Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Nguyễn Tiến Trung - Đừng sợ mất lương hưu



Nguyễn Tiến Trung - Đừng sợ mất lương hưu





Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đánh dấu 70 năm cuộc cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9.



Tháng Chín vừa qua lại chứng kiến thêm các vụ 'bắt - thả', 'xuất - nhập kho' khi một tù nhân lương tâm 'được thả', đó là bà Tạ Phong Tần, cựu sĩ quan công an, thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, từ nhà tù bị đưa thẳng ra nước ngoài hôm 19/9/2015 .





Tuy nhiên, ngay sau đó, một cựu tù nhân chính trị khác lại bị bắt lại hôm 21/9 là cựu trung tá quân đội Trần Anh Kim và còn một số người khác nữa.

Có vẻ dưới sức ép của quốc tế, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, nhà cầm quyền đã có những hành động thả tù chính trị để chứng tỏ đang có tiến bộ về nhân quyền.


Đó cũng là điều đáng hoan nghênh, song việc bắt, bắt lại, trấn áp những nhà hoạt động xã hội ôn hòa, các cựu tù chính trị, lương tâm khác thì sao?


Đặc biệt, việc đưa quyền con người lên chương 2 của hiến pháp 2013 và việc nhà cầm quyền Việt Nam có chân trong Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc có thực sự chứng tỏ đang có tiến bộ về nhân quyền thì thế nào? Bài viết này xin đề cập một vài khía cạnh liên quan, dưới đây.


Những động thái đó thật ra không chứng tỏ được gì nhiều, vì chế độ pháp trị để bảo vệ những quyền con người ấy không tồn tại ở Việt Nam mà chỉ chứng tỏ rõ ràng hơn về sự cầm quyền của một chế độ đảng trị.


Thật vậy, trong lời mở đầu của Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế đã ghi rất rõ:

“Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị (rule of law) bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền.”

Chế độ pháp trị

Ai cũng biết rằng chế độ pháp trị phải được bắt đầu từ bản hiến pháp chuẩn mực của toàn dân.


Từ bản Hiến pháp đó mới quy định ra thế nào là tự do, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền, hệ thống nhà nước tam quyền phân lập, v.v… Đó là cách thức bền vững nhất để bảo vệ nhân quyền, để thực hiện mục tiêu “công bằng, dân chủ, văn minh” của chính đảng cộng sản.



image


Năm 2013, toàn dân, các trí thức như nhóm Kiến nghị 72 đã sôi nổi góp ý để sửa đổi hiến pháp theo hướng dân chủ, pháp trị. Dù hiến pháp 2013 đã được thông qua mà không thèm đếm xỉa đến nguyện vọng của toàn dân, nhưng hoạt động để có một bản hiến pháp dân chủ bảo vệ quyền con người luôn là vấn đề thời sự, cấp bách nhất của đất nước.



Tác giả đặt lại câu hỏi về tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền hiện nay.


Mới đây, nhìn vào việc dự thảo Luật tự do lập hội lại bị nhà cầm quyền trì hoãn, hay nhìn vào đề án quy hoạch báo chí tiếp tục ngăn cấm báo chí tư nhân, chỉ còn cho duy trì báo chí của đảng cộng sản thì ta thấy rõ là dù quyền con người được ghi rất trang trọng trong chương 2 hiến pháp nhưng đều chỉ là hình thức.


Chắc chắn chế độ độc đảng không bao giờ chấp nhận dân có quyền tự do lập hội hay ra báo, nếu nhà cầm quyền chấp nhận điều đó thì họ sẽ không thể nào tiếp tục duy trì chế độ độc đảng với đầy đặc quyền đặc lợi cho tầng lớp cai trị bên trên.




image


Do đó, đấu tranh cho quyền con người thiết thực nhất chính là liên kết, đứng cùng nhau, không phân biệt cộng sản hay là không, vận động vì mục tiêu nền tảng chung là “nhân dân làm chủ, pháp luật chuẩn mực”, bắt đầu từ bản một bản Hiến pháp của toàn dân.

Chính danh, bình đẳng

Với cái nhìn đó, điều 21 của Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế lại là điều quan trọng nhất với tinh thần ý dân là nền tảng của quyền lực, tự do ứng cử, tự do bầu cử, lãnh đạo quốc gia phải do dân bầu ra qua bầu cử tự do và công bằng, có định kỳ.


