Điều thật, điều bịa và Biển Đông
Bill Hayton
Bản dịch của Phan Văn Song
(Các chú thích do chính tác giả gửi riêng cho người dịch)
Cái nhìn rạch ròi của một chuyên gia và tác giả nổi tiếng về yêu sách biển của Trung Quốc
Chỉ trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc (Trung Quốc) ở Biển Đông. Nơi diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague và bước đầu tiên của tòa - trong thời gian nghị án vào tháng 7 - sẽ là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay không.
Điều Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.
Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km).
Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên.
Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc.
Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng nào.
Đây không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các nhóm chuyên gia (think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách. Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy.
Đây là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thể địa lý trong biển này- và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.
Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai
Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che phủ diễn ngôn quốc tế về tranh chấp Biển Đông. Nó đang vẽ lệch các đánh giá về tranh chấp này ở cấp cao trong chính phủ - cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1], một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc Charles Freeman tại Đại học Brown[2] và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở tại Hoa Kỳ.[3]
Điểm nổi bật về những công trình gần đây này - và chúng chỉ là một các mẫu của một luồng văn bản rộng lớn hơn nhiều - là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên 1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4] cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels năm 1982;[5] cuốn sách China’s Ocean Frontier[6] của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明 (Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7] và 2002.[8]
Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông]. Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công trình khác trích dẫn, và sách của Samuels đuợc 143. Những công trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm 1994[9] và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 - rồi tới phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình khác nữa trích dẫn.[10] Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ cácdữ liệu lịch sử” (p.16). Đô Đốc (hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “ vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.”
Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng có một số đặc điểm chung:
● Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này.
● Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material)
● Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn ttham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này
● Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật
● Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử
● Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc