Hiển thị các bài đăng có nhãn quan hệ Việt-Trung (2). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quan hệ Việt-Trung (2). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Từ Linh - Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (2)



Từ Linh - Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (2)





IV. CHỈ CÒN LẠI DÂN?


Trong khi Mỹ đang tạm “nghỉ giữa hiệp”, Putin lồng lộn ở trên kia, Tập làm mưa làm gió phía dưới này, Đảng “ta” thì nhóm lãnh đạo hầu hết vẫn ở cung cấm như những nàng hầu, xinh nhưng ngu, chỉ biết ngoan ngoãn chờ Tàu chỉ bảo, thì câu hỏi đặt ra là đất nước này đang nằm trong tay ai? Còn ai lo cho đất nước này?

Câu trả lời thật rõ: Chỉ còn dân. Và dân là tất cả những ai còn nghĩ mình là dân nước Việt, những người tự do, không sợ hãi, không bị giặc ngoại xâm trói tay bịt miệng, biết đau xót vì đất nước thiêng liêng bị xâm phạm, và sẵn sàng chết chứ không chịu làm nô lệ.

Hai tiền lệ

Thực ra, tình trạng nhà cầm quyền nhu nhược trước ngoại xâm, lo giữ ghế hơn lo giữ nước, lo chống dân hơn chống giặc đã có tiền lệ.

Chẳng cần tìm đâu xa, có hai tiền lệ đã từng diễn ra ở Trung Quốc, cách đây trên dưới 100 năm. Đó là Cách mạng Tân Hợi 1911, khi dân chúng đứng dậy lật đổ nhà Thanh vừa trì trệ bảo thủ vừa để ngoại bang lấn lướt đến ô nhục. Và đó là phong trào Ngũ Tứ Vận động năm 1919, khi quần chúng đứng dậy chống Hiệp ước Versailles nhục nhã ép chính quyền cắt đất cho ngoại bang.

Cả hai biến cố đều có điểm chung, đó là: đứng trước nguy cơ mất nước, mất đất, thay vì chuyển đổi quyết liệt để cùng dân đối đầu hiệu quả với giặc thì chính quyền lại nhu nhược, sẵn sàng chịu nhục và đàn áp dân để giữ quyền lực. Và trong cả hai tình thế, quần chúng đều không ngồi im. Họ đứng dậy. Họ lật đổ nhà Thanh (1911), hoặc khiến chính quyền Dân Quốc hủy bỏ Hiệp ước ô nhục (1919).

Tiền lệ thứ nhất: Cách mạng Tân Hợi 1911

Xin tóm tắt đôi nét về Cách mạng Tân Hợi như sau:[i]

Sau thất bại nhục nhã trong Chiến tranh Nha phiến (1840-1842; 1857-1860), và Chiến tranh Thanh-Nhật (1894-1895), nhiều sĩ phu muốn theo gương Nhật Bản cải cách triệt để kinh tế và chính trị. Nổi bật là Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu. Họ phò vua Quang Tự duy tân, nhưng bị Từ Hy Thái hậu thủ cựu trấn áp. Sau Chính biến Mậu Tuất (1898), Từ Hy giết hại nhóm duy tân, Khang, Lương phải trốn sang Nhật. Nhưng càng đàn áp thì cách mạng càng phát triển. Đến khi liên quân tám nước kéo vào Bắc Kinh (1900) Thanh triều phải ký một hiệp ước nhượng bộ nhục nhã thì dân chúng phẫn uất, đòi thay đổi thể chế, phế bỏ nhà Thanh.



Ton Trung Son.jpg
Tôn Trung Sơn


Lúc bấy giờ có Tôn Trung Sơn, một bác sĩ, theo Thiên Chúa giáo, có thời học ở Hawaii, chủ trương cách mạng. Ông tin rằng phải lật đổ nhà Thanh mới cứu được Trung Quốc. Năm 1898 ông lập Trung hưng Hội ở Mỹ, hình thành chủ nghĩa Tam dân: dân tộc (chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc…), dân quyền (tước quyền Thanh triều trao lại cho dân, dân có quyền tuyển cử, bãi nhiệm quan chức, quyền làm luật và phúc quyết…), dân sinh (chăm sóc bốn phúc lợi cho dân là ăn, mặc, ở, đi, nông dân có ruộng đất…). Sau Hiệp ước Bắc Kinh 1900, dân chán ghét Thanh triều, gia nhập hội càng đông. Lý tưởng của Tôn được đông đảo Hoa kiều hải ngoại ủng hộ và góp tiền giúp đỡ. Năm 1905, hai đảng khác gia nhập, Tôn đổi tên hội thành Đồng minh Hội, tiền thân của Quốc Dân Đảng.

