Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Tuấn Khanh - Trung Quốc dùng điện ảnh như thuốc tẩy não



Tuấn Khanh - Trung Quốc dùng điện ảnh như thuốc tẩy não






Tranh của họa sĩ Kuang Biao (Trung Quốc)




Mới đây, anh bạn trẻ làm trong ngành phê bình điện ảnh kể rằng anh bực tức khi xem đến đoạn kết ngớ ngẩn trong phim The Assassin (2015). Nữ sát thủ trong tác phẩm dày công của đạo diễn Đài Loan Hầu Hiếu Hiền rốt cuộc từ bỏ nhiệm vụ giết kẻ ác vì sợ thế gian loạn lạc, nhân dân không còn "yên ổn làm ăn". Sự bực tức của anh bạn trẻ, bởi anh quá bất ngờ khi tên tuổi đạo diễn, diễn viên... cùng một kinh phí cao ngất đã bị biến thành một mệnh đề chính trị tuyên truyền hết sức kỳ quặc.

Không phải mới đây, mà nhiều thập niên trước, chính quyền Trung Quốc đã ráo riết vận dụng điện ảnh cho mục đích tuyên truyền của mình - nhằm vào người dân trong nước cũng như bên ngoài. Ngân sách cho đường lối này không có giới hạn, tuỳ theo chủ trương hay tình hình thời sự. Vỏ bọc của một nền điện ảnh đầy chất “nghệ thuật” nhưng lồng chứa những âm mưu chính trị đang là một xu hướng rất rõ của Bắc Kinh.

Cuối năm ngoái, phát biểu tại Đại hội điện ảnh Trung Quốc, ông Liu Qibao (Lưu Kỳ Bảo), Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Trưởng ban tuyên truyền Trung ương nhấn mạnh rằng "làm gì thì phim ảnh cũng phải phản ánh cho được tầm nhìn của của chủ tịch Tập Cận Bình và giấc mơ Trung Quốc". Việc công khai biến nền điện ảnh của mình thành một bộ máy tuyên truyền cho thế hệ mới, tiêm vào họ những liều vĩ cuồng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang là một trong những tiêu chí quan trọng của từng sản phẩm từ đại lục.

Để làm được như vậy, Bắc Kinh đang từng bước đồi truỵ hoá những thế hệ điện ảnh tài năng của mình bằng ép buộc, bằng danh và lợi. Người ta nhìn thấy được biểu đồ đi xuống đáng buồn của các danh tài như Trương Nghệ Mưu, Từ Khắc, Thành Long... chỉ vì thoả hiệp với chính quyền. Cũng từ chính sách này mà điện ảnh Trung Quốc xuất hiện nhiều siêu phẩm tốn kém, cực kỳ nghệ thuật, công phu như ý nghĩa thì tầm ruồng, khiến khán giả hụt hẩng.

Từ lúc kinh tế phát triển, Bắc Kinh nhận ra rằng điện ảnh là một vũ khí quan trọng để quảng bá tư tưởng của mình. Trở thành một trong 3 quốc gia sản xuất phim nhựa nhiều nhất thế giới, chỉ sau Mỹ và trên Ấn Độ, với hơn 500 phim nhựa mỗi năm, tự Bắc Kinh cũng xem đây như là một mặt trận văn hoá. Tháng trước, ông Zhang Hongsen (Trương Hồng Sâm), Cục trưởng Quản lý Phát thanh, Phim và Truyền hình đã nói trên báo chí rằng điện ảnh Trung Quốc cần phải luôn xem như mình đang có chiến tranh với Hollywood vậy.

Một trong những kế hoạch lớn lao mà Trung Quốc từng vận lực để trình diễn, đó là việc thực hiện bộ phim "Kiến Đảng Vĩ Nghiệp". Bộ phim này được coi như là chiến dịch quảng bá quan trọng cho lễ kỷ niệm 90 năm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng là cách mà Bắc Kinh âm mưu viết lại lịch sử Trung Quốc, rằng nền văn minh tốt đẹp nhất của đất nước này chỉ đáng nhớ, đáng học kể từ khi cộng sản quốc nội ra đời vào năm 1949.

