Hiển thị các bài đăng có nhãn Liên Hiệp Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liên Hiệp Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Chính phủ Việt Nam mang côn đồ sang Liên Hiệp Quốc dự UPR?


Chính phủ Việt Nam mang côn đồ sang Liên Hiệp Quốc dự UPR?



Côn đồ trong phái đoàn chính phủ VN tại trụ sở LHQ


CTV Danlambao - Một thành viên trong phái đoàn chính phủ Việt Nam bị cáo buộc có những hành xử côn đồ và mang tính đe dọa nhóm dân sự độc lập tại phiên điều trần UPR tại Liên Hiệp Quốc diễn ra hôm 5/2. Ít nhất 3 người đàn ông trong phái đoàn nhà nước cộng sản đã có những hành vi mờ ám như theo dõi, trà trộn và nghe ngóng thông tin đối với các nhà hoạt động đến từ Việt Nam.

Trong số này, một người bị nhận diện là kẻ từng lén lút chụp ảnh những nhà hoạt động đến tham gia sự kiện 'Ngày Việt Nam' hôm 30/1 trong khuôn viên trụ sở LHQ. Khi bị chụp ảnh lại, người đàn ông này đã tỏ ra tức giận và quát tháo bằng một thái độ hống hách y hệt những cán bộ cộng sản tại Việt Nam.

Đến phiên Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) hôm 5/2, người đàn ông này được thấy là đi cùng phái đoàn nhà nước cộng sản đến tham dự buổi điều trần. Ông ta có vẻ là cấp trên của hai người còn lại cũng đến hội nghị để làm điều mờ ám.


Ngồi hàng ghế cuối cùng là 3 người đàn ông trong phái đoàn chính phủ Việt Nam thực hiện những hành vi mờ ám


Các nhà hoạt động dân sự độc lập đến từ Việt Nam vốn là những người thường xuyên đối mặt có kinh nghiệm với những thủ đoạn mờ ám từ lực lượng an ninh CS, nên họ cũng mau chóng nhận ra sự xuất hiện bất thường của 3 kẻ lạ mặt trên.

Trong lúc phiên họp đang diễn ra, khi người đàn ông trong phái đoàn nhà nước CS đang lân la 'tác nghiệp' thì bị một bạn nữ trẻ trong phái đoàn dân sự độc lập phát hiện. Nhận thấy điều mờ ám, nhà hoạt động nữ này liền đưa máy lên chụp ảnh làm bằng chứng.

Ngay lập tức, người đàn ông này vội đưa một tay che mặt, để lộ một con mắt long sòng sọc vì tức giận. Ông ta gầm gừ một câu gì đó nghe không rõ, rồi bất ngờ hùng hục lao đến húc thẳng vào người cô gái đang chụp ảnh.

Mặc dù bất ngờ, nhưng cô bạn trẻ vẫn kịp bấm máy rồi vội lùi sang một bên để né tránh cuộc tấn công. Sau màn cố ý va chạm bất thành, người đàn ông này lập tức nhanh chân bỏ chạy. Cô gái liền đuổi theo nhưng chỉ kịp chụp được phần lưng của tên côn đồ đang tháo chạy thoát thân.


Người đàn ông vội che mặt sau khi bị chụp ảnh vì 
có hành vi theo dõi phái đoàn dân sự độc lập


Sau khi tấn công một bạn nữ nhưng không thành, tên côn đồ bỏ chạy thoát thân


Dù vậy, khuôn mặt của tên côn đồ trong phái đoàn nhà nước Việt Nam vẫn bị ghi lại


Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Lãnh sự Ngoại giao nói về UPR


Lãnh sự Ngoại giao nói về UPR


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-01-27

01272014-dangxuonghung.mp3  *  **



Ông Đặng Xương Hùng Hình do ông Hùng gửi RFA     


Mới đây một bài viết của tác giả Đặng Xương Hùng, nguyên Lãnh sự Việt Nam tại Geneve Thụy sĩ, Vụ phó Bộ Ngoại giao Việt Nam viết cho phái đoàn trong nước sắp sang điều trần trong phiên họp Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (Universal Periodic Review - UPR) của Liên Hiệp Quốc vào ngày 5 tháng Hai sắp tới, với những lời lẽ chân thành kêu gọi sự thay đổi thái độ của họ. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông Đặng Xương Hùng tác giả bức thư để làm sáng tỏ thêm về việc làm ý nghĩa này.