Từ 1905 đến 1911, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở các tỉnh thành như: 1905: Giang Tây, Hồ Nam; 1907: Khâm Châu, Liêm Châu, Thượng Tư (nay thuộc tỉnh Quảng Tây); 1908: Vân Nam, Quảng Đông; tháng 4/1911: Một cuộc khởi nghĩa lớn xảy ra. 500 cảm tử quân tấn công vào dinh Tổng đốc Quảng Châu, vì chuẩn bị chưa kỹ, khởi nghĩa không thành, 72 liệt sĩ hy sinh, được chôn ở Hoàng Hoa Cương (Phạm Hồng Thái sau này cũng được chôn ở đây).

Xin được trích đoạn sau đây viết về Cách mạng Tân Hợi để bạn đọc tiện theo dõi. Đoạn này liên quan đến một vụ việc đáng chú ý, tình trạng không khác ngày nay ở Việt Nam bao nhiêu:

“Cũng trong thời gian này, việc Thanh đình trao quyền kinh doanh đường sắt Việt-Hán và Xuyên Hán cho Mỹ đã gây thêm một làn sóng căm phẫn trong nhân dân Trung Quốc. Khắp nơi nổi lên phong trào đòi tẩy chay hàng Mỹ, đòi chính phủ xóa bỏ điều ước đã ký với Mỹ. Thấy người dân chống đối quá, Mỹ đồng ý xóa điều ước với điều kiện Thanh đình phải bồi thường 6.750.000 đô-la. Vừa sợ đế quốc, vừa sợ nhân dân, Thanh đình sai Tổng đốc Lưỡng Hồ là Trương Chi Động vay tiền của Anh để bồi thường cho Mỹ.

Đến ngày 9/5/1911, Thanh đình ra sắc lệnh Quốc hữu hóa đường sắt nhưng thực chất là trao quyền kinh doanh cho bốn nước là Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Lập tức, lần lượt ở Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Châu,Tứ Xuyên… nhân dân nổi lên chống đối vì họ cho rằng Thanh đình đã bán rẻ quyền lợi dân tộc. Thanh đình bèn ra lệnh trấn áp phong trào quyết liệt, cấm báo chí đưa tin, cấm bãi thị, bãi khóa, diễn thuyết và cho giải tán các hội đồng bảo vệ đường sắt… Tuy nhiên, bất chấp lệnh trên, bất chấp cả những lời lẽ can ngăn của phái lập hiến, phong trào chống đối vẫn lên cao, nhất là ở Tứ Xuyên.

Ngày 7/9/1911, Tổng đốc Tứ Xuyên là Triệu Nhĩ Phong phái người đến mời các thủ lĩnh trong hội bảo vệ đường sắt đến dinh thương lượng, nhưng sau đó cho lính bắt tất cả. Thấy điều bạo ngược, hàng vạn người dân Thành Đô (tỉnh lỵ của tỉnh Tứ Xuyên) kéo đến dinh Tổng đốc đòi thả người, nhưng bị Triệu Nhữ Phong ra lệnh nổ súng làm chết 32 người và làm bị thương nhiều người khác. Căm phẫn tột độ, phong trào bãi khóa, bãi thị lan rộng ra toàn tỉnh Tứ Xuyên, về sau phát triển mạnh thành cuộc khởi nghĩa Thành Đô, buộc Thanh đình phải đem quân từ Hồ Bắc về trấn áp.”[ii]

Đến ngày song thập (10/10/1911) cách mạng nổ ra và thành công ở Vũ Xương, gọi là Cách mạng Tân Hợi. Xin trích đoạn mô tả sau đây của học giả Nguyễn Hiến Lê:



Khoi nghia Vu Xong mo dau CM Tan Hoi 1911.jpg
Khởi nghĩa ở Vũ Xương mở đầu Cách Mạng Tân Hợi 1911


“Dân quân được quân đội tân thức giúp sức, chiếm Vũ Xương. Lần lượt các tỉnh Hồ Nam, An Huy, Quí Châu, Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông tuyên bố độc lập, hường ứng với dân quân. Đảng bèn tổ chức liên quân hai tỉnh Giang-Chiết để đánh Nam Kinh. Các tỉnh độc lập đều phái đại biểu đến Vũ Xương hội nghị để lập một chính hủ lâm thời tại Nam Kinh. Tôn Văn được bầu làm Lâm thời Đại Tổng thống…”[iii]