Hiển thị các bài đăng có nhãn Phản biện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phản biện. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Thạch Đạt Lang - Phản biện bài viết Nghề Ăn Cắp Của Người Việt tại Đức của Phạm Thị Hoài



Thạch Đạt Lang - Phản biện bài viết Nghề Ăn Cắp Của Người Việt tại Đức của Phạm Thị Hoài




Con ơi giữ lấy nghề cha
Một ngày chôm, chỉa bằng ba năm làm!





Nước Đức có 2 cộng đồng? (Ảnh em bé cầm 2 cờ trong cuộc biểu tình chống TQ ở Frankfurt hôm 5/6/2011
Nước Đức có 2 cộng đồng? (Ảnh em bé cầm 2 cờ trong cuộc biểu tình chống TQ ở Frankfurt hôm 5/6/2011




Sau hơn 2 tháng đi chu du các cõi ta bà thế giới, từ Frankfurt qua San José, Orange County (California), đến Houston (Texas) rồi Calgary, Canada, tôi trở về Đức.

Hai tháng hơn không có đồng hồ báo thức, ăn ngủ kỹ, không màng đến thời sự thế giới lẫn Việt Nam, chỉ tận hưởng những niềm vui, cảnh đẹp, thức ăn ngon, lạ…nhất là ở Calgary, thăm viện bảo tàng Dinosaur, lễ hội Cowboys độc nhất còn lại của Canada với những bữa ăn sáng, trưa chùa ( không phải trả tiền ) thật ngon.

Trở về Đức, vào đọc Đàn Chim Việt infos, gặp ngay bài của Phạm Thị Hoài viết về tật ăn cắp vặt của người Việt Nam tại Đức, tôi khá ngỡ ngàng.

Tôi không ngỡ ngàng về chuyện ăn cắp vặt của người Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới, nhưng tựa bài khiến tôi ngạc nhiên, bởi nó ngụ ý chua chát, mỉa mai, đồng thời có nhiều điểm có thể gây hiểu lầm, phẫn nộ cho nhiều người, nhất là những người Việt Nam tị nạn cộng sản ra đi từ miến Nam sau năm 1975.

Do đó, tôi đã viết ngay một ý kiến phản biện bài viết, nhưng rồi cảm thấy chưa nói đủ, đành phải viết thêm bài phảm biện này cho độc giả được rõ ràng hơn về cộng đồng người Việt Nam tại Đức.

Điểm sai lầm quan trọng trong bài của Phạm Thị Hoài là không nói rõ người Việt Nam tại Đức có 2 cộng đồng, phân biệt rõ rệt như các tác giả Đỗ Trường và Người Buôn Gió ( Bùi Thanh Hiếu ) đã viết trong các bài tôi được đọc trước đây trên ĐCV.

Hai cộng đồng này không hề có liên lạc, sinh hoạt hay dính dáng gì đến nhau và cũng gần như phân chia ranh giới rõ ràng. Cộng đồng mà Phạm Thị Hoài nói đến chủ yếu nằm ở Đông Berlin, miền đất thuộc cộng sản Đông Đức trước đây. Cộng Đồng của người Việt tị nạn CS nằm bên phần đất phía tây của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Cộng đồng thứ nhất, có tên Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản, thành lập vào những năm đầu của thập niên 80. Trước tháng 4/1975 chỉ có khoảng 200 sinh viên Việt Nam du học từ miền Nam tại Tây Đức cũ ( BRD=Bundes Republik Deutschland=Cộng Hòa Liên Bang Đức ). Do số lượng ít ỏi nên chưa hình thành được một cộng đồng VN.

Đến đầu thập niên 80 số lượng người Việt Nam ở Tây Đức tăng lên do chính phủ Đức nhận theo quota của chương trình ODP, cộng với số thuyền nhân do các thương thuyền của Đức cùng với gần 10.000 người do tàu Cap Anamur của Tiến sĩ Rupert Neudeck vớt ở biển Đông, cộng đồng này gồm hầu hết những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, ngoại trừ số người Hoa trên tầu Hải Hồng và một số ít người Bắc ra đi từ Hải Phòng được thương thuyền Đức vớt.