Chính quyền Trung Quốc đã tài trợ đến 12 triệu USD cho phim này, kêu gọi tất cả các nam nữ diễn viên danh tiếng tham gia và buộc các học sinh, sinh viên, công nhân... phải đi xem bằng cách đưa vé, trừ thẳng vào tiền lương, tiền học bổng. 6.200 rạp hát trên đại lục được lệnh phải công chiếu cùng lúc. Hàng ngàn dư luận viên được lệnh trực trong các rạp và bắt nhịp hát các bài ca cách mạng ca ngợi đảng ngay khi phim vừa hết. Thậm chí không ngại tốn kém, Bắc Kinh còn bỏ tiền cho công chiếu ở 29 rạp tại nước Mỹ, trong đó, bắt buộc phải có ở New York và Los Angeles, tức nơi có nhiều hoa kiều cư ngụ.  Cùng lúc đó, phim Wuxia (Võ hiệp / Dragon) với Chung Tử Đơn và "yếu tố nước ngoài" là Takeshi Kaneshiro (Kim Thành Vũ / Đài Loan-Nhật) có vẻ lấn sân, lập tức mọi nơi đều được lệnh không được quảng cáo phim này hàng ngày.

Mỗi ngày, các lý thuyết gia và tư tưởng văn hoá của Trung Quốc được lệnh nghiên cứu các kịch bản để làm sao lồng vào đó các mầm mống tuân phục, trung thành và chấp nhận sự lãnh đạo, dù như thế nào đi nữa. Đừng ngạc nhiên là từ năm 2002, Trương Nghệ Mưu đã làm phim Hero (Thích Khách Kinh Kha) với tư duy là Kinh Kha thà chết, chứ không giết Tần Thuỷ Hoàng vì nghe tay Hoàng đế này hỏi rằng liệu hắn ta chết thì liệu sẽ có được một chế độ tốt hơn và ổn định hơn không, và thiên hạ sẽ ra sao, khi không còn "yên ổn làm ăn" bởi đại loạn. Ngay trong The Assassin (Đồng Tước Đài - 2012), đạo diễn Triệu Lâm Sơn cũng có một kịch bản Tào Tháo nói như khóc với vua, rằng hãy tiếp tục trị vì bởi "Ngài là hoàng thượng, quỷ thần đều phải kinh sợ". Tào Tháo được vẽ lại với khuôn mặt hung dữ bề ngoài, bởi luôn muốn mạnh mẽ để bảo vệ bời cõi và sống chết với thuyết Khổng Tử: mãi mãi tôn thờ bề trên dù đó là hôn quân.

Không được nghĩ đến một cuộc cách mạng nào khác, trung thành và chấp nhận như một sĩ khí mới mẻ là cách mà Trung Quốc đang bơm vào đầu thế hệ mới thông qua phim ảnh. Bất chấp trong lịch sử, Đảng Cộng sản lại là kẻ luôn kêu gào cách mạng, luôn âm mưu thay đổi, tiếm quyền.

Sáng tạo và thâm độc hơn cả P.J. Göbbels, Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã, Bộ Chính trị Trung Quốc thiết kế một hệ thống tuyên truyền êm dịu và kiên nhẫn để đối nội và cả đối ngoại. Trong nhiều thập niên, phim ảnh của Bắc Kinh được chia sẻ với giá rẻ mạt hoặc biếu tặng thường kỳ cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trung Quốc được mến mộ qua phim cổ trang, lịch sử Trung Quốc được nhồi đến trẻ em cũng thuộc lòng, và nhân dân thì quen dần với cuộc sống chấp nhận mọi thứ, như lý lẽ cao siêu được phát đi từ màn ảnh.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?





Tài tử Đơn Dương bị ép rời khỏi Việt Nam như thế nào?


Posted on 08/12/2011








Vũ Quí Hạo Nhiên (Người Việt) - [ 2002-2003 ] - Hồi đầu thế kỷ, nhân dịp 25 năm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hollywood sản xuất nhiều cuốn phim về đề tài này. Ngoài phim về chiến tranh, còn có phim về nước Việt Nam, và một số phim về người Việt Nam tại Mỹ. Một trong những cuốn phim về chiến tranh làm ra vào thời đó, là phim We Were Soldiers, làm năm 2002 với Mel Gibson trong vai chính. Ngay trong cuối tuần đầu tiên khởi chiếu, cuốn phim đã thu về hơn $20 triệu tiền vé. Chuyện của phim này là trận Ia Drang.


Một cuốn phim về người Việt Nam di tản năm 1975, là cuốn Green Dragon, do Timothy Linh Bùi đạo diễn, một cuốn phim độc lập, sản xuất không qua các studio lớn, nhưng cũng kéo được sự tham gia của hai diễn viên lớn là Patrick Swayze (phim Ghost) và Forest Whitaker (giải Oscar 2007).




