Hiển thị các bài đăng có nhãn phiên toà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phiên toà. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Bên trong phiên toà xét xử blogger Anh Ba Sàm



Bên trong phiên toà xét xử blogger Anh Ba Sàm









CTV Danlambao - Ghi nhận thông tin và tổng hợp từ những người có thể tham dự phiên tòa xét xử blogger Anh Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh) và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy, xin chia sẻ cùng bạn đọc để cùng có cái nhìn rõ hơn về một phiên tòa “công khai”.

Một ngày liên tục của phiên tòa xét xử anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, bắt đầu từ lúc 8g30 sáng, kết thúc lúc 16g50 bằng một bản án đọc hết đúng 50 phút.

Ngay từ phút đầu, phiên tòa đã rất căng thẳng và đáng để ghi nhớ khi Hội đồng xét xử giải thích với các Luật sư rằng “Cơ quan An ninh yêu cầu các Luật sư không mang máy tính vào phòng xử” trong khi đó, phía Viện Kiểm Sát và Tòa có tới 3 cái máy tính để làm việc.

Họ nói với các luật sư rằng, nếu cần đến máy tính thì họ sẽ cung cấp cho mượn. Tất nhiên, chả có LS nào mượn của họ hết, vì toàn bộ tài liệu đều để trong máy tính cá nhân đang bị giữ lại ở ngoài cửa. Không lẽ mượn cái máy của họ để chơi Game?

Bắt đầu bằng Cáo trạng của đại diện VKS, và như dự đoán, cả Nguyễn Hữu Vinh và cô trợ lý Nguyễn Minh Thúy đều phủ nhận, bác bỏ tất cả các cáo buộc nhằm vào mình. Dù cách ly từng người để Tòa và Viện KS thẩm vấn, nhưng Vinh và Thúy đều có lời khai thống nhất và dứt khoát. Nguyễn Hữu Vinh trả lời bình tĩnh, khúc triết và tỷ mỉ. Thần thái của anh giống như người đang đứng ở một diễn đàn để tranh biện về vấn đề mình đang quan tâm chứ không phải ở nơi đầy thù hằn nhắm vào mình.

Đặc biệt phải nói đến Thúy, ngày hôm nay gương mặt cô rất tươi tắn và cứng cỏi, khiến cho những người dự khán phải đặc biệt khâm phục người phụ nữ ấy.

Cả hai thầy trò họ. Vẫn luôn rõ ràng, chính xác, nhanh gọn…

Ngay từ lúc mở màn. để dằn mặt, Chủ tọa phiên tòa đã bác gần hết các yêu cầu của LS, trừ một yêu cầu triệu tập thêm nhân chứng của LS Nguyễn Hà Luân được trả lời nước đôi “ Tòa ghi nhận yêu cầu này, nếu thấy cần thiết sẽ triệu tập” và lời hứa này đã được cố tình lờ đi trong toàn bộ phiên tòa.

Ngay từ đầu, ông chủ tọa đã tìm cách đổ vạ cho người khác: “Việc các LS không được mang máy tính vào phòng xử là yêu cầu từ cơ quan an ninh” cứ như thể Tòa là cấp dưới đang tuân lệnh thượng cấp vậy.

Thật xấu hổ cho một HĐXX mang danh độc lập và có thẩm quyền cao nhất trong một phiên tòa. Câu nói hùng hổ mà thiểu não ấy như muốn phối hợp cùng hàng chục nhân viên an ninh cả cảnh phục lẫn thường phục dàn trận đông nghẹt từ cổng vào đến phòng xử. Những gương mặt đằng đằng sát khí lẫn lộn với những gương mặt non choẹt ngơ ngác mới vào nghề, hòa vào những gương mặt cô hồn, quần áo giang hồ để sẵn sàng đè bẹp đám dân chúng đang cầm biểu ngữ đã bị ép sát sang bên kia đường...

Hai cửa đi vào phòng xử và vào phòng báo chí phải đi qua hai chiếc máy quét đứng lạnh lùng, sẵn sàng lột sạch những gì có thể coi là mối đe dọa cho một phiên tòa được mang danh công khai.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Trịnh Anh Tuấn - Sau 7 phiên toà không đủ chứng cứ kết tội... vẫn tử hình



Trịnh Anh Tuấn - Sau 7 phiên toà không đủ chứng cứ kết tội... vẫn tử hình






Mẹ và con của tử tù Lê Văn Mạnh cùng tham gia kêu oan cho người thân của mình. Ảnh: FB Hùng Sinh Nguyễn







HỒ SƠ VỤ ÁN LÊ VĂN MẠNH



1. Tiểu sử

Lê Văn Mạnh, sinh ngày 25/12/1982 tại Thanh Hóa.

Địa chỉ: Thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Gia đình:

Bố: Lê Văn Chính, mẹ: Nguyễn Thị Việt

Vợ: Nguyễn Thị Thanh Bình

Con: Con trai Lê Văn Kiên, sinh năm 2004 và con gái Lê Thịnh Hà, sinh năm 2005.

Bị bắt ngày 20/04/2005 tại nhà, thôn 4, xã Yên Thịnh, Yên Định, Thanh Hóa.

Tội danh bị cáo buộc: “Giết người” , “Hiếp dâm trẻ em”, “Cướp tài sản”.

Ngày 29/07/2005, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì 3 tội danh “Giết người”, “Hiếp dâm trẻ em” và “Cướp tài sản”.

Ngày 27/10/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội hủy bỏ tội danh “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em”, giao tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tiến hành tố tụng lại từ giai đoạn điều tra.

Ngày 13/03/2006, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì 2 tội danh “Giết người” và “Cướp tài sản”.

Ngày 26/07/2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử y án tử hình.

Ngày 23/04/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị 2 bản án trước đó và giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án từ giai đoạn điều tra.

Ngày 04/06/2007, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiến hành giám đốc thẩm và hủy bỏ 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm gần nhất.

Ngày 29/07/2008, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì tội “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em”.

Ngày 25/11/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử y án tử hình.

Ngày 16/10/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa gửi thông báo về gia đình biết về việc thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh để gia đình làm đơn nhận tử thi đưa về an táng. Thời hạn cuối cùng nhận đơn là ngày 26/10/2015.

2. Tiến trình vụ án

Ngày 21/03/2005, xảy ra một vụ Giết người và Hiếp dâm tại xã Yên Thịnh, Yên Định, Thanh Hóa. Nạn nhân là Hoàng Thị Loan, sinh ngày 15/08/1991.

Vào lúc 17 giờ ngày 21/03, Hoàng Thị Loan đi ra bờ sông Cầu Chày, thuộc địa phân xã Yên Thịnh đi vệ sinh. Đến tối, gia đình phát hiện Loan mất tích liền tổ chức đi tìm nhưng không phát hiện. Đến 13 giờ ngày 22/03/2005, phát hiện xác Loan tại bờ sông Cầu Chày thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân.

Khám nghiệm tử thi xác định:

- Có vết tụ máu ở vùng mi và mí mắt phải.

- Cổ bị thắt bởi áo của nạn nhân.

- Nách bị xây xát.

- Âm hộ chứa chất dẻo, tổn thương.

-Tầng sinh môn tổn thương, tụ máu.

-Màng trinh bị rách.

-Rách da đầu.

-Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận trong dịch âm đạo của nạn nhân có xác tinh trùng (ít) (BL 147)

Ngày 30/03/2005, Tổ chức giám định pháp y Thanh Hóa kết luận Hoàng Thị Loan chết do thắt cổ, trên nạn nhân có ngạt nước, có bị hiếp dâm ( BL 145-146).

Ngày 20/04/2005, Lê Văn Mạnh bị bắt theo lệnh bắt tạm giam số 01 ngày 14/04/2005 của cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Đồng Nai do hành vi cướp tài sản và bỏ trốn.

Ngày 23/ 04/2005, xuất hiện bức thư của Lê Văn Mạnh từ trong tù gửi cho bố với nội dung nhận tội, công an thu giữ bức thư này làm bằng chứng kết tội.

Từ 2005-2008, Lê Văn Mạnh trải qua tổng cộng 07 phiên tòa bao gồm 03 lần sơ thẩm, 03 lần phúc thẩm và 1 lần giám đốc thẩm. Trong tất cả các phiên tòa có mặt, Mạnh đều phản cung, tố cáo rằng mình bị đánh đập dã man bởi các phạm nhân cùng phòng và điều tra viên. Phiên xử phúc thẩm gần nhất vào ngày 25/11/2008 của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội vẫn kết án tử hình đối với Lê Văn Mạnh.

Ngày 16/10/2015, gia đình Mạnh nhân được thông báo từ Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc chuẩn bị tiến hành thi hành án tử hình.

3. Những sai phạm trong quá trình tố tụng hình sự

3.1. Không xác định ADN mẫu xác tinh trùng trong người nạn nhân

Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận trong dịch âm đạo nạn nhân Hoàng Thị Loan có xác tinh trùng đã chết. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không hề giám định xem mẫu tinh trùng này có chính xác của Lê Văn Mạnh không.

3.2. Lấy lời khai trẻ em không có người giám hộ

Em Lê Thị Lệ, thời điểm đó mới 9 tuổi, em gái Lê Văn Mạnh bị điều tra viên đến lấy lời khai tại trường học. Tuy có sự hiện hiện của cô giáo, nhưng đây không phải là người giám hộ được sự đồng ý của gia đình. Gia đình cũng không hề được thông báo về việc lấy lời khai của em.

3.3. Chứng cứ kết án chỉ dựa vào lời khai nhận của bị cáo:

Tất cả chứng cứ kết án Lê Văn Mạnh đều là lời khai của bị cáo hoặc bức thư bị cáo gửi ra ngoài trong thời gian tạm giam và không có ai làm chứng việc Lê Văn Mạnh viết bức thư trong thời điểm nào, tình trạng ra sao.

Ngoài ra, cơ quan công an còn dựa vào lời khai của các phạm nhân cùng phòng nói rằng “Mạnh thú tội trong thời giam bị giam” để làm bằng chứng kết tội. Việc này không hề có ai ngoài những người bị giam chung nói, nên không hề có giá trị pháp lý.

3.4. Thời gian chết trong các phiên tòa án không trùng với thời gian trong biên bản khám nghiệm hiện trường và giám định pháp y:

Theo bản khám nghiệm hiện trường và trưng cầu pháp y của Cơ quan pháp y Thanh Hóa, thời gian chết của nạn nhân Loan là 17 giờ. Tuy nhiên, trong bản cáo trạng các phiên tòa nêu ra rằng Loan chết lúc 17 giờ 30 phút. Thời gian 30 phút ảnh hưởng quan trọng đến việc ngoại phạm hay không của bị cáo. Đây là hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án rất nghiêm trọng.

3.5. Bị cáo từ chối luật sư chỉ định nhưng tòa vẫn tiến hành xét xử

3.6. Không sử dụng biện pháp khoa học để xác định hung thủ ( mẫu mắt, dấu vân tay và xác định ADN)

Nạn nhân bị chết trong tình trạng bị hành hung, hiếp dâm và thắt cổ bằng chính chiếc áo của mình. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không hề xác định mẫu vân tay, mẫu mắt hay giám định ADN tinh trùng trong người nạn nhân. Đối với những vụ trọng án, đây là những chi tiết hết sức quan trọng để xác định hung thủ. Tuy nhiên, trong bản cáo trạng không hề nhắc đến những chứng cứ khoa học này.

3.7. Có dấu hiệu bức cung, dụ cung

Trong các phiên tòa, Lê Văn Mạnh đều phản cung, cho rằng mình bị đánh đập, tra tấn dã man trong trại giam. Lê Văn Mạnh tố cáo Nguyễn Kế Hiền bắt ép viết thư để nhờ Hiền gửi ra ngoài. Bức thư đó lại trở thành vật chứng để kết tội bị cáo. Ngoài ra, Mạnh còn tố cáo nhiều phạm nhân khác đánh đập, hành hung và dụ cung anh trong tù là Phạm Văn Bình và Trương Công Định. Hai người này lại trở thành nhân chứng khi ra tòa về việc “nghe Mạnh nhân tội trong tù”.