Tổng cộng đến cuối năm 1986, cộng đồng Người Việt Tị Nạn CS (viết tắt CĐNVTNCSVN ) có khoảng 40.000 người, phân tán, rải rác trong nhiều tiểu bang, thành phố chứ không túm tụm lại thành một nhóm hay khu phố.

Do có chính sách giúp đỡ, tái định cư rõ rệt, tất cả những người Việt Nam đến Đức theo chương trình ODP hoặc được tàu Đức vớt, đều được chính phủ Đức, các hội thiện như Caritas, Hồng Thập Tự…giúp đỡ trong chuyện học hành, đào tạo nghề nghiệp, tìm kiếm nhà cửa, việc làm, trường học…

Do đó, hầu hết đã nhanh chóng ổn định đời sống, dễ dàng hội nhập vào đời sống mới, hoàn toàn không có việc trộm cắp, buôn bán ma túy, thuốc là, cướp của giết người hay thanh toán nhau để tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn.

Cộng Đồng NVTNCSVN trong thời gian đó đã có rất nhiều sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị…giới thiệu với người dân Tây Đức về đất nước Việt Nam như tổ chức Tết Việt Nam, giỗ tổ Hùng Vương, biểu tình chống chế độ cộng sản ngày 30/04 tại Bonn ( thủ đô của Tấy Đức cũ )… tạo được nhiều thiện cảm, ấn tượng đẹp đẽ với người dân Tây Đức.

Cộng đồng NVTNCS này hầu như không có liên hệ gì với những sinh hoạt của tòa đại sứ CSVN, ngoại trừ một thiểu số rất ít, dính dáng chuyện giấy tờ hộ tịch, hôn thú, visa…

Xin nói về cộng đồng thứ hai, cộng đồng mà Phạm Thị Hoài đề cập trong bài.

Trước tháng 09 năm 1989 có khoảng 60.000 Việt Nam sống, du học và làm việc theo dạng khách thợ (Guest Worker) ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ (DDR=Deutsche Demokratie Republik), đa số sống ở phía đông Berlin và các thàn phố Leipzig, Dresden, Cottbus…Khi bức tường Berlin sụp đổ, một làn sóng người dân Đông Đức tràn qua Tây Đức trong số có nhiều người VN nói trên.

Ngày 3.10.1990 nước Đức thống nhất, cái tên DDR hoàn toàn bị xóa xổ, 60.000 người VN đột nhiên trở thành một gánh nặng cho chính quyền Đức, họ sống chùm đụp vào nhau, làm đủ mọi nghề nghiệp để sinh tồn vì không còn nhà máy, không cò chỗ làm, không nơi cấp dưỡng…

Trong lúc giao thời, một số lớn bung ra tham gia vào sinh hoạt buôn lậu thuốc lá, thành lập băng đảng tội phạm đưa người nhập cảnh lậu từ biên giới Ba Lan vào Đức.

Sau khi kế hoạch giao trả 60.000 người khách thợ lại cho cộng sản VN bất thành vì sự gian trá, bội tín của chế độ CSVN, dù đã ký kết hiệp ước và chi trả 100.000.000 Đức Mã ( Deutsche Mark khi chưa có đồng Euro ), chính phủ Đức quyết định tái định cư 60.000 người này dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại vì gánh nặng tài chính cho việc thống nhất, trong đó chỉ riêng việc tái định cư cho đám hồng quân Liên Xô đóng trên Đông Đức cũ cũa đã tốn 150 tỉ Euro ( 150.000.000.000 ), chưa kể việc xây dựng lại hệ thống Infastructure trên phần đất mà chế độ CS Đức cai trị mấy chục năm dài đã bị xuống cấp thê thảm.