Tài tử Đơn Dương trong phim We Were Soldiers, đóng vai viên trung tá chỉ huy quân đội Bắc Việt trong trận Ia Drang.



Một diễn viên Việt Nam xuất hiện trong cả hai phim đó, là Đơn Dương. Trong We Were Soldiers, một đội quân Mỹ 365 người bị một sư đoàn Bắc Việt bao vây và cả hai bên đều chiến đấu dũng cảm. Cuốn phim chuyển qua chuyển lại giữa cái nhìn của bên Mỹ và cái nhìn của bên Bắc Việt. Mel Gibson đóng vai trung tá chỉ huy phía Mỹ. Đơn Dương đóng vai Trung tá (sau này là tướng) Nguyễn Hữu An, người chỉ huy bên Bắc Việt.


Trong Green Dragon, Đơn Dương đóng vai một ông bố đưa gia đình đi di tản sau 30 tháng 4. Họ tới được trại tỵ nạn trong Camp Pendleton. Patrick Swayze đóng vai viên sĩ quan phụ trách người tỵ nạn, còn Forest Whitaker đóng vai một anh lính đầu bếp, anh dùng tranh vẽ của mình để làm quen với một em bé tỵ nạn và qua em bé học thêm về văn hóa Việt Nam. Trong phim, có một đoạn Đơn Dương cầm ghi ta hát bài "Sài Gòn niềm nhớ không tên" của nhà văn Nguyễn Đình Toàn: "Sài Gòn ơi, ta nhớ người như người đã mất tên, như dòng sông nước quẩn quanh buồn."


Niềm vui với hai cuốn phim Hollywood chưa trọn, khi Đơn Dương về tới Việt Nam thì bị hạch sách quấy nhiễu.


Báo chí thời đó chạy nhiều bài viết tố cáo Đơn Dương bằng những lời lẽ rất nặng - loại lời lẽ mà có thể khiến Đơn Dương bị tù, bị kết án tử hình - những chữ như "phản động," "phản bội," "bán nước." Cả các con Đơn Dương cũng bị đấu tố, và quán nhậu nơi Đơn Dương mở chung với gia đình bị đập phá.


Phim "Mê thảo thời vang bóng," chỉ vì có Đơn Dương đóng trong đó, cũng gặp khó khăn khi muốn được chiếu ở các đại hội điện ảnh, liên hoan phim ở ngoại quốc.


Những điều này khiến Hollywood để ý. Giới đạo diễn, diễn viên, các nhà báo chuyên đề Hollywood, xưa nay vốn ít quan tâm đến chính trị ở nơi xa xôi, hoặc có cảm tình với nước Việt Nam sau chiến tranh, bỗng nhìn thấy một sự thật khác ở đất nước đó.


Một thỉnh nguyện thư, mang những chữ ký nổi tiếng của giới điện ảnh Mỹ, được chuyền tay nhau kêu gọi Việt Nam ngưng áp bức gia đình Đơn Dương.


Đồng thời, họ liên lạc với các chính trị gia Mỹ, yêu cầu chính phủ Mỹ can thiệp.


Trong số tài liệu Wikileaks lộ ra, tên tuổi Đơn Dương xuất hiện nhiều lần. Một trong những lần sớm nhất là công điện đề ngày 1 tháng 10, 2002, mang tựa đề "Cuộc họp với Trợ lý Bộ trưởng Hùng."


Mục đích của cuộc họp giữa ông Nguyễn Đức Hùng (sau này là đại sứ ở Singapore và ở Canada) là chuẩn bị cho hội nghị APEC, nơi Thủ tướng Phan Văn Khải sẽ gặp Tổng thống George W. Bush. Tuy nhiên, ông Hùng đã phải nghe Đại sứ Ray Burghardt nêu vấn đề Đơn Dương.


Ông Burghardt nói "báo chí quốc tế cũng như rất nhiều thư từ các nhân vật điện ảnh Hollywood" cho rằng Đơn Dương bị tịch thu hộ chiếu và bị dọa sẽ còn bị phạt nặng hơn nữa. Rồi ông yêu cầu ông Hùng hỏi bên văn hóa sự thật là thế nào.