Mặc Lâm: Thưa ông, xin ông cho biết động lực nào thúc đẩy ông viết bức thư gửi cho những người trong nước sắp tham gia vào buổi kiểm điểm định kỳ hoạt động nhân quyền của Việt Nam sắp tới tại Liên Hiệp Quốc. Chắc chắn rằng bức thư sẽ gặp phản ứng dữ dội từ nhà nước mặc dù ông tuyên bố đã bỏ đảng và chấp nhận tỵ nạn chính trị. Ông có thể chia sẻ thêm về việc làm này của ông hay không?

Đặng Xương Hùng: Tôi là người trong cuộc. Tôi là lãnh sự Việt Nam tại Geneve và thấy rằng dấu hiệu biến chuyển trong tình hình vừa rồi nhất là chuyện mà họ khăng khăng giữ lại điều 4 hiến pháp. Họ làm cho Quốc hội trở thành một chi bộ của đảng Cộng sản thì tôi nghĩ rằng mình phải ra đi. Việc tôi ra đi tôi chỉ chống lại Đảng cộng sản thôi chứ tôi không chống lại con người.



“Tôi là người trong cuộc. Tôi là lãnh sự
Việt Nam tại Geneve và thấy rằng dấu hiệu
biến chuyển trong tình hình vừa rồi nhất là
chuyện mà họ khăng khăng giữ lại điều 4 hiến pháp.”
- Ông Đặng Xương Hùng



Tôi thấy đồng nghiệp của tôi là những người rất thông minh, rất giỏi họ được đào tạo và được ra nước ngoài, được tiếp xúc với bên ngoài họ hiểu thế nào là thế giới văn minh và tất nhiên họ cũng biết sự vô lý của chủ nghĩa Mác Lênin. Họ chưa thể có quyết định trong lúc này bởi vì cái thế của họ rất khó cho việc đó.

Cái hướng của tôi tập trung vào thái độ của những người hiện nay ở Bộ ngoại giao cũng như các bộ khác. Bởi vì các đoàn từ trong nước sang gồm rất nhiều bộ ngành. Với 11 bộ ngành và khoảng 30 người. Những cuộc họp ở trong nước đã rất cụ thể rồi và sự chuẩn bị của họ cũng chỉ lập lại bài bản như ngày xưa thôi nhưng lần này vai trò có khác vì Việt Nam đã ở trong Hội đồng Nhân quyền rồi và đó cũng là một yếu tố thuận lợi cho chúng ta.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

PHẠM MINH HOÀNG - Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?



PHẠM MINH HOÀNG - Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?






Hãy cứ hình dung một tên Chánh tổng trọc phú nhờ chạy chọt với đủ mặt quan trên vừa được cái hàm cửu phẩm, mặt tươi hơn hớn, đi khắp tỉnh nhà bông dua me xừ các cụ, ra mặt mình cũng là dân chơi có chút vốn liếng về “dân quyền dân sinh” đây. Trong khi đó thì “đồng dân thượng hạ” trong những thôn ấp mà hắn là chủ thu tô đang đói rã họng vì bị vắt kiệt sức, bị bịt mồm bịt miệng không cho kêu van, và ngày ngày bị mấy tên dân phòng hàng tổng vác gậy đến từng nhà đe nẹt, lôi hàng chục người ra đình làng gông lại đánh cho nát đít, để đòi lại ruộng và đất ở cho con cái dâu rể hắn chia lô bán chác với giá cắt cổ, mà một đám doanh nhân ở đâu trên tỉnh lâu nay đang phất lên với những mánh mung bất chính sẵn sàng kéo về thầu tất.

Và mỗi khi ngài Tổng từ trên trên tổng cắp ô vác ba toong đến làng, hễ nghe thằng dân nào mở miệng nói lên hai chữ “dân quyền” thì ngài vác ngay ba toong chỉ vào mặt kẻ lớn lối ấy mà nói: “Quân thoái hóa! Dân quyền là dành để mua vui cho các quan chức hàng tỉnh, chứ đâu phải cho chúng bay! Ông thì… thì… lôi cổ ra cho bàn dân “đấu” cho một mẻ để cho mà biết cái “dân quyền” của dân An Nam là như thế nào bây giờ” (Trích Việc làng tân truyện).