Cộng đồng VN thứ hai này được thành lập với con số 60.000 người, nay phát triển lên với khoảng 85.000 người. Do không có chính sách trợ giúp rõ ràng nên hầu hết những người khách thợ này phải mưu sinh bằng mọi cách, đủ mọi ngành nghề từ hợp pháp đến bất hợp pháp, từ mở nhà hàng, tiệm may, sửa, buôn bán quần áo jeans dỏm đến làm nail, buôn thuốc lá lậu…

Với chính sách cấp Duldung ( tạm dung ) và cho phép cư trú có thời hạn ( Begrenzte Aufenthaltsgenehmigung ) nếu chứng minh được đang có thu nhập hoặc nghề nghiệp tự sinh sống, những người Việt Nam nói trên được phép ở lại nước Đức. Theo thời gian, dần dần hầu hết trở nên hợp pháp, được nhập quốc tịch, bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang đoàn tụ …

Đa số sống lương thiện nhưng cũng không ít những kẻ chỉ mong làm giầu nhanh chóng, bất chính, một số trong họ thành lập băng đảng, cấu kết với tòa đại sứ CSVN ở Berlin, tổ chức đưa người nhập cảnh lậu qua Đức, Thụy Sĩ…bằng nhiều cách.

Việc thanh toán nhau đẫm máu giữa các băng đảng Quảng Bình, Nghệ An…tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn đã một thời làm ồn ào xã hội Đức ở Đông Berlin.

Bà Phạm Thị Hoài khi viết bài đã không nói rõ nước Đức hai cộng đồng, có thể chi do vô tình nhựng chắc chắn gây ngộ nhận về toàn thể người Việt đang sinh sống tại Đức.

Bài viết của Phạm Thị Hoài cũng không nói rõ nguyên nhân gây ra bệnh ăn cắp của người Việt ở Đức trong cộng đồng mà bà đề cập tới, mà cũng không riêng gì ở Đức, báo chí hàng ngày đăng rôm rả việc tiếp viên hàng không VN bị bắt vì ăn trộm hàng hóa trong siêu thị ở Nhật, Úc…, nguyên nhân chính là do chế độ cộng sản Việt Nam khốn nạn, gian manh, xảo quyệt, tàn ác, hèn nhát…mà Nguyễn Thiện Nhân là một trong những tên lãnh đạo đã gây ra.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Blogger Trương Duy Nhất : Vào tù vì phản biện đáng được vinh danh


Blogger Trương Duy Nhất : Vào tù vì phản biện đáng được vinh danh







media
Blogger Trương Duy Nhất (áo sọc) cùng với vợ con và nhà báo Huy Đức tại sân bay Vinh sau khi được trả tự do ngày 26/05/2015.DR




Nhà báo Trương Duy Nhất bị kết án hai năm tù vì tội danh « Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, công dân » theo điều 258 Luật Hình sự, đã mãn hạn hôm qua 26/05/2015 và trở về Đà Nẵng ngay trong ngày.

Từng là phóng viên báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng và Đại Đoàn Kết, đến năm 2010 ông quyết định nghỉ việc để chuyên tâm viết blog « Một cách nhìn khác », trong đó có những bài viết chỉ trích các lãnh đạo cao cấp.

RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà báo, blogger Trương Duy Nhất qua điện thoại viễn liên tối qua.

RFI : Thân chào anh Trương Duy Nhất, mừng anh đã được tự do. Sau hai năm bị giam cầm vì những bài viết trên mạng, sắp tới anh có những dự định gì chưa ?

Nhà báo Trương Duy Nhất: Viết tiếp và lên tiếng tiếp tục thì tất nhiên rồi. Tôi có nói câu « Chỉ có thể cưỡng bức được hành vi, chứ không cưỡng bức được tư tưởng » mà. Bản chất vụ án của tôi là gì ? Tôi đang kêu gọi mọi người, mọi công dân, nhà chức trách, kêu gọi mỗi người hãy lên tiếng. Muốn kêu gọi thì bản thân mình phải lên tiếng chứ !

Việc tôi lên tiếng là điều chắc chắn. Nhưng chỉ có điều là họ mới trả tự do cho tôi sáng nay thôi. Và hình thức trả tự do như thế nào thì không biết các trang đăng ra sao. Hôm nay vừa được thả, tôi về chịu tang bà nội vợ ở quê nên cũng chưa rõ. Nhưng có những cách đối xử không phải đối với công dân, ngay cả khi đã trả tự do.

Hai năm ngồi tù rồi, bây giờ về xem gia đình, vợ con, nội ngoại như thế nào…Trước hết tôi về chịu tang, phải lo một số việc gia đình và đi kiểm tra lại sức khỏe đã, rồi mới tính toán được, cho nên bây giờ tôi chưa thể trả lời được.