Nói cách khác, nhà nước phải chính danh.


Nếu ở quốc gia nào mà điều 21 bị vi phạm, nhà cầm quyền không chính danh thì chắc chắn tất cả những quyền con người khác đều sẽ bị vi phạm vì quyền của dân không chỉ đã bị mâu thuẫn, xung đột mà còn bị lấn át, xâm phạm nghiêm trọng bởi quyền lực của nhà cầm quyền không do dân bầu lên.


Viết đến đây, tôi nhớ đến các biểu ngữ đang giăng đầy đường phố để quảng bá cho luật Bình đẳng giới, ví dụ như câu “Nam nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước”, “Nam nữ bình đẳng trước pháp luật"…


Thế thì có bao giờ các lãnh đạo của đảng cộng sản nghĩ đến việc cần ra luật bình đẳng giữa công dân là đảng viên cộng sản và công dân ngoài đảng cộng sản hay không?



image


Vì thật ra bất công giữa lãnh đạo đảng cộng sản và người dân mới là bất công lớn nhất hiện nay, và đó cũng là mâu thuẫn gây ra đổ vỡ xã hội.


Nếu không làm được chuyện đó thì tất cả những điều tốt đẹp mà nhà cầm quyền đã quảng bá về chủ nghĩa xã hội để hướng tới mục tiêu xã hội công bằng, hoặc kêu gọi hòa hợp hòa giải đều chỉ là nói suông, không thực.

Lương hưu, công lao

Rất nhiều các cựu chiến binh, kể cả các sĩ quan an ninh nhà nước Việt Nam mà tôi có dịp tiếp xúc cũng hiểu rõ nhu cầu dân chủ, pháp trị của đất nước. Tuy nhiên, họ lại sợ bị mất lương hưu nếu chuyển đổi qua thể chế dân chủ.


Nhìn sang các nước mà “diễn biến hòa bình” (theo cách gọi của Đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam) đã thành công như nước Đức hay nước Nga, các cựu chiến binh, công chức không hề bị mất lương hưu. Thậm chí, lương còn được tăng lên. Cũng không có chuyện trả thù hay đổ máu gì.



Tác giả nhắc lại lời của Chủ tịch TC Tập Cận Bình tại diễn đàn Liên Hợp Quốc hôm 25/9 nói các quần đảo ở Biển Đông 'từ thời cổ đại là lãnh thổ của Trung Cộng.'


Vì sao? Vì thể chế dân chủ, pháp trị đảm bảo quyền con người, không phân biệt đó là người cộng sản hay người không cộng sản, cũng không phân biệt lý lịch của công dân.


Một vấn đề khác đó là dân chủ để chống ngoại xâm. Mới đây, trong một cuộc họp báo chung tại Nhà Trắng ngày 25/9/2015, Chủ tịch Trung Cộng, ông Tập Cận Bình đã không ngần ngại khẳng định trước thế giới rằng “Các quần đảo ở Nam Hải (tức Biển Đông) từ thời cổ đại là lãnh thổ của Trung Hoa”.


Điều này một lần nữa chỉ chứng tỏ dã tâm độc chiếm Biển Đông của Trung Cộng là không thay đổi. Theo tôi được biết, vẫn có nhiều chiến sĩ và các tướng tá quân đội sôi sục ý chí chống xâm lược, cụ thể ở đây là Trung Cộng. Họ sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.


Thế nhưng, nếu các chiến sĩ và tướng tá của quân đội hi sinh để bảo vệ đất nước, nhiều khả năng người dân chỉ đánh giá là quân đội đang chiến đấu để bảo vệ cho chế độ độc đảng không chính danh, chiến đấu chỉ vì lãnh đạo đảng cộng sản ra lệnh chứ không phải vì dân vì nước. Sự hi sinh của quân đội vì thế sẽ không hoặc khó được lịch sử, nhân dân ghi công đúng mức.