Bauxite Việt Nam

Ngày 12/11/2013 vừa qua, Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên Hiệp Quốc (LHQ) với một tỷ lệ rất cao. Thực tình mà nói, căn cứ vào cơ cấu của HĐNQ cũng như các ứng viên cho kỳ này, giới đấu tranh trong và ngoài nước không lấy làm ngạc nhiên lắm, nhưng dù gì đi chăng nữa đây cũng là một “tin không vui” cho chúng ta, những người yêu chuộng và tôn trọng những giá trị phổ quát của nhân loại. Tuy nhiên, sau những xúc động ban đầu, chúng ta hãy bình tâm xem xét mọi khía cạnh của vấn đề – nhưng từ nhãn quan của 184 nước đã bỏ phiếu cho VN để thấy rằng họ không hoàn toàn “bị lừa bịp” và cũng để thấy rằng con đường chúng ta đang lựa chọn cho dù còn nhiều chông gai nhưng vẫn có những cơ hội, những hy vọng nhất định.

Vài nét về các định chế nhân quyền LHQ

Ít được nhắc đến như HĐBA, nhưng Hội đồng Kinh tế xã hội (viết tắt là ECOSOC) là một cơ cấu cực kỳ quan trọng của LHQ. ECOSOC có nhiệm vụ về các vấn đề liên quan đến kinh tế và xã hội toàn cầu. Năm 1946, ECOSOC đã thành lập Ủy ban Nhân quyền (UBNQ) có nhiệm vụ kiểm soát việc tôn trọng các điều khoản đã ghi trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của LHQ.

UBNQ gồm 53 thành viên chia thành: châu Âu: 15, châu Phi: 15: châu Mỹ: 11, châu Á: 12. UBNQ nhóm họp hàng năm vào tháng 3, khóa họp kéo dài 6 tuần tại trụ sở ở Genève. Trong khóa họp này, ngoài 3000 đại diện các nước thành viên còn có sự hiện diện của 200 tổ chức phi chính phủ. Đây là điểm hết sức quan trọng, vì qua đó UBNQ muốn lắng nghe tiếng nói khác với các tiếng nói “chính thống”.

Khác với HĐBA, các quyết nghị của UBNQ không mang tính ràng buộc nhưng vị thế của UBNQ quan trọng ở chỗ là nó liên quan đến một vấn đề vồ cùng nhạy cảm với tất cả các quốc gia, cho dù đó là thành viên hay không của HĐBA, cho dù đó là một cường quốc hay một nước kém phát triển, cho dù đó là một quốc gia trong thời chiến hay thời bình. Đó là vấn đề nhân quyền. Mà nhân quyền (đối tượng của UBNQ) khác chiến tranh (đối tượng của HĐBA) ở chỗ đó là những khái niệm trừu tượng hơn, do con người đặt ra và diễn giải tùy tiện. Chính vì thế nên UBNQ thường xuyên là diễn đàn cực kỳ căng thẳng.

Một trong những phiên họp gay go nhất đã xảy ra vào năm 2001 tại Durban (Nam Phi). Chủ đề của phiên họp là bàn về nạn kỳ thị. Tuy nhiên kỳ thị ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không đơn thuần là kỳ thị về màu da, về chủng tộc và hơn nữa, vì mang tên là UBNQ nên chắc chắn nội dung cũng sẽ đi đến hoặc xoay quanh vấn đề nhân quyền.

Chính vì hiểu theo nghĩa rộng ấy nên phạm vi ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp năm châu và đặc biệt là như vấn đề Tây Tạng và Pháp Luân Công.

Ngay trước ngày khai mạc, “đánh hơi” thấy mũi dùi hướng vào mình, Trung Quốc đã tích cực “đi đêm”, vận động hành lang để một mặt triệt tiêu tất cả các hướng tấn công đến từ các hiệp hội như Ân xá Quốc tế, Quan sát Nhân quyền (Human Rights Watch), đồng thời xúi giục các nước Phi châu cũng nằm trong danh sách bị cáo, các nước Ả Rập nhằm làm “chìm xuồng” vấn đề Tây Tạng. Hội nghị Durban được khai mạc trong một không khí cực kỳ căng thẳng. Mặc dù chủ đề của hội nghị đặt trọng tâm vào vấn đề kỳ thị, và mở rộng sang các quyền con người, nhưng các nước trong khối Ả Rập đã biến diễn đàn thành một tòa án kết tội Israel. Nhiều quan sát viên, và kể cả bà Mary Robinson cũng chán nản, bất lực trước tình trạng bát nháo và thô bạo của một số quốc gia Ả Rập và Phi Châu.

