học: học nâng cao trình độ văn hóa, học bồi dưỡng nghiệp vụ, học quản lý hành chính, học lý luận chính trị và ra nước ngoài học tập…

Thứ ba, lãng phí chi phí xây dựng tượng đài. Tượng đài mọc lên khắp nơi, nhiều nhất là những tượng đài để ‘ghi chiến công’ của cách mạng, đặc biệt có rất nhiều tượng đài rất lớn. Một sự thật đắng lòng: Tượng đài là loại công trình bị rút ruột, tham nhũng nhiều nhất.


Thứ tư, lãng phí chi phí xây dựng trụ sở, nhất là trụ sở đảng ủy, thành ủy, huyện ủy, ban dân vận, ban tuyên giáo, trung tâm bồi dưỡng chính trị…Bộ máy cồng kềnh khiến ngân sách phải cõng chi phí xây dựng trụ sở quá mức.

Thứ năm, lãng phí cho quỹ lương. Ai cũng hiểu cán bộ công chức nhà nước làm việc năng suất thấp, đánh cắp thời gian làm việc. Nhiều cán bộ sáng cấp ô đi, chiều cấp ô về, chẳng làm được bao nhiêu việc, vào cơ quan đùa giỡn, chơi game, tán gẫu…

Thứ sáu, lãng phí mua sắm. Mua sắm ô tô, văn phòng phẩm, sửa chữa…

Còn bao nhiêu lãng phí nữa? Chắc chắn còn nhiều.

Tham nhũng, tham ô đã làm thất thoát ngân sách không ít. Ai cũng đã hiểu, nên cũng không kể thêm ở đây. Tôi muốn nhấn mạnh một tổn thất to lớn cho ngân sách song hành với vấn nạn tham nhũng chính là chi đầu tư phát triển.

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Trung Quốc đang có ý đồ gì ở Việt Nam?


Trung Quốc đang có ý đồ gì ở Việt Nam?



Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-03-14


03142014-dbtn-nn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh



cong_nhan_TQ-305
Công nhân Trung Quốc tham gia thi công Nhà máy
Nhiệt điện Hải Phòng giờ tan ca.
Courtesy BHP     


Dư luận Việt Nam thể hiện qua báo chí và các diễn đàn trên mạng đang bày tỏ sự quan tâm rất lớn về hiện tượng người Trung Quốc xâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam và với cung cách đặc biệt khác thường. Câu hỏi đặt ra là phía sau những hành động đó ẩn khuất những mưu toan gì cả về kinh tế lẫn chính trị?


Kinh tế hay chính trị?



Trả lời Nam Nguyên tối 13/3/2014, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định:


“Sự lo ngại trong công luận của Việt Nam rất là lớn, tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh công an vào họ cũng không cho vào. Như vậy ở đấy thành ra lãnh địa của Trung Quốc rồi chứ còn gì nữa!


Và nhân kinh nghiệm ở Ukraina làm người ta cũng liên tưởng đến, nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy Trung Quốc lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra làm sao?”



“Nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ
kiều dân Nga ở Ukraina, thì cũng rất có thể
đến một ngày nào đấy TQ lấy lý do để bảo
vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ
cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ
ra làm sao?”
-TS Lê Đăng Doanh



Mô tả thực chất các hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà dư luận cho là bất thường, có thể tiềm ẩn những toan tính khó hiểu. TS Lê Đăng Doanh phân tích:


“Đầu tư chính thức nước ngoài của Trung Quốc vào Việt Nam thì không lớn nhưng mà Trung Quốc vì nhiều lý do, trong đó có lý do Việt Nam xây nhà máy điện nhưng không có vốn lại vay từ quỹ xuất khẩu của Trung Quốc, cho nên phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc công nghệ Trung Quốc. Thứ hai nữa, Trung Quốc có những cách làm không phù hợp với luật pháp của bất kỳ nước nào là đút lót để mua lại của các doanh nghiệp Việt Nam các mỏ các khoáng sản là cái mà Trung Quốc hiện nay đang rất cần và thứ ba là Trung Quốc cũng mua lại công ty CP là công ty hiện nay chiếm 70% thị trường thức ăn gia súc của Việt Nam. Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện nay Trung Quốc có những dự án ở Tây Nguyên là vùng địa bàn chiến lược về mặt quân sự cũng như về mặt chiến lược đối với Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, khác với các nước khác Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và người dân không biết trong đấy họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây.”


Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ bày tỏ sự đồng tình với  công luận. Theo đó, về mặt kinh tế thì Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc khá nhiều mặt, nhất là tình trạng nhập siêu nặng nề. Từ trước đến nay có khá nhiều dự án của Trung Quốc vào Việt Nam không qua kênh đầu tư trực tiếp mà qua đấu thầu, trúng thầu EPC cho các nhà máy quan trọng của Việt Nam như điện, cảng biển, hóa chất….Bà Phạm Chi Lan tiếp lời:


cong_nhan_TQ-2-250
Công nhân TQ thuộc tập đoàn điện khí Dong Fang
đang thi công tại VN. File photo.