Cũng khoảng cùng lúc đó, bên Mỹ chuẩn bị sắp xếp để Đơn Dương có thể đi định cư được nếu muốn. Một công điện 2 ngày sau, đề ngày 3 tháng 10, là công điện của tòa đại sứ tại Hà Nội xin Bộ Ngoại giao phê chuẩn hồ sơ tỵ nạn cho diễn viên Bùi Đơn Dương, vợ, và hai con. Công điện này cho biết trước đây bà Suzie Bùi, chị của Đơn Dương và là mẹ của hai đạo diễn Timothy Linh Bùi (Green Dragon) và Tony Bùi (Ba Mùa), đã có làm giấy bảo lãnh rồi nhưng sau này không tiếp tục nữa nên hồ sơ đã đóng. Miêu tả tình hình của Đơn Dương, tòa đại sứ viết:


"Bùi bị đối diện với cả một phong trào lớn tiếng chống lại cá nhân ông, hầu hết vì vai đóng trong phim 'We Were Soldiers' của Mỹ nhưng cũng vì các vai trước đây trong hai phim quốc tế 'Three Seasons' và 'Green Dragon.' Ông bị tố cáo không chính thức vào tội 'phản bội tổ quốc,' một lời tố cáo đáng quan ngại tại Việt Nam, nơi mà hiến pháp bắt buộc mọi công dân 'bảo vệ thống nhất đất nước.'"


Bản công điện viết tiếp:


"Hộ chiếu của Bùi đã bị tịch thu, ông dường như đã bị cấm ra nước ngoài đóng phim vào tháng 11, và có những nỗ lục để cấm ông diễn - nghề kiếm sống duy nhất của ông - trong ít nhất 5 năm nữa."


Không chỉ dùng pháp luật áp chế, Đơn Dương còn bị sách nhiễu như trong một cuộc đấu tố:


"Ông bị quấy nhiễu mỗi tối với điện thoại của an ninh gọi tới, bị theo dõi mỗi khi ra khỏi nhà, và cho biết bạn bè và hàng xóm lo sợ tránh né. Ông bị công an thẩm vấn hôm 2 tháng 10 và tỏ vẻ lo sợ là sắp bị bắt giam, mặc dù lý do để bắt thì không ai nói rõ cho ông trừ những điều đã nói ở trên. Ông đã bị gọi là 'kẻ phản bội' trong báo chí của nhà nước và của đảng Cộng sản."


Nửa năm sau, Đơn Dương được xuất ngoại với vợ con. Cùng đi với gia đình ra Tân Sơn Nhất là nhân viên tòa tổng lãnh sự, và họ về kể lại trong công điện ngày 10 tháng 4, 2003, với tựa đề nặng nề: "Sách nhiễu tới phút chót."


Đó là sau khi Đơn Dương đã bị sách nhiễu, các con ông cũng bị làm khó dễ trong trường, và côn đồ tới phá nhà hàng của gia đình ông, bản công điện viết. Ông bị gọi lên công an phường, ông khất, rồi cuối cùng ra đi mà không lên gặp công an.


Khác với nhiều lần trước, lần này hải quan không cho nhân viên tòa tổng lãnh sự vào trong để tiễn người. Khi được hỏi tại sao thì mỗi người trả lời mỗi khác. Có người bảo nhân viên lãnh sự "chỉ được tiễn công dân nước họ." Có người bảo "khu vực hải quan không cho phép nhân viên lãnh sự vào" - trong khi thật ra thì "mới thứ Sáu tuần trước thì không có luật đó." Rồi khu vực công an cửa khẩu cũng được cho là không cho phép vào, và "một lần nữa, mới thứ Sáu tuần trước thì không như thế."


Một người quay phim, tự xưng là của Truyền hình Việt Nam, theo quay phim gia đình Đơn Dương rời nước, đi qua luôn chặng kiểm soát.


Đến chỗ khai hải quan, nhân viên tòa tổng lãnh sự bị chặn lại. Lý do này nọ được đưa ra. Nhân viên tổng lãnh sự quán bảo, mới thứ Sáu tuần trước chúng tôi không bị chặn, thì hải quan chỉ nhún vai lắc đầu bảo, luật trên thay đổi rồi.


Hai người cấp trên tới, nhưng thay vì giải quyết cho lãnh sự vào trong, một trong hai người bắt đầu khám xét hành lý gia đình Đơn Dương "một cách chậm chạp và ôi trời ơi kỹ càng làm sao," công điện viết. Một nhân viên lãnh sự Úc cũng tới và cũng không được cho vào trong.