Nhiều ngày sau, với sự kiên trì và mềm mỏng của ban chủ tọa cũng như của Liên hiệp Âu châu, Hội nghị cũng dần tiến đến việc thông qua một số nội dung quan trọng. Đến lúc này Trung Quốc tung ra một đòn mới: kết hợp với các nước như Burundi, Cuba, Indonesia, Nigeria, Qatar, Myanmar, Sudan, Việt Nam thành một khối được các quan sát viên gọi là “like-minded“, tạm dịch là “cùng hội cùng thuyền” hay nói toạc ra là “một băng đảng” vì các nước trên đang nằm trên danh sách đen của UBNQ. Nhóm này chiếm một trọng lượng đáng kể nên thao túng hoàn toàn hội nghị, đồng thời dựa trên một nguyên tắc là không được xâm hại đến chủ quyền quốc gia nhằm triệt tiêu mọi mũi dùi nhắm vào họ. Và cuối cùng Durban đã không đạt được mục tiêu ban đầu của mình.

Sau thất bại này, bà Mary Robinson từ chức. Đúng ra là bà ta đã thấy sự vô hiệu quả của UBNQ trước sự thao túng của một số quốc gia thành viên, nhưng bà Robinson cố gằng thuyết phục những nước còn lại đưa ra một văn bản đánh dấu cho Hội nghị Durban.

Sự thao túng của nhóm các nước “băng đảng” lên đến đỉnh điểm khi họ đi đêm để loại Mỹ ra khỏi UBNQ trong nhiệm kỳ 2002 và bầu chủ tịch mới là… Libye của Gaddafi. Xướng ngôn viên của đài truyền hình A2 của Pháp trong bản tin 20 giờ đã thốt lên: “Xin quý thính giả nghe rõ, đây không phải là một trò đùa, nhưng Libye vừa được bầu vào ghế chủ tịch UBNQ LHQ…“.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Thông báo của Mạng Lưới Blogger Việt Nam về việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc


Thông báo của Mạng Lưới Blogger Việt Nam về việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc







Ngày 14 Tháng 11, Năm 2013

Với thể thức chọn 4 chỉ loại 1 trong 5 ứng viên của khu vực châu Á, các quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Maldives và Saudi Arabia đã trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC) nhiệm kỳ 2014-2016. Trước đó, việc Jordan rút tên khỏi danh sách ứng viên đã mở đường cho 4 quốc gia kể trên đắc cử một cách đương nhiên và không có cạnh tranh.

Theo nghị quyết 60/251 của UNHRC, với vai trò thành viên, quốc gia Việt Nam trong đó bao gồm cả chính quyền lẫn hơn 90 triệu công dân phải có nghĩa vụ gìn giữ những giá trị nền tảng cao nhất trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũng như tôn trọng những điều khoản mà Việt Nam đã tự nguyện cam kết. Nghĩa vụ này đã được Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh xác nhận sau khi Việt Nam đắc cử vào UNHRC: “Thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia là thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liệp Hiệp Quốc”.

Trước sự kiện này, Mạng Lưới Blogger Việt Nam cho rằng:

Để thật sự xứng đáng là một thành viên của UNHRC, Việt Nam phải thực hiện những nghĩa vụ và cam kết này bằng những hành động cụ thể và không chỉ dừng lại ở những tuyên bố của một số quan chức chính phủ. Cụ thể là Việt Nam phải:

1. Đồng ý với 7 yêu cầu từ Liên Hiệp Quốc - nhưng chưa được đáp ứng bởi chính phủ Việt Nam - để Liên Hiệp Quốc cử phái đoàn đến Việt Nam điều tra những tố giác vi phạm nhân quyền.

2. Chấm dứt mọi hành vi tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá đối với mọi công dân Việt Nam như đã ký kết vào Công ước Chống Tra Tấn của Liên Hiệp Quốc vào ngày 7 tháng 11 năm 2013.