Tất nhiên tôi sẽ có lời cảm ơn sau, nhưng nhân chị gọi thì tôi xin cảm ơn chị, tất cả bạn đọc của RFI và các cơ quan truyền thông đã quan tâm đến tôi và những vấn đề của tôi, đã theo đuổi trong suốt hai năm qua. Vì tôi đang chịu tang ở quê mà, sau này tôi sẽ có lời cảm ơn cụ thể hơn đối với chị và bạn đọc.

RFI : Chuyện ra tù sáng nay như thế nào, chỉ có mình anh có thể thuật lại rõ ràng, chính xác nhất. Anh có thể kể lại được không ?

Sẵn sàng thôi. Sáng nay ra là thế này, họ làm thủ tục trả tự do cho tôi. Đúng lý ra họ chỉ có quyền giam giữ tôi đến hết ngày hôm qua thôi, đầu giờ làm việc ngày hôm nay thì phải thả tôi. Nhưng họ làm thủ tục trong kia kéo dài ra, bởi vì tôi phản đối việc họ thu tất cả bốn quyển nhật ký cá nhân của tôi. Tôi đề nghị đó là tài sản của tôi, nhật ký cá nhân không được thu.

Tôi đấu tranh mãi, họ không trả. Tôi cứ ngồi đó, yêu cầu gặp giám thị, họ không cho. Cỡ khoảng hai chục ông công an gì đó vào lôi tôi. Họ cử gần một chục anh không biết công an hay là gì, nhưng chắc không phải công an – vì người trong trại, đi với công an mà, nhưng mặc quần đùi áo thun, thấy dáng bặm trợn như bọn du đãng, ma cô gì đấy, mặt hầm hố. Họ xốc nách tôi lên xe chở ra ngoài.

Vợ con tôi và mấy người bạn lên đón tôi từ sáu rưỡi sáng, chờ ở ngay cổng trại giam. Tôi thấy vợ tôi, mới đề nghị thả xuống cổng trại, nhưng họ không cho. Chỉ có hai ba người mặc cảnh phục ngồi sau thôi, còn toàn bộ trên xe gần chục người mặc quần đùi áo thun và mặt rất bặm trợn, kiểu như bọn lưu manh ngoài phố. Họ ngồi kẹp tay và kẹp cổ tôi trong xe, không cho tôi nói hay chồm ra. Họ chở tôi ra đường Hồ Chí Minh cách trại giam khoảng bốn cây số, ở đoạn núi rừng rất hẻo lánh, thì đẩy tôi xuống xe và hất ba thùng hành lý, quần áo của tôi xuống đấy.

Tôi nghĩ thôi để chờ vợ con tôi ra. Mà vợ con tôi chưa biết tôi ở đâu, thì tôi thấy một đoàn khoảng gần chục chiếc xe thồ. Trong đó có mấy chiếc xe thì mấy người kẹp tay tôi ngồi trên xe dẫn giải tôi họ xuống ngồi trên xe thồ đó, chứng tỏ họ cùng một phe. Những người xe thồ đó vùng dậy, hai ba người mặc đồ xi-vin quay caméra liên tục trong suốt quá trình. Một số người trong đám đó vào hăm dọa, họ đòi đánh tôi, « đánh cho hộc máu mồm », « cho mày chết, mày quên đường về luôn ». Tôi mới bảo tôi thách các anh đó, tôi đang mong các anh đánh, các anh quay caméra có cảnh đó để lên án các anh. Thì họ không dám đánh, hù dọa gì đó.

Vừa lúc đó may là xe của vợ tôi đến. Thấy xe nghi nghi – họ đưa một cái xe cứu thương chứ không phải xe của công an - đóng giả như thế chở tôi thả ra giữa đường Hồ Chí Minh hẻo lánh, vợ tôi mới chạy ra theo thì vừa thấy thế. Nếu vợ con tôi không ra thì không biết bây giờ tôi có về được tới Đà Nẵng hay không nữa.