3.8. Không ghi ý kiến luật sư bào chữa trong phiên tòa phúc thẩm

3.9. Cơ quan công an thu giữ một chiếc quần sooc của Mạnh làm bằng chứng phạm tội.

Tuy nhiên, những nhân chứng trong làng xác nhận rằng chiếc quần đó Mạnh mặc khi cùng nhiều người đi tìm xác Loan dọc sông Cầu Chày vào ngày 22/03. Chiếc quần đó bị rách và Mạnh vứt bỏ trước mặt nhiều người. Một thời gian sau, công an nhặt chiếc quần đó trong bụi cây và làm bằng chứng kết tội Hiếp dâm trẻ em của Mạnh.

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Người Buôn Gió - Hướng tới phiên toà Bùi Thị Minh Hằng




Người Buôn Gió - Hướng tới phiên toà Bùi Thị Minh Hằng




Cover-BuiTrung-Danlambao.jpg


Trước đây toà án nhà nước CS VN đã từng xét xử rất nhiều người với tội danh chống lại nhà nước. Từ những năm 50 của thế kỷ trước kéo dài đến những năm cuối cùng của thế kỷ, hầu hết các vụ xử án của toà án CS đều diễn ra trong sự sợ hãi của người dân và thân nhân những người bị xử.

Thậm chí có những vụ xử mà thân nhân trong gia đình đứng ra làm người bị hại để tố cáo bị cáo là anh, là cha, mẹ của mình như trong cải cách ruộng đất. Hay có những vụ toà án CS xử cha, nhưng con cái vẫn một lòng ca ngợi Cộng sản hết lời như dạng nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Nhiều tín đồ trung thành mù quáng của chế độ cộng sản vẫn mơ ước có được những phiên toà như ngày xưa. Những phiên toà mà dân chúng khép nép, sợ hãi, cúi gằm mặt khi bị lùa đến xem xử. Không ai dám nhìn bị cáo, ai cũng muốn chứng minh mình không có liên quan gì đến những bị cáo đang đứng trước vành móng ngựa. Nỗi sợ hãi ngự trị và lan tràn đến tận giường ngủ và nhà bếp.

Nguyên nhân sâu xa ca ngợi chế độ Bắc Hàn của đám dư luận viên Trần Nhật Quang còn là ước vọng trong lòng mong thấy một chế độ hà khắc, chế độ có những phiên toà xử người bất đồng chính kiến mà reo rắc được sợ hãi khắp dân chúng như trước kia. Bởi theo nghĩa chúng hiểu đó là nghiêm minh và trật tự. Vì thế chúng nỗ lực gào hét những ai chê trách chế độ Trung, Triều. Chúng luôn miệng ca ngợi và muốn đất nước Việt Nam gắn bó với những mô hình nhà nước như vậy. Bởi một chế độ như vậy thì không cần tài năng, cần đức độ. Chỉ cần trung thành cuồng tín là những kẻ như chúng có đất tung hoành.

Sự sợ hãi quyền uy của dân chúng đối với chúng ngày một giảm đi. Vì thế chúng càng cay cú, điên cuồng kêu gào thiết lập lại một xã hội trật tự. Tức một xã hội luôn khiếp đảm trước mọi lời nói, hành động của chúng. Chúng định nghĩa đó là từ ’’ổn định’’. Trật tự và ổn định không phải xây dựng bằng sự bàn bạc, thống nhất, hài hoà giữa với nhau. Trật tự và ổn định của chúng là, chúng nói thế nào tất cả phải nghe thế. Nếu ai không nghe theo thế, là gây mất trật tự và ổn định.

Thời của những người như Phạm Tuyên đã xa rồi. Ngày nay cứ mỗi phiên xử người bất đồng chính kiến nào, thì lại nảy ra một tình huống là có thêm vài người bất đồng chính kiến nữa ra đời. Trường hợp của Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên..giáo dân Thái Hà, giáo dân Vinh, dân oan Dương Nội…

Người thân thích vì ruột thịt bênh nhau đã đành, giờ thì cả người dân cũng bênh vực họ.