3. Trả tự do cho những công dân đang bị giam giữ chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận và các quyền con người khác dựa trên những nền tảng giá trị, tiêu chuẩn phổ quát từ các công ước của Liên Hiệp Quốc.

4. Hủy bỏ những điều luật có nội dung mơ hồ và bị diễn giải tùy tiện như Điều 258, Bộ luật Hình sự với nội dung: “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân...”

5. Chấm dứt tình trạng độc quyền trong các lĩnh vực báo chí, xuất bản, đảm bảo quyền tự do thành lập các cơ quan báo chí, cơ quan xuất bản của mọi cá nhân, tổ chức, gỡ bỏ tường lửa ngăn chặn sự truy cập của người sử dụng vào các trang mạng xã hội, đồng thời chấm dứt hiệu lực của Nghị đinh 72/2013/NĐ-CP với các nội dung siết chặt tự do biểu đạt và thông tin trên mạng.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Ông Võ Văn Ái lên tiếng cho các Bloggers và Tôn giáo tại Liên Hiệp Quốc - Genève



Ông Võ Văn Ái lên tiếng cho các Bloggers và Tôn giáo tại Liên Hiệp Quốc - Genève








Quê Mẹ - Genève, 13.9.2013  - Khóa họp lần thứ 24 của Hội đồng Nhân quyền LHQ đang diễn ra tại Genève từ ngày 9 đến ngày 27.9.2013.


Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền, với sự bảo trợ của 4 tổ chức Human Rights Watch, IFEX (Bảo vệ và Thăng tiến Tự do Ngôn luận), Article 19 (Bảo vệ Tự do Ngôn luận), và PEN International (Văn Bút Quốc tế), đã tổ chức vào chiều ngày thứ tư 11.9.2013, tại Phòng hội XXII của LHQ một cuộc Hội thảo về “Ngôn luận hợp pháp trên Internet bị quy tội : Nhân chứng từ Việt Nam, Thái Lan, và Cam Bốt” (Criminalisation of Legitimate Expression on the Internet : Testimonies from Viet Nam, Thailand and Cambodge).


Các nhân chứng từ Việt Nam có hai ông Võ Văn ÁiNguyễn Bắc Truyển, bà Sukanya Joop Prueksakasemsuk đến từ Thái Lan và cô Ramana Sorn đến từ Cam Bốt.



Hội thảo tại LHQ về “Ngôn luận hợp pháo trên Internet bị quy tội:
Nhân chứng từ Việt Nam, Thái Lan, Cam Bốt” .



Mở đầu cuộc hội thảo ông Võ Văn Ái phát biểu như sau:


“Về vấn đề tự do ngôn luận trên Internet, Việt Nam mới thông qua Nghị định 72 hôm 15.7 và có hiệu lực kể từ ngày 1.9, là hành xử cuối cùng của Việt Nam chống lại tự do ngôn luận trực tuyến. Nghị định này tóm lược sự chọn lựa hai đường của Việt Nam : Làm vui lòng cộng đồng quốc tế quan tâm tới nhân quyền, song song với việc đàn áp nhân dân.


“Kể từ chính sách Đổi mới kinh tế ra đời năm 1986, mục tiêu của nhà cầm quyền tập trung thu hút giới đầu tư quốc tế, nhưng đồng thời kiểm soát chặt chẽ chế độ chính trị. Nghị định 72 quản lý việc sử dụng Internet để khuyến khích các công ty quốc tế vào Việt Nam làm ăn. Trước khi Nghị định ban hành, nhà cầm quyền Việt Nam tham khảo cộng đồng quốc tế về bản dự thảo nghị định. Nhưng chỉ sửa đổi theo các lời phê phán những chi gây bất mãn giới đầu tư quốc tế. Trái lại, gạt bỏ mọi điều mang lại tự do ngôn luận cho nhân dân.


“Việt Nam vốn đặt nặng việc mở rộng Internet để phát triển kinh tế, nhờ vậy chỉ trong vài năm, Việt Nam trở thành quốc gia sử dụng Internet rộng rãi nhất ở Đông Nam Á. Kết quả là : kể từ năm 2000 số người sử dụng Internet tăng 15 lần hơn, đạt con số 31 triệu người sử dụng, tức một phần ba dân số.


“Vài năm trước đây phải vào các quán Cà phê Internet để nối mạng. Nay việc ấy có thể thực hiện trực tiếp tại nhà để truy cập các Trang Web.