Sau tôi phải ra sân bay, anh bạn lái xe bảo vẫn có cái xe nào đóng giả gì đó theo dõi chúng tôi, tới tận sân bay Vinh đến giờ cuối. May mà tôi còn bay được để tôi về. Bây giờ tôi đang về quê, bà nội vợ tôi mất ngày hôm kia, vẫn chưa di quan chờ tôi về chịu tang. Đó, tình hình sáng hôm nay là như thế.

RFI : Đúng lý ra thì phải thả anh ngay cổng trại để gia đình đón về…

Sáu giờ rưỡi thì vợ con tôi có mặt tại đó rồi, vào làm thủ tục. Cậu cảnh sát gác cổng thì vẫn dặn vợ con tôi rất lịch sự, là sẽ trả tự do cho chồng chị ngay trước cổng trại này đây, cứ ở đó chờ. Nhưng cuối cùng đến khoảng 8, 9 giờ gì đó, họ lừa vợ con tôi. Không đưa tôi lên một chiếc xe của công an đâu, mà xe dạng hú còi như xe cấp cứu.

Tôi hét trên xe mà, tôi bảo tại sao trả tự do cho tôi mà còn gần chục người như du côn du đãng thế này ngồi trên xe, mà lại ghì đầu ghì cổ ghì tay tôi. Họ chả nói gì mà vẫn đưa ra. Thấy vợ con chờ, tôi yêu cầu xuống xe tại cổng cho tôi gặp vợ, họ bảo không, tôi đưa các anh ra đường Hồ Chí Minh để anh dễ đón xe về. Tôi bảo xe tôi có gia đình chờ, đúng luật anh phải trả tôi trước cổng chứ. Họ bảo anh không nói gì cả, ngồi im !

Thế là nó cứ thả tôi ra đường HCM mà ở trại giam ra ngay chỗ giáp ngã ba có một khu dân cư đông đúc họ không thả xuống mà đi thêm mấy cây nữa vào một đoạn đường rất là heo hút giữa rừng không có ai cả rất vắng vẻ - đường Hồ Chí Minh là đường rừng mà - họ thả tôi ở đó chỉ có một mình. Thế đó!

Tôi không biết thế nào để báo cho vợ con tôi, bởi vì quay lui thì không biết thằng nào nó chặn đánh tôi rồi cướp đồ đạc sao. Mà đi cũng không được, bởi ngay lập tức ở đó gần chục thằng mặc đồ xi-vin đi xe ôm đội mũ bảo hiểm tới vừa quay phim vừa hăm dọa. Thế là cuối cùng may mà lúc đó tôi vừa thấy chiếc xe vợ tôi - linh tính báo cái gì đó bởi vì hai năm qua vợ tôi cũng lường hết được các tình huống như thế này rồi chị ạ.

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

CANH LE - TRÍ THỨC PHẢI BIẾT NGHI NGỜ VÀ PHẢN BIỆN !



CANH LE - TRÍ THỨC PHẢI BIẾT NGHI NGỜ VÀ PHẢN BIỆN !