Tuy không được vào, nhưng nhân viên lãnh sự cũng đứng nhìn và thấy gia đình bị đưa vào một phòng nhỏ, nơi có ít nhất 8 viên hải quan bu vào lục soát hành lý gồm 6 va li và 3 thùng. Họ lục từng món hàng. "Họ chụp nhiều tấm ảnh của đồ đạc, quần lót bị giơ lên soi ánh đèn."


Sau một giờ lục soát, hải quan cho phép gia đình gói đồ lại, lại chạy qua X-ray, rồi đẩy đi. Đơn Dương được đưa qua một quày khác, rồi bị bắt phải ký một xấp giấy tờ - "phải hứa hẹn cái gì thì chúng tôi không biết," công điện viết.


Hãng EVA đã phải giữ máy bay lại trong 15 phút để chờ gia đình Đơn Dương. "Qua cửa kính, nhân viên lãnh sự quan sát thấy gia đình đi qua được hành lang xuất phát, đi thẳng tới cầu qua máy bay. Người 'quay phim' tiếp tục quay cho tới phút chót, trong khi một đám đông nhân viên an ninh đứng đầy phòng đợi của người đi."


Chuyến bay cất cánh lúc 3:15, với gia đình Đơn Dương trên đó, bay qua California với bà Suzie Bùi, chị ông.


Ông đã, như công điện viết, bị chính quyền "xua đuổi ra khỏi quê hương mình."






Dân Làm Báo

***

Tài tử Ðơn Dương qua đời, sau khi rút ống trợ thở

Thursday, December 08, 2011 4:41:15 PM


WESTMINTER (NV) - Sau một thời gian hôn mê sâu tại Alexander Regional Medical Center, miền Bắc California, tài tử Ðơn Dương qua đời lúc 3 giờ 6 phút chiều hôm nay, 8 tháng 12, 2011.





Tài tử Đơn Dương. (Hình: BBC)




“Với gia đình và bè bạn quây quần quanh giường bệnh, ông được rút khỏi máy trợ thở và chính thức qua đời lúc 3:06pm,” theo tin nhắn cho báo Người Việt của đạo diễn Timothy Linh Bùi, cháu ruột tài tử và cũng là người đạo diễn phim “Rồng Xanh"


Tài tử Ðơn Dương từng là một diễn viên hàng đầu của Việt Nam. Ông từng đoạt giải Nam diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam cho phim “Canh Bạc.”


Tuy nhiên, do hai vai diễn ở Mỹ, Ðơn Dương bị chính quyền Việt Nam trù dập, bị chính các nhà làm điện ảnh, báo chí trong hệ thống của nhà nước mạt sát và trả thù, cho tới khi nhiều ngôi sao Hollywood thúc giục chính phủ Mỹ can thiệp và cuối cùng ông đến được Hoa Kỳ năm 2003.


Ðơn Dương là một trong những tài tử Việt Nam hiếm hoi có vai diễn chính trong phim Hollywood. Lần đầu tiên ông xuất hiện trong một phim Mỹ là trong “Ba Mùa” (Three Seasons) của đạo diễn Tony Bùi, cháu ruột ông, trong đó ông đóng vai một người phu xích lô ở Sài Gòn.


Nhưng cuốn phim đưa ông đến với Hollywood là “We Were Soldiers,” vai chính do Mel Gibson thủ diễn. Bối cảnh phim là trận Ia Drang, trong đó một đội quân Mỹ 365 người bị một sư đoàn Bắc Việt bao vây và cả hai bên đều chiến đấu dũng cảm. Cuốn phim chuyển qua chuyển lại giữa cái nhìn của bên Mỹ và cái nhìn của bên Bắc Việt. Mel Gibson đóng vai trung tá chỉ huy phía Mỹ. Ðơn Dương đóng vai trung tá (sau này là tướng) Nguyễn Hữu An, người chỉ huy bên Bắc Việt.


Sau đó, Ðơn Dương tiếp tục đóng phim với hai tài tử lớn của Mỹ là phim “Rồng Xanh” (Green Dragon) do Timothy Linh Bùi, anh của Tony Bùi, đạo diễn.