“95% giới trẻ từ 15 đến 22 tuổi ở những thành phố lớn như Saigon, Hà Nội, sử dụng Internet, 80% giới trẻ liên kết với các Mạng xã hội.

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Nhóm Công tác về Cầm tù Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc và Quyền công dân quốc tế cho mọi người Việt Nam








Nhóm Công tác về Cầm tù Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc và Quyền công dân quốc tế cho mọi người Việt Nam








Danlambao -  Phạm vi của các sự việc mà WGAD tiếp nhận và xử lý không chỉ giới hạn trong vấn đề cầm tù, mà được mở rộng ra bất kỳ sự tước đoạt tự do nào của con người mà không tuân thủ các chuẩn mực được nêu trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền và các văn bản luật quốc tế liên quan. Phạm vi này bao gồm các sự việc xảy ra trước, trong lúc hoặc sau việc bắt giữ, giam cầm và xét xử hoặc mệnh lệnh hành chính dẫn đến việc tuyên án phạt tù, bỏ tù, quản chế hoặc cưỡng chế lao động để ''phục hồi nhân phẩm''. Phạm vi này cũng xem xét cả những sự việc vi phạm hoặc thiếu vắng bất kỳ yếu tố nào để đảm bảo một phiên tòa xét xử công bằng và dẫn đến án phạt tù hay quản chế.


*


Các Quyền con người là tự nhiên, vốn sẵn có từ khi mỗi người chào đời mà không cần đợi ai cho mới được. Các quyền này do Tạo hóa định sẵn cho con người như một tính chất bất di bất dịch mà không có bất kỳ con người nào khác có thể thay đổi được. Do vậy Quyền con người cũng không thể khác nhau bởi những tính chất khác nhau như chủng tộc, màu da, quan điểm chính trị, trình độ phát triển, xuất thân, địa vị xã hội hoặc ở những chế độ chính trị ở các quốc gia khác nhau. Bất chấp các chính quyền này có thừa nhận và bảo vệ Quyền con người hay không thì các quyền này vẫn tồn tại một cách khách quan bằng các tính chất như trên.


Do vậy, toàn nhân loại tiến bộ của thế giới đã thừa nhận, ủng hộ và phấn đấu cho các quyền thiêng liêng này bằng bản Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền (The Universal Declaration of Human Rights) do Liên Hiệp Quốc tuyên bố ngày 10/12/1948. Lưu ý rằng, đây là sự công bố công nhận sự tồn tại vốn có, tự nhiên của các quyền này chứ không phải là sự khai sinh ra các quyền này vào ngày tuyên bố. Bản Tuyên ngôn này đã trở thành chuẩn mực chung cho tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc vì mục đích thực hiện Hiến chương Liên Hiệp Quốc cho sự phát triển của con người, cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Qua bản Tuyên ngôn này, toàn thế giới đã thừa nhận các Quyền của con người bao gồm: quyền được sống, quyền tự do và an toàn cá nhân, chẳng hạn như quyền được tạo các điều kiện căn bản để sinh sống, hôn nhân và nuôi dạy con cái, quyền được tôn trọng nhân phẩm; có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo và tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến về bất kỳ lĩnh vực gì mà không giới hạn biên giới, có quyền không bị bắt giữ tùy tiện mà không xét xử, quyền được xét xử công bằng, quyền được bảo vệ không bị xâm phạm sự riêng tư như chỗ ở, điện tín, thư tín, điện thoại; quyền được tự do lựa chọn chế độ chính trị và tham gia vào các bộ máy nhà nước, và rất nhiều những quyền khác... (xem thêm tại: vi.wikisource.org. )


Bất kỳ nước nào là thành viên Liên Hiệp Quốc đều mặc nhiên thừa nhận bản Tuyên ngôn này và các quyền này.


Để thúc đẩy ủng hộ các quyền trên tại các quốc gia thành viên, Liên Hiệp Quốc đã bảo trợ cho 2 công ước vào năm 1966 là: Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Những nước nào ký gia nhập các công ước này phải cam kết thúc đẩy, bảo vệ các Quyền Con người theo những cách thức và trách nhiệm được ràng buộc theo các điều khoản trong các Công ước đó. Việt Nam đã gia nhập cả 2 công ước nêu trên từ năm 1982 và có hiệu lực ngay sau đó nên phải có trách nhiệm theo sự ràng buộc bởi 2 công ước đó. Ngay cả những quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc chưa tham gia những công ước này thì cũng đã phải thừa nhận các Quyền Con người theo đúng như bản Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền khi gia nhập Liên Hiệp Quốc.