  phan-bien.jpg



TẬN TÍN THƯ BẤT NHƯ VÔ THƯ !
TRÍ THỨC PHẢI BIẾT NGHI NGỜ VÀ PHẢN BIỆN !
Nếu Galileo không biết "nghi ngờ" và "phản biện" Kinh Thánh và Thuyết Địa Tâm : "Chúa lập Địa Cầu trên nền vững, không chuyển lay muôn thuở muôn đời !", "Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên" ... vv ..., thì không có Thuyết Nhật Tâm ra đời ...
Nếu Newton không biết "nghi ngờ" Thuyết Nhật Tâm, không biết "phản biện" khi bị trái táo rơi trúng đầu ..., thì không có Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn ra đời ...
Einstein vì "nghi ngờ" Thuyết Cơ Học Cổ Điển Newton nên đã "phản biện" để phát minh ra Thuyết Tương Đối, đơn thuần là Vật Lý Lý Thuyết vì khoa học thực nghiệm thời đó chưa có đủ các trang thiết bị cần thiết để chứng minh ...
Khi nhìn thấy nước mưa trôi trên lá môn, người Việt chỉ "phán" một cách "mặc nhiên" : "Trời sinh ra thế !", hay chỉ đúc kết được : "Nước đổ lá môn", là hết. Nhưng người Nhật thì biết "nghi ngờ", và đặt dấu hỏi "tại sao ?", rồi đi vào nghiên cứu ... Kết quả nghiên cứu đó sẽ được ứng dụng để sản xuất ra một loại vải không thấm nước, không bám bụi, có thể đi mưa, dễ dàng giặt giũ ...
Trên thế giới, trong khoa học, lý thuyết thường tiến rất xa so với thực nghiệm và ứng dụng, nhờ những "nghi ngờ" và "phản biện" của các Nhà Lý Thuyết ...
Tục ngữ Việt Nam có câu : "Một Người Biết Lo Bằng Một Kho Người Biết Làm", nhưng xem ra không được phổ biến cho lắm, vì người Việt dường như không thích cái kiểu "mơ mộng viễn vông" của mấy anh chàng trí thức "dài lưng tốn vải", mà thích cái kiểu "tay làm hàm nhai" của mấy anh bần cố nông "ăn chắc mặc bền" hơn ...
Ngày nay, mở cửa ra và choáng ngợp trước nền văn minh thế giới, người Việt lại thích làm một kẻ khôn vặt "đi tắt đón đầu", hơn là làm một người tử tế biết nghiên cứu Khoa Học Cơ Bản để phát triển bền vững ...
Nền Giáo Dục của ta hiện nay chỉ thiên về dạy cho con người ta biết cách VÂNG LỜI, mà không dạy cho con người ta biết cách TƯ DUY ! ; biết cách GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ, mà không biết cách ĐẶT VẤN ĐỀ ! Điều đó khiến dân Việt giỏi làm NÔ hơn làm CHỦ !
Nếu có ai may mắn được hấp thụ nền giáo dục tiên tiến của Phương Tây, về nước cũng bị trách là chỉ biết nói mà không biết làm, thậm chí có thời gian còn bị đưa đi "cải tạo lao động" và bị "phê phán" là : nghiên cứu viễn vông không đáp ứng được yêu cầu thực tế sản xuất và chiến đấu của nhân dân, như trường hợp Giáo sư Tiến Sĩ Toán Học Lê Văn Thiêm, hay như trường hợp "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ", "Nhân Văn - Giai Phẩm", "Thanh Niên Xung Phong" ..., hay sẽ bị ghẻ lạnh vì cái thói "tham quyền cố vị" của các "lão thành cách mạng" ..., "Chất Xám" đành phải mai một ..., hay ... "chảy máu" qua trời Tây ...

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Lê Nguyên Hồng - Phản biện bài viết của giáo sư tiến sĩ Hoàng Chí Bảo trên Báo quân Đội nhân Dân ngày 25/08/2013



Lê Nguyên Hồng - Phản biện bài viết của giáo sư tiến sĩ Hoàng Chí Bảo trên Báo quân Đội nhân Dân ngày 25/08/2013


Blogger Lê Nguyên Hồng



Tuần trước Báo quân Đội nhân Dân (http://qdnd.vn)  đã có loạt bài khá mạnh nhưng cũng khá vụng về tấn công đảng viên Cộng Sản kỳ cựu Lê Hiếu Đằng. Có lẽ chưa yên tâm, báo này hôm nay “bồi” thêm một bài chính luận biện minh cho quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là bài viết “Trọng sự thật và chân lý để hành động có trách nhiệm” tác giả là giáo sư tiến sĩ Hoàng Chí Bảo.


Ngay đoạn mở đầu của bài viết nói trên, tác giả Hoàng Chí Bảo đã nói sai, xin trích:“Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng chính trị đang thực thi trọng trách của một đảng lãnh đạo và cầm quyền duy nhất ở Việt Nam”. Thứ nhất, nói về “trọng trách”, người ta chỉ có thể nói về trọng trách khi đang nhận lãnh, gánh vác những trách nhiệm quan trọng. Vấn đề là ở chỗ công việc đó ai giao phó cho họ? Theo tìm hiểu thì kể từ ngày 03/02 năm 1930 thành lập Đảng Cộng Sản Việt nam (ĐCSVN) đến nay, chưa có một cuộc tuyển cử nào của nhân dân Việt Nam lựa chọn họ làm lãnh đạo. Vậy “trọng trách” của ĐCSVN thực ra là do tác giả tự nghĩ ra chứ không có nhân dân nào trao công việc đó cho họ.