Trong Green Dragon, Ðơn Dương đóng vai một người cậu đưa gia đình đi di tản sau 30 tháng 4. Họ tới được trại tỵ nạn trong Camp Pendleton. Patrick Swayze đóng vai viên sĩ quan phụ trách người tỵ nạn, còn Forest Whitaker đóng vai một anh lính đầu bếp, anh dùng tranh vẽ của mình để làm quen với một em bé tỵ nạn và qua em bé học thêm về văn hóa Việt Nam. (HNV)




http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/default.aspx?a=141295&z=1




Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

The Lady, người đàn bà gan lì, cành hoa lan sắt thép

The Lady, người đàn bà gan lì, cành hoa lan sắt thép




The Lady kể lại một phần cuộc đời của Aung San Suu Kyi (DR)







Tuấn Thảo




Aung San Suu Kyi, người đàn bà gan lì, biểu tượng của dân tộc Miến Điện kháng cự lại sự đàn áp của một chế độ độc tài quân phiệt. Từ khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1991, bà Aung San Suu Kyi trở thành hiện thân của phong trào đòi tự do và dân chủ, noi theo tấm gương đấu tranh bất bạo động của bậc tiền bối là Nelson Mandela và nhất là Thánh Gandhi.


Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể cuộc đời của Aung San Suu Kyi lên màn ảnh lớn. Bộ phim The Lady với nữ diễn viên Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) trong vai chính, vừa được cho ra mắt khán giả Pháp trong tuần này. Bộ phim cũng từng được công chiếu lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2011 trong khuôn khổ liên hoan quốc tế điện ảnh Toronto ở Canada.


Trái với những thông tin loan tải trước đây trên mạng, theo đó đạo diễn Pháp Luc Besson đã ấp ủ dự án quay phim này từ nhiều năm qua, thật ra diễn viên Dương Tử Quỳnh mới là người đầu tiên được đọc kịch bản The Lady. Chính cô đã thuyết phục đạo diễn Luc Besson bấm máy thu hình. Bộ phim chủ yếu được quay tại Thái Lan, phần hậu kỳ được thực hiện tại Pháp, chỉ có một số màn ngoại cảnh là được thu lén tại Miến Điện. Để luồn lách sự kiểm duyệt, để thoát khỏi sự kiểm soát của công an, các nhân viên trong đoàn làm phim đã phải giả dạng làm du khách nước ngoài.



Ra đi không ngày mai, hành trình không trở lại


Về nội dung bộ phim The Lady không kể lại toàn bộ cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, mà chỉ tập trung nói về giai đoạn từ những năm 1988 đến năm 1999, hai thời điểm định mệnh trong cuộc đời của người đàn bà gan lì. Vào tháng ba năm 1988, người thân trong gia đình báo tin cho Aung San Suu Kyi là thân mẫu của bà vừa đột qụy. Từ Anh Quốc, bà quyết định rời mái ấm gia đình, trở về Miến Điện để chăm sóc người mẹ đau yếu. Để trấn an chồng con, bà Aung San Suu Kyi nói rằng chuyến đi này chỉ kéo dài có vài tuần lễ, nhưng không ai ngờ rằng đó thật ra là một cuộc hành trình không có ngày trở lại.





 

Tạ bệnh viện thành phố Roon, Aung San Suu Kyi chứng kiến tận mắt cảnh quân đội Miến Điện đàn áp đám đông biểu tình. Phong trào xuống đường đòi dân chủ đã bắt đầu từ tháng 5 năm 1988. Áp lực từ đường phố buộc tướng Ne Win, nhân vật số 1 của tập đoàn quân phiệt Miến Điện, phải từ chức. Thế nhưng, người lên thay thế ông (tướng Than Shwe) lại thuộc phe bảo thủ cứng rắn trong hàng ngũ quân đội. Chính quyền ra lệnh thẳng tay đàn áp người biểu tình. Quân đội không ngần ngại nã súng bắn vào đám đông, khiến hàng ngàn người bị thiệt mạng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, nên sự kiện này được gọi là "Biến cố 8888".


Sau cuộc đàn áp đẫm máu, bà Aung San Suu Kyi quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đòi dân chủ. Bà nối nghiệp thân phụ là tướng Aung San, được xem như là một vị anh hùng dân tộc vì ông đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc giành độc lập cho Miến Điện. Noi gương người cha, Aung San Suu Kyi đứng lên lãnh đạo phong trào đối lập, bà sát cánh đấu tranh Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1988. Hơn một năm sau, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ thắng đậm nhân kỳ tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 5 năm 1990, nhưng kết quả bầu cử bị chính quyền hoàn toàn phủ nhận.