Từ Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị, một tổ chức được thành lập được gọi là Uỷ ban Nhân quyền (Human Rights Committee). Uỷ ban này có quyền hạn giám sát và thúc đẩy việc thực hiện Công ước này đối với các nước tham gia, xem xét đánh giá các kiến nghị và khiếu nại liên quan đến sự tôn trọng thực hiện Công ước giữa các nước này. Một nghị định thư tùy chọn (optional protocol) cũng đã được phê chuẩn và khuyến khích các quốc gia này ký kết. Mục đích của nghị định thư này là cho phép Uỷ ban Nhân quyền tiếp nhận khiếu nại về sự vi phạm Quyền Con người từ những cá nhân ở các nước nào tham gia nghị định thư này (xem thêm chi tiết tại đây: http://www2.ohchr.org/english/law/ccpr-one.htm). Việt Nam đã không ký tham gia nghị định thư này.


Tuy nhiên, do thực tế rằng có hàng ngàn người trên khắp thế giới bị bắt giữ và cầm tù tùy tiện chỉ vì họ đã thực hiện các Quyền Con người cơ bản của mình như tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, v.v... mà không hề được xét xử hoặc không được xét xử công bằng bởi các cơ quan tư pháp độc lập, không thiên vị. Và do thực tế rằng những sự vi phạm trên diễn ra phổ biến tại những nước không tham gia nghị định thư nói trên, do vậy vào năm 1991, Uỷ ban Nhân quyền nói trên của Liên Hiệp Quốc đã thành lập Nhóm Công tác về Cầm tù Tùy tiện (Working Group on Arbitrary Detention, sau đây gọi tắt là WGAD). WGAD được uỷ nhiệm điều tra; tìm kiếm và tiếp nhận thông tin; báo cáo và đưa ra các yêu cầu đối với các sự việc xâm phạm các quyền và tự do của con người một cách tùy tiện trên toàn thế giới.


Điều đáng chú ý đối với công dân Việt Nam là WGAD có quyền tiếp nhận khiếu nại về những vấn đề trên từ bất kỳ một công dân nào, ở bất cứ nơi đâu trên thế giới mà không cần quốc gia ở đó đã ký nghị định thư tùy chọn nói trên. WGAD vừa được gia hạn thời gian hoạt động thêm 3 năm nữa từ ngày 30/9/2010.


Phạm vi của các sự việc mà WGAD tiếp nhận và xử lý không chỉ giới hạn trong vấn đề cầm tù, mà được mở rộng ra bất kỳ sự tước đoạt tự do nào của con người mà không tuân thủ các chuẩn mực được nêu trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền và các văn bản luật quốc tế liên quan. Phạm vi này bao gồm các sự việc xảy ra trước, trong lúc hoặc sau việc bắt giữ, giam cầm và xét xử hoặc mệnh lệnh hành chính dẫn đến việc tuyên án phạt tù, bỏ tù, quản chế hoặc cưỡng chế lao động để ''phục hồi nhân phẩm''. Phạm vi này cũng xem xét cả những sự việc vi phạm hoặc thiếu vắng bất kỳ yếu tố nào để đảm bảo một phiên tòa xét xử công bằng và dẫn đến án phạt tù hay quản chế.


WGAD xem một sự tước đoạt tự do của con người là tùy tiện khi sự tước đoạt đó đi ngược lại với các điều khoản đã nêu trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền và các văn bản luật quốc tế liên quan, và khi sự tước đoạt đó áp đặt lên một người vì lý do người đó đã thực hiện các quyền con người và tự do của mình cũng được nêu trong các Tuyên ngôn và văn bản này. Việt Nam đã ký tham gia Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị nên việc tước đoạt tự do của con người bằng bản án hoặc quyết định hành chính đối với những người đã thực hiện các quyền và tự do của mình được đảm bảo tại các điều 12, 18, 19, 21, 22, 25 và 27 của Công ước này đều là tùy tiện. Các điều này bảo vệ các quyền như tự do tư tưởng, tôn giáo, ngôn luận, bày tỏ chính kiến, hội họp, lập hội, bầu cử; ứng cử và tham gia công việc nhà nước, v.v...