Trong cuộc sống, trách nhiệm - nghĩa vụ - (nếu quan trọng thì có thể gọi là trọng trách như ông Hoàng Chí Bảo nói), thì một vế khác cũng luôn song hành, đó là quyền lợi. Vậy một khi nghĩa vụ đã không có một cách chính thức và rõ ràng thì ắt hẳn quyền cầm quyền lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay là quyền lợi chứ không thể gọi là trách nhiệm hay trọng trách gì cả!


Thứ hai, ngay cả Hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng không ghi ĐCSVN là “lãnh đạo và cầm quyền duy nhất” nhưng tác giả Hoàng Chí Bảo lại dám khẳng định điều này, đó là cái sai thứ nhì. Nếu nói đến việc cầm quyền của ĐCSVN hiện nay, người ta chỉ có thể nói là họ “đang cầm quyền lãnh đạo” vì trên thực tế không có bất kỳ một triều đại nào, nhà nước nào tồn tại vĩnh cửu.


Thứ ba, ông Hoàng Chí Bảo viết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam, các tầng lớp nhân dân ở trong nước cũng như đồng bào ta đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, với ý thức dân tộc, tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước đều đồng tâm nhất trí với đường lối của Đảng, chủ động, tích cực tham gia công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo”. Câu này lại sai vì tại sao và dựa vào đâu để nói là toàn thể dân tộc Việt Nam (trong đó có đồng bào ở nước ngoài) đều nhất trí với đường lối của ĐCSVN? Xin tác giả cho bằng chứng, ví dụ đã từng có một cuộc khảo sát, bỏ phiếu kín hay trưng cầu ý dân về quyền lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay? Đảm bảo rằng không thể có sự “nhất trí” như ông Hoàng Chí Bảo nói!


Thứ tư, ông Bảo nói “ý đảng – lòng dân – phép nước đã thống nhất và hòa quyện làm một”, xin được nhận xét rằng câu này rất ẩu. Bản thân tác giả đã nói đến “trọng trách” của ĐCSVN ở phần mở đầu thì dứt khoát nếu có chuyện đó phải là ý dân, không thể là ý đảng. Đảng ở đây chỉ làm trách nhiệm thực thi ý dân. Một khi đã nói “ý đảng” thì đó đích thực là quyền nằm trong tay đảng (ĐCSVN) chứ nhân dân không có quyền gì.


Đối với vấn đề “lòng dân” như tác giả Hoàng Chí Bảo nhắc đến thì rõ ràng đây lại tiếp tục là một nhận định chủ quan. Trên đời này cái khó đoán nhất đó chính là lòng mỗi con người, ở đây lại không phải chỉ là một người mà là lòng dân, nghĩa là toàn thể nhân dân Việt Nam gồm trên dưới 90 triệu con người, ai có thể khẳng định được họ đã “hòa quyện” với ĐCSVN và với “phép nước”? Điều đó chỉ có thể có một phép thử, đó là trưng cầu dân ý công khai.


Nhắc đến phép nước, hẳn tác giả Hoàng Chí Bảo phải biết, phép nước chính là pháp luật. Muốn biết phép nước có được nhân dân tôn trọng hay không (chưa nói đến chuyện “thống nhất và hòa quyện” như tác giả khẳng định liều) thì phải xem xem hệ thống luật pháp được thực thi như thế nào? Công an bắt người có đúng luật hay không? Tòa án xét xử có công khai minh bach hay không? Hệ thống công quyền có trong sạch không? Vv và vv… Nhưng có lẽ chính tác giả Hoàng Chí Bảo cũng không dám khẳng định rằng phép nước hiện nay ở Việt nam là tốt đẹp vì chính lãnh đạo chóp bu của ông giáo sư tiến sĩ này như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng còn phải nói công khai trên truyền thông báo chí về “một bầy sâu” và “thoái hóa, suy thoái, biến chất” trong bộ máy công quyền thực thi pháp luật.