Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trần - 16 chữ “đần”. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Trần - 16 chữ “đần”. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Phạm Trần - 16 chữ “đần” và tinh thần 4 “dốt”



Phạm Trần - 16 chữ “đần” và tinh thần 4 “dốt”




VRNs (06.06.2014) – Washington DC, USA – Tổ tiên người Việt thật thâm thúy và tài tình khi để lại cho con cháu câu nói “cháy nhà ra mặt chuột”.  Đem câu răn đe này áp dụng cho “khúc xương Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 đã mắc trong họng Việt Nam khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Hòang Sa và Trường Sa” thì thấy ngay tại sao Trung Cộng lại có thể đặt giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào trong vùng biển của Việt Nam mà không sợ bị trục xuất.


14060600
Trước tiên nên biết Tuyên bố chủ quyền 12 hải lý (mỗi hải lý dài 1,852 mét) của Trung Cộng công bố ngày 04.09.1958 đã nói gì về hai quần đào Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.



Theo tài liệu của Bộ Ngọai giao Mỹ, điểm quan trọng nhất của Tuyên bố này quy định ở khỏan số 4 viết: “The principles provided in paragraphs 2) and 3) likewise apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Tungsha Islands, and Hsisha Islands, the Chungsha Islands, the Nansha Islands, and all other islands belonging to China.”


(Tạm dịch: Những nguyên tắc quy định ở đọan 2 và 3 [Chú thích: nói về chủ quyền của Trung Quốc trên đất liền, lãnh hải và các hải đảo ngòai khơi và vùng phụ cận] được áp dụng cho Đài Loan và các đảo chung quanh, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa và Tây Sa (Việt Nam gọi là Hòang Sa), Trung Sa (Bãi Macclesfield mà Trung Cộng có tranh chấp với Phi Luật Tân) và Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.)


Điều này rõ ràng nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thời Mao Trạch Đông đã sử dụng Bản đồ hình “lưỡi bò” hay còn được gọi là “đường 9 đọan” để xác nhận chủ quyền của họ trên lãnh thổ của nước khác trong khu vực có tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông.


Bản đồ này nguyên thủy có 11 đọan đứt chiếm gần hết 3.5 triệu cây số vuông của Biển Đông, vẽ từ năm 1947 nhưng xuất bản tháng 2 năm 1948 bởi Bộ Nội vụ của Chính phủ Quốc dân đảng (Cộng hòa Trung Hoa) của tướng Tưởng Giới Thạch, khi ấy cai trị Trung Quốc.


Sau khi đánh bại quân Tưởng Giới Thạch để cai trị Trung Hoa, vào khỏang năm 1953 Chính phủ Cộng sản (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) Mao Trạch Đông đã tự động bỏ đi “2 đọan đứt ” tại khu vực Vịnh Bắc Bộ nên bản đồ hình chữ U giống như lưỡi bò chỉ còn lại “9 đọan” cho đến ngày nay.
KHÚC XƯƠNG PHẠM VĂN ĐỒNG


Như vậy, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng của nhà nước Cộng sản miền Bắc -Việt nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH) – vào ngày 14.9.1958, gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Laiđể “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” , trong đó có việc Trung Hoa đã tự ý xác nhận chủ quyền của họ tại Hòang Sa và Trường Sa, khi ấy đang do Chính phủ miền Nam -Việt Nam Cộng Hòa (VNCH – cai qủan thì chẳng nhẽ ông Đồng chỉ muốn “nói cho đẹp lòng người phương Bắc” để đội ơn Trung Cộng đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đánh thắng giặc Pháp ở Điện Biên Phủ hay sao?


Nguyên văn Công hàm của ông Phạm Văn Đồng viết:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.


Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.


Công hàm quan trọng và cực kỳ “phản quốc” này của ông Đồng được viết vào lúc hai quần đảo Hòang Sa và Trương Sa thuộc quyền cai qủan hợp pháp của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở trong Nam. Nó “nằm ngủ bình yên” trong hộc tủ của Trung Cộng, ngay cả khi Trung Cộng đánh chiếm Hòang Sa từ tay quân lực VNCH ngày 19.01.1974.


Trước biến cố Hòang Sa, phía nhà nước VNDCCH không dám nói một lời nào mà ngược lại trong thâm tâm lãnh đạo chóp bu thời đó, kể cả Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động Việt Nam Lê Duẩn cho đến ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng đều “yên tâm hoan hỉ” thấy Hòang Sa đã được “các đồng chí Trung Quốc giải phóng và qủan lý dùm” trong khi miền Bắc đang ráo riết tập trung nỗ lực đánh chiếm miền Nam!


Nhưng sau khi Trung Cộng xua quân tràn qua biên giới đánh vào 6 tỉnh tháng 2.1979 để gọi là “dậy cho Việt Nam một bài học” rồi sau đó đánh chiếm 8 Đá Ngầm ở Trương Sa năm 1988, quan trọng nhất là bãi Gạc Ma, giết hại 64 lính của Việt Nam và không chịu nói chuyện “chủ quyền Hòang Sa” với Việt Nam thì lúc đó lãnh đạo Hà Nội mới mở mắt ra thì qúa muộn mất rồi.


Thêm vào đó, cũng không ai có thể hiểu nổi tại sao Việt Nam gần Trường Sa hơn Trung Cộng mà Quân đội Việt Nam lại để yên cho quân lính Trung Cộng bình an chiếm đóng, lập khu nuôi hải sản trên biển và kiến thiết nhiều đồn bót, lập đài khí tượng, dàn radar quân sự trên một số bãi đá, kể cả Gạc Ma là vị trí chiến lược nằm chen giữa các bãi đá khác do Việt Nam kiểm soát.


Vậy phải chăng điều được gọi là “đại cục quan hệ” và “tình đồng chí” giữa “hai nước Cộng sản anh em” đang được Việt Nam thi hành ở Trường Sa?


Cũng nên biết khi hai nước Việt-Trung nối lại bang giao năm 1991 sau Hội nghị Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 mà theo nhiều bài viết từ Việt Nam thì lãnh đạo Việt Nam gồm Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng, chỉ vì nôn nóng muốn tái lập bang giao với Bắc Kinh mà “đã bị Chủ tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng” lừa và ép nhiều vấn đề quan trọng.


Trong số các “thỏa hiệp bí mật” được tiết lộ ra ngoài có việc Trung Cộng “cấm” Việt Nam không được nhắc nhở đến chuyện Hòang Sa và cuộc chiến biên giới năm 1979, theo lời Cụ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1987.


Cũng tại Thành Đô, chủ yếu là hai ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười còn đồng ý với Bắc Kinh ép phe kháng chiến chống “Khmer đỏ thân Trung Cộng” phải đồng ý một giải pháp chính trị bất lợi cho họ khiến nhiều lãnh đạo Cao Miên sau này thù ghét Việt Nam.


Sau khi đã “lôi Việt Nam vào rọ bang giao có điều kiện” rồi thì Trung Cộng dùng “mồi kinh tế” và “áp lực chính trị” để nắm dạ dầy và cưỡng bách Việt Nam phải “gác tranh chấp để cùng khai thác” với Trung Cộng ở Biển Đông như chủ trương từ năm 1979 của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình.


Chính sách này đã được liên tục lập lại bởi các thế hệ lãnh đạo Trung Cộng với chủ trương “quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển” của đương kim Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Tập Cận Bình.