Thời gian giải quyết của WGAD cũng nhanh hơn các định chế bảo vệ nhân quyền khác của Liên Hiệp Quốc. Thời gian trung bình cho một vụ việc từ khi bắt đầu tiếp nhận đến khi kết thúc khoảng 6 đến 9 tháng. Khi một sự việc đã được đánh giá là tùy tiện thì WGAD sẽ đề nghị nhà nước đã thực hiện việc đó trả tự do và khắc phục hậu quả cho người bị tước đoạt tự do một cách tùy tiện. Nếu yêu cầu này không được đáp ứng thì WGAD sẽ gửi báo cáo kiến nghị đến Ủy ban Nhân quyền và các cơ quan Nhân quyền khác của Liên Hiệp Quốc. Điều này, tùy mức độ, có thể dẫn đến những nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đối với nhà nước nói trên. Thực tế trong thời gian qua, các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đối với các chính phủ Ai Cập, Li Bi, ... (liên quan đến các sự kiện Mùa xuân Ả Rập) đều có tác động đáng kể của WGAD.


Thủ tục khiếu nại của WGAD rất đơn giản và dễ dàng cho các cá nhân. Chỉ cần gửi thư bưu điện, hoặc fax hoặc email đến cho WGAD theo địa chỉ:


Working Group on Arbitrary Detention c/o Office of the High Commissioner for Human Rights
 United Nations Office at:
Geneva
8-14, avenue de la Paix
1211 Geneva 10, Switzerland
fax: +41 22 9179006
e-mail: wgad@ohchr.org


Nội dung khiếu nại gửi đến cho WGAD cũng rất đơn giản, chỉ cần nêu sự việc liên quan đến người nào, nước nào xảy ra việc tùy tiện tước đoạt tự do của con người. WGAD có đưa ra 1 mẫu các câu hỏi để người khiếu nại điền vào nhưng không bắt buộc người khiếu nại phải gửi mẫu này, tức là không cần gửi mẫu này khi yêu cầu khiếu nại vẫn được xem xét. Người gửi khiếu nại có thể chính là người bị tùy tiện tước đoạt tự do, người thân của những người này hoặc người đại diện của họ. Người thân ở đây không nhất thiết là những người có quan hệ máu mủ. Tiêu chuẩn và cam kết của WGAD là không cung cấp thông tin về người khiếu nại cho chính phủ bị khiếu nại.


WGAD cũng không đòi hỏi rằng sự việc đã được khiếu nại bằng tất cả các biện pháp ở trong nước rồi mà không có kết quả thì mới được khiếu nại đến WGAD. Điều này có nghĩa rằng mọi cá nhân đều có thể gửi khiếu nại đến cho WGAD về các sự việc tùy tiện tước đoạt tự do của con người vào bất kỳ thời điểm, giai đoạn nào đã và đang xảy ra sự việc.


Ngoài ra WGAD còn có ''thủ tục hành động khẩn'' để can thiệp nhanh mang tính nhân đạo cho những trường hợp mà nếu chậm trễ có thể gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tính mạng của những người bị tùy tiện tước đoạt tự do, hoặc cho những trường hợp có thể tạo ra những hậu quả nghiêm trọng khác. Người yêu cầu cho những trường hợp này cũng gửi đến địa chỉ của WGAD như trên, email và fax được ưa thích để đảm bảo tính nhanh chóng. Nội dung bằng tiếng Anh cần ghi rõ: ''request the Working Group on Arbitrary Detention to launch an urgent appeal on humantarian ground''.


WGAD không bắt buộc phải dùng tiếng Anh để gửi khiếu nại hoặc yêu cầu đến cho họ. Tuy nhiên, thực tế là việc sử dụng tiếng Anh cho việc liên lạc trao đổi này sẽ có hiệu quả và mau chóng hơn rất nhiều. Phần dưới cùng của tài liệu hướng dẫn này là Model Questionaire (Mẫu câu hỏi) do WGAD đưa ra. Như đã nói ở trên, Mẫu câu hỏi này không bắt buộc phải gửi cho WGAD khi yêu cầu khiếu nại. Có