Đối với giới lãnh đạo tập đoàn quân phiệt, Aung San Suu Kyi cánh chim đầu đàn của phong trào đối lập trở thành một đối thủ hết sức đáng gờm. Các tướng lãnh ra lệnh bằng mọi cách đè bẹp phong trào đấu tranh. Từ hình thức hù dọa, gây áp lực tinh thần cho đến việc bắt giữ, cầm tù hay giam lỏng, chính quyền chĩa mũi dùi vào Aung San Suu Kyi và các bạn hữu đồng hành. Càng bị trấn áp, bà lại càng gan lì. Một trong những màn biểu tượng của bộ phim là khi bà đứng trước một hàng lính giăng ngang chặn đường, các binh lính đã nộp đạn nhắm bắn, ngón tay sẵn sàng bấm cò. Thay vì hãi sợ thụt lùi, Aung San Suu Kyi lại bước tới phiá trước, bất kể các mũi súng đang dí vào mặt.



1988 - 1999 : Hai thời điểm định mệnh


Trong phim, nếu như ngày 8 tháng 8 năm 1988 là cột mốc lịch sử đầu tiên, thì năm 1999 đánh dấu thời điểm quan trọng thứ nhì. Đó là năm mà giáo sư người Anh Michael Aris (do Daniel Thewlis thủ vai), chồng của bà Aung San Suu Kyi qua đời vì bệnh ung thư. Nổi danh là một chuyên gia về văn hoá Tây Tạng thuộc trường đại học Oxford, ông Michael Aris thành hôn với bà Aung San Suu Kyi vào năm 1972. Nhân vật người chồng chiếm một vị trí quan trọng ở trong bộ phim The Lady. Vì chính ông khuyên vợ đừng mềm lòng nản chí, đừng vì chuyện nhà mà quên chuyện nước, đừng hy sinh cuộc đấu tranh cho dân tộc, chỉ vì ích kỷ cá nhân hay hạnh phúc bản thân.


Vào năm 1997, giới bác sĩ chẩn đoán phát hiện ông Michael Aris bị bệnh ung thư. Dù đã nhiều năm xa cách, nhưng ông không nỡ đòi vợ trở về Anh Quốc để chăm sóc bệnh tình cho ông. Vào lúc đó, chính quyền Miến Điện sẵn sàng để cho bà Aung San Suu Kyi lên máy bay sang Luân Đôn, vì lý do gia đình. Hù dọa không xong mà giam cầm cũng vô hiệu quả, nên chính quyền mới chuyển sang hình thức mua chuộc, mặc cả tình cảm. Theo lời khuyên của chồng, bà Aung San Suu Kyi quyết định ở lại, vì bà thừa hiểu rằng chính quyền muốn tống bà ra khỏi Miến Điện : một khi về thăm chồng, bà sẽ không còn được trở lại quê cha.





Ông Michael Aris qua đời hai năm sau đó, để lại hai đứa con mồ côi. Aung San Suu Kyi tiếp tục bị giam lỏng, không được nhìn mặt chồng bà một lần cuối. Bà nói : ở một đất nước thật sự tự do, thì không có ai bị buộc phải có một sự chọn lựa đớn đau đến như vậy. Lựa chọn theo kiểu này thì chẳng thà không chọn lựa còn hơn. Bộ phim do khép lại vào thời điểm này, kết thúc một cách lưng chừng, bỏ lửng. Aung San Suu Kyi kiên trì đấu tranh mà vẫn chưa thấy tia ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm u tối. Nhưng từ người đàn bà sắt thép này lại lóe lên một vầng hào quang sáng ngời tuyệt đối. Cái chết của ông Michael Aris nói riêng và của những người đấu tranh với bà nói chung không trở nên vô nghĩa, mà lại thắp sáng thêm niềm tin của một tâm hồn bất khuất.



Bi kịch gia đình, thảm kịch quốc gia


Bộ phim The Lady của đạo diễn Pháp Luc Besson có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Ưu điểm đầu tiên là Luc Besson đã phần nào thay đổi phong cách làm phim của mình. Nổi tiếng là một người chuyên quay phim hành động, chuộng kỹ xảo và nhịp điệu dồn dập, đạo diễn Pháp lần này buộc phải tập trung vào các diễn biến nội tâm của hai nhân vật chính. Nhà làm phim xen kẻ khá tài tình các màn qua cận ảnh với thủ pháp các màn quay toàn cảnh, hàm ý Aung San Suu Kyi và vận mệnh dân tộc Miến Điện, tuy hai mà chỉ là một.


