Nguyễn Hưng Quốc - Các mức độ phê phán
Blogger Phạm Viết Ðào nguyên là một quan chức của Bộ Văn hóa. Ông bị tuyên án 15 tháng tù ngày 19/3 về tội gọi là 'lạm dụng các quyền dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước', chiếu theo Điều 258 của Bộ Luật Hình sự.
Lâu nay, ở trong nước, có nhiều người, kể cả đảng viên, có khi là những đảng viên cao cấp, lên tiếng phê phán chính quyền và được xem là những nhà phản biện hoặc những nhà tranh đấu cho dân chủ. Tuy nhiên, theo dõi kỹ những lời phát biểu của họ, chúng ta thấy là sự phê phán của họ, cho dù gay gắt đến mấy, cũng thuộc nhiều phạm vi và với những mức độ khác nhau. Các giải pháp được đề nghị để giải quyết vấn đề cũng khác nhau.
Thứ nhất, một số khá lớn chỉ dừng lại ở phạm vi chính sách. Theo họ, trong suốt mấy chục năm cầm quyền, đặc biệt từ sau năm 1954, ở miền Bắc và sau năm 1975, trong cả nước, đảng Cộng sản Việt Nam đã có một số chính sách không đúng và cũng không hoàn toàn có lợi. Được chú ý nhiều nhất là chính sách cải cách ruộng đất, gắn liền với các màn đấu tố khốc liệt ở miền Bắc; chính sách đàn áp và kềm kẹp văn nghệ sĩ, tiêu biểu nhất là qua vụ án Nhân Văn Giai Phẩm; chính sách liên quan đến cái gọi là vụ án chống xét lại châu tuần chung quanh cách đối xử với Võ Nguyên Giáp và một số cán bộ trí thức bị xem là thân Nga; chính sách đối với công chức và sĩ quan dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũng như những người được xem là tư sản mại bản ở miền Nam, v.v…
Ở phạm vi này, thái độ phê phán có thể được chia thành hai cấp độ khác nhau: Một, thẳng thắn cho các chính sách ấy vừa sai vừa xấu, vừa xuất phát từ tầm nhìn thiển cận vừa xuất phát từ những động cơ hẹp hòi, bảo thủ và giáo điều, thậm chí, nô lệ dưới ảnh hưởng và áp lực đến từ Trung Cộng. Hai, cho các chính sách tuy sai nhưng không hẳn xấu. Sai, chủ yếu vì những hạn chế trong nhận thức; nhưng không xấu vì chúng xuất phát từ nhiệt tình và thiện chí, dù là một cách ngây thơ, đối với đất nước và cách mạng.
Biện pháp để giải quyết các sai lầm trong chính sách khá đơn giản, hầu như được mọi người đề nghị giống nhau: đi sâu sát vào quần chúng, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng và lắng nghe ý kiến của quần chúng.
Thứ hai, tập trung sự phê phán vào một số cá nhân, chủ yếu là một số nhà lãnh đạo cao cấp nào đó. Bị phê phán nhiều nhất là Lê Duẩn, Trường Chinh và Lê Đức Thọ trước kia cũng như Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng sau này.
Ở đây, cũng có hai mức độ khác nhau. Một số người cho họ sai. Sai, chủ yếu vì tầm nhận thức, và gắn liền với tầm nhận thức ấy, là những hạn chế “khách quan” của lịch sử. Hai, cho những nhà lãnh đạo ấy vừa sai vừa xấu. Xấu, ở tâm địa bè phái hẹp hòi, ở tinh thần cá nhân chủ nghĩa, chỉ muốn củng cố quyền lực của mình và con cháu mình. Trong mọi trường hợp, ở đây người ta đều né tránh Hồ Chí Minh, có khi, còn muốn biện hộ cho Hồ Chí Minh khi cho rằng, từ đầu thập niên 1960 về sau, ông hoàn toàn bị cô lập và bị tước hầu như mọi quyền lực trong đảng: Mọi trách nhiệm đối với dân tộc trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc đều thuộc về hai người: Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.
Biện pháp đề nghị: Đảng cần cẩn thận trong khâu quản lý cán bộ, thực hiện nguyên tắc làm chủ tập thể, nâng cao trình độ học vấn của cán bộ (được phản ánh qua bằng cấp – dù là bằng giả!).
Thứ ba, quyết liệt hơn, một số người phê phán cả chế độ. Theo họ, các khuyết điểm của Việt Nam hiện nay đều có tính chất hệ thống, gắn liền với bản chất chế độ, do đó, muốn thay đổi, người ta phải thay đổi tận từ gốc rễ: phải dân chủ hóa.