Ngay cả những chiến sĩ hi sinh trong chiến tranh với Khmer Đỏ hay với Trung Cộng từ năm 1979 trở lại đây cũng bị nhà cầm quyền lãng quên vì quyền lợi ích kỷ của giới lãnh đạo trong việc thân thiết với Bắc Kinh. Chỉ trong chế độ dân chủ, pháp trị, quân đội chiến đấu theo mệnh lệnh của một chính quyền chính danh, do dân bầu ra, thì sự hi sinh và công lao của các chiến sĩ, tướng lãnh mới thật sự có ý nghĩa cao quý là bảo vệ Tổ quốc, nhân dân và được người dân tưởng nhớ, biết ơn và suy tôn.

Hành động thế nào?

Người dân bây giờ lại có câu nói đùa rằng: Anh/chị ấy là đảng viên [cộng sản] nhưng mà là người tốt.


Nếu nhà cầm quyền bảo thủ không chấp nhận cải cách dân chủ, lại đợi đến khi chỉ còn hai lựa chọn “đổi mới hoặc chết” như năm 1986 hay bây giờ với việc ký rất nhiều các hiệp định thương mại tự do và buộc phải chấp nhận công đoàn độc lập để vào TPP (Hiệp định hợp tác đối tác xuyên Thái Bình Dương), nếu để dân phải dùng đến bạo lực để chống lại áp bức, bất công thì lúc đó không còn đảng viên cộng sản tốt.


Trong mắt dân lúc đó tất cả đảng viên cộng sản đều xấu. Tính mạng và tài sản của các đảng viên cộng sản e khó mà bảo đảm trong tình trạng vô chính phủ như vậy.

Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Cháu là đảng viên, và cháu không có quốc tịch Mỹ"



Con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Cháu là đảng viên, và cháu không có quốc tịch Mỹ"




Dân Luận tổng hợp




Bà Nguyễn Thanh Phượng ngồi cùng GS Ngô Bảo Châu và những người bạn trong phiên đấu giá sách cũ do Nhã Nam tổ chức sáng 20-9 tại TP.HCM.




Một lá thư ngỏ vừa được đăng trên facebook Nguyễn Thanh Phượng, được cho là của ái nữ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó hé lộ một số tình tiết xung quanh cuộc đấu đá trong nội bộ Đảng CSVN trước kỳ đại hội Đảng.

Lá thư gửi tới ba ông Lưu Văn Sùng, Đỗ Thế Tùng và Nguyễn Đình Kháng, đều là những lãnh đạo đã nghỉ hưu tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh. Lá thư nhằm đáp lại lời tố cáo của ba ông này, mà bà Phượng khẳng định là "vu khống" và "bịa đặt".

Người viết thư khẳng định mình là Nguyễn Thanh Phượng, sinh năm 1980 tại Kiên Giang. Lá thư khẳng định bà Phượng vẫn là người Việt Nam, không có quốc tịch Mỹ. Bà Phượng đồng thời là đảng viên Đảng CSVN, giữ vị trí Bí thư Đảng bộ Ngân hàng Bản Việt – trực thuộc Đảng ủy khối Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc ái nữ đương kim Thủ tướng giải thích công khai những lời tố cáo nhằm vào mình trên mạng xã hội như thế này là chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam. Có lẽ vì bà Phượng tự tin mình nắm giữ sự thực, và vì thế công khai và minh bạch sẽ là lợi thế.

Từ năm ngoái đã có những lời đồn đại trên mạng Facebook rằng bà Phượng đã xin lấy quốc tịch Mỹ. Việc những giáo sư / tiến sĩ thuộc Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh đem tố cáo chuyện này rất có thể là chỉ dấu của một cuộc phản công từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người nắm giữ công tác lý luận của Đảng.

Ngay sau khi xuất hiện lá thư đã được nhiều người chia sẻ và gần 600 lượt like. Nhiều người tỏ ra tán đồng với người viết thư, cho rằng "cây ngay không sợ chết đứng".

Báo chí trong nước vẫn im tiếng về lá thư này, mặc dù nó đã được đăng 12 tiếng đồng hồ trước. Trong một hệ thống chính trị lành mạnh, những lời đồn đoán / tố cáo liên quan đến lãnh đạo cao cấp cần được mổ xẻ và làm rõ sự thực. Rất tiếc điều này cho đến nay vẫn thiếu vắng ở Việt Nam.




nguyenthanhphuong.jpg

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

LỄ TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN



LỄ TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN


October 3, 2015




DAN_1616
Buổi tưởng niệm nhà văn Võ Phiến, một trong những đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại, do Nhật Báo Người Việt tổ chức, đã diễn ra trong không khí trang nghiêm tại Phòng số 1, Peek Family Funeral Home vào trưa Thứ Bảy, 3 Tháng Mười, với sự tham dự của gia đình, bạn bè, độc giả, đồng hương Bình Định, và nhiều người thuộc giới văn nghệ sĩ.