Một cách tương tự, các nhân vật Michael Aris và Aung San Suu Kyi là hai tâm hồn đồng nhất, khi thực sự là một nửa của nhau. Đó là những vai diễn bằng vàng, nếu không nói là để đời. Về điểm này, phải công nhận là Dương Tử Quỳnh nhập vai một cách xuất thần. Cô học tiếng Miến Điện, học từng động tác điệu bộ của Aung San Suu Kyi qua phóng sự truyền hình hay phim tài liệu cho thấy bà xuất hiện trước công chúng.


Tuy có nét mặt hao hao như Aung San Suu Kyi, nhưng Dương Tử Quỳnh lại còn nhịn ăn để gầy hẳn đi, làm cho nét tiều tụy hiện lên trên nhan sắc để có thể gần giống hơn nữa với vai diễn. Cô đã được dịp đến Miến Điện gặp bà Aung San Suu Kyi lần đầu tiên vào cuối năm 2010, trước khi đoàn làm phim chuẩn bị bấm máy thu hình tại Thái Lan. Sau chuyến đi này, Dương Tử Quỳnh bị đưa vào sổ đen, vì khi trở lại thăm bà Aung San Suu Kyi lần thứ nhì vào tháng 6 năm 2011 cô đã bị chặn lại tại sân bay, không được phép nhập cảnh, rồi bị trục xuất khỏi Miến Điện.


Diễn viên Dương Tử Quỳnh và đạo diễn Pháp Luc Besson đều cho biết là công chúng thường nhìn bà Aung San Suu Kyi như là một biểu tượng đấu tranh cho tự do và dân chủ, ngược lại ít ai biết đến chồng bà là giáo sư Michael Aris. Kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, ngay từ đầu đã chọn quan hệ giữa hai vợ chồng làm điểm nhấn, trong những năm tháng đau khổ, những giây phút cam go. Theo cách đọc này, tình thương là động lực thôi thúc, duy trì ngọn lửa thiêng đối với nhà tranh đấu.



Phụ nữ gan lì, hoa lan sắt thép


Vào những năm 1990, Aung San Suu Kyi từng viết về sự đấu tranh của bà trong quyển sách mang tựa đề “Freedom from Fear” (tạm dịch là Vượt lên sự sợ hãi). Nhưng lãnh đạo đối lập Miến Điện hầu như không bao giờ nói về đời tư hay tiết lộ chuyện gia đình. Kịch bản bộ phim The Lady khi tập trung nói về mối tình của cặp vợ chồng này buộc phải điền vào chỗ trống. Nhân vật Aung San Suu Kyi vì thế mà càng trở nên lãng mạn giống như tiểu thuyết.  Tác phẩm The Lady tuy gọi là phim tiểu sử (biopic), nhưng thật ra là một bộ phim tình cảm, có nhiều đoạn cảm động nhưng cũng có màn hơi cường điệu.


Thông thường, một bộ phim theo thể loại này thường lồng tiểu sử vào lịch sử, kể một câu chuyện nhỏ để làm nổi bật câu chuyện lớn. Khuyết điểm của bộ phim The Lady là tác phẩm bị mất cân đối do đạo diễn Luc Besson tập trung quá nhiều vào mối tình của cặp vợ chồng Aung San Suu Kyi, mà chỉ nhìn lướt qua bức tranh toàn cảnh của đất nước Miến Điện. Điển hình là màn mở đầu bộ phim cho thấy cảnh ám sát thân phụ của Aung San Suu Kyi vào năm 1947, nhưng khán giả không biết vì lý do nào. Các sự kiện có thật thường chỉ được phác họa, cho nên khó có thể giúp cho người xem nắm bắt để hiểu rõ thêm về bề dày lịch sử.


Suy cho cùng, bộ phim The Lady nói về hai tấn bi kịch diễn ra cùng lúc : một bên là bi kịch gia đình bà Aung San Suu Kyi và một bên là bi kịch của dân tộc Miến Điện. Nếu cả hai vế bổ túc cho nhau, thì hẳn chắc là bộ phim The Lady sẽ càng có nhiều chiều sâu hơn nữa. Nhưng điều mà người xem có thể cảm nhận rõ nhất là nghị lực và ý chí của bà Aung San Suu Kyi : một vóc dáng mong manh mà bản lĩnh gan lì, một nhánh lan mềm mại nhưng cành hoa sắt thép.


RFI