Hinh cho bao (1)
Bà Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến bên cạnh vòng hoa chia buồn của giáo sư Nguyễn Huệ Chi và trang Bauxit VN.



DAN_1619
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Nhã Ca và nhà thơ Trần Dạ Từ đang chia buồn với bà Viễn Phố ( phu nhân nhà văn Võ Phiến )



DAN_1638
Nhà báo Bùi Bỉnh Bân và nhà báo Bùi Bảo Trúc thắp nhang viếng nhà văn Võ Phiến



DAN_1643
Thị trưởng thành phố Westminster, ông Trí Tạ và phu nhân thắp nhang viếng.



DAN_1784
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người điều hợp chương trình, đã nêu những nét chính về thân thế và sự nghiệp của nhà văn Võ Phiến ngay trong lời mở đầu.



DAN_1790
Thị trưởng thành phố Garden Grove, ông Bảo Nguyễn thắp nhang viếng.



DAN_1751
Nhà thơ Du Tử Lê thì cho rằng, “Nhà văn Võ Phiến là một trong rất ít nhà văn miền Nam xuất hiện trong tinh thần một kẻ sĩ sống giữa hoàn cảnh chia cắt bất hạnh của đất nước…



DAN_1716
Trong phần phát biểu của mình, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa nhận xét, “Nếu một tác phẩm lớn là một tác phẩm khiến chúng ta đọc, rồi đọc lại, đọc lại mãi mà vẫn thấy hay theo thời gian, nhất là với trình độ, kinh nghiệm, sự bầm dập của đời sống chúng ta càng thấy hay về cả học thuật lẫn nghệ thuật, thì tác phẩm Võ Phiến được xếp vào hàng những tác phẩm lớn.”



DAN_1736
Giám sát viên Andrew Đỗ tặng bằng tưởng niệm nhà văn Võ Phiến cho ông Đoàn Giao Liên, con trai trưởng của nhà văn Võ Phiến.



DAN_1767
Vợ chồng nghệ sĩ Nga Mi-Trần Lãng Minh hát bài “Bèo dạt mây trôi” để thương tiếc trong buổi tưởng niệm.



DAN_1770
Những giọt nước mắt đau buồn của bà Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến.



DAN_1781
Thay mặt gia đình, ông Đoàn Giao Liên, con trai trưởng của nhà văn Võ Phiến, nói lời cám ơn cùng ban tổ chức và tất cả mọi người tham dự đã “dành một buổi tưởng niệm trang trọng, xúc động cho nhà văn Võ Phiến.”



Hinh cho bao (2)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng


Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng





Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.
Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.




Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốn Võ Phiến(2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.


Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.


Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.


Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.


Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.


Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”


Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:


Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.


Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.


Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.


Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.


Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.


Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.


Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ - đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.


Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.


Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.


Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.

Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.


Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.


Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.


Võ Phiến

Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.


“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?”


Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”


Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!”


Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:


“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”


Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”


Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” 

Rồi ông lại hỏi:


“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”


Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”


Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”


Im lặng một lát, ông lại hỏi:


“Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”


Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”


Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”
“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”


“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”


“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”


“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”


Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.


Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:


“Quốc thân,


Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.


Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”


Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:


  • - Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
  • - Dạ, cháu đang ở Úc.
  • - Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
  • - Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
  • - Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
  • - Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
  • - Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
  • - Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
  • - Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
  • - Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
  • - Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
  • - Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
  • - Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Bùi Tín - Tập đoàn Giang Trạch Dân lâm nguy


Bùi Tín - Tập đoàn Giang Trạch Dân lâm nguy






Cựu Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân.




Báo chính thức của Đảng CS Trung Quốc vừa công khai cảnh báo việc bắt giữ và truy tố Giang Trạch Dân, sẽ diễn ra trong thời gian rất gần, có thể là sau chuyến công du quan trọng của Tổng Bí thư Tập Cận Bình thăm Hoa Kỳ và tại Liên Hiệp Quốc.

Báo mạng Epoch Times ngày 29/9 đăng bài của Leo Timn cho biết việc khởi tố Phó Chánh án Tòa án Tối cao TQ Hồ Hiếu Minh mới đây là một dấu hiệu quan trọng nhằm chuẩn bị xét xử cả Tập đoàn Giang Trạch Dân.

Trong tháng qua theo lệnh của Tổng Bí thư Tập Cận Bình, 249 quan chức Trung Quốc đã bị kỷ luật vì «lơ là công việc, lười biếng», chỉ làm việc cầm chừng, nhiều dự án ngưng trệ vì họ sợ làm việc dễ phạm tội. Hơn nữa, một số khá đông quan chức các cấp bị kỷ luật với tội không phấn khởi, mặn mà với chiến dịch «đả hổ, diệt ruồi, săn cáo» của họ Tập. Toàn đảng căng thẳng theo dõi nhau để tố cáo ai dửng dưng, không vỗ tay hoan hô việc hàng loạt tướng lĩnh, cán bộ cao cấp, kể cả ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị - từng được coi là bất khả xâm phạm - bị sa lưới.

Ngày 26/9, Thời báo Hoàn cầu, cơ quan bán chính thức của Đảng CS Trung Quốc, đăng bản «tin đặc biệt» ký tên Tạ Đông Đình với đầu đề rất kêu: «Bắt giữ Giang Trạch Dân là lối thoát duy nhất cho sự ổn định xã hội Trung Quốc”. Bài báo có thể được tóm tắt như sau:

- Tứ Nhân Bang mới gồm có Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng, và Lệnh Kế Hoạch do Giang Trạch Dân làm trùm phản nghịch và trùm tham nhũng đã bị lần lượt sa lưới. Nay đến lượt họ Giang sắp bị lâm nguy khốn.

- Bài báo kể ra hai tội dối trá lớn của Giang. Một là Giang và ông bố Giang đều là Hán gian tay sai phát-xít Nhật nhưng đã che dấu kỹ tội này; hai là Giang đã khai man là con liệt sỹ đảng viên CS để chui vào đảng, luồn sâu leo cao lên thượng đỉnh quyền lực. Giang đã về hưu nhưng không chịu nghỉ, còn lũng đoạn nền chính trị trong 10 năm, cài vào đảng rất nhiều lâu la, tay sai.

- Giang là kẻ bất tài, vô đạo đức, là trùm dâm lọan, đã tạo nên một mạng lưới tham nhũng thối nát rộng khắp là Tập đoàn Giang Trạch Dân.

- Bị bao vây, bắt giữ, Giang đã giật dây cho tay sai phản ứng dữ dội, gây bất ổn xã hội, xách động 8.435 cuộc biểu tình ở 128 nơi với 1 triệu rưởi người tham gia, còn gây nên cuộc khủng hoảng lớn về cổ phần - chứng khoán, lại còn gây ra vụ nổ hóa chất lớn ở Thiên Tân.

- Bài báo dẫn lời dạy của Tôn Tử «cầm tặc tiên cầm vương» - bắt giặc trước hết phải bắt tên đầu sỏ, tên làm vua, mới tiêu diệt hết giặc. Bài báo dẫn lời ông Lưu Mộng Hùng, nguyên ủy viên Chính Hiệp Hồng Kông : «Ngày rớt đài của Giang là có thể thấy được».

Ngày 3/9 Tập Cận Bình cho Giang được đứng bên cạnh, trên lễ đài, cùng duyệt cuộc diễu binh và diễu hành lớn, như thể Tập muốn nói rằng «ta đã nắm chắc tên trùm đây, không thể thoát đi đâu được, ta nắm quân đội hùng mạnh».

Như vậy là chiến dịch «đả hổ, diệt ruồi, săn cáo» không có dấu hiệu hạ cường độ. Trái lại Tập Cận Bình, người lãnh đạo muốn được coi là có uy lực không kém gì Mao Trạch Đông, đang quyết tâm đi tới cùng, đưa lịch sử Trung Quốc đến thời kỳ sôi động nhất, với hậu quả khôn lường, khi một nhà lãnh đạo cao nhất, từng là Tổng Bí thư đảng kiêm Chủ tịch Nước trong hơn 10 năm, nay bị xử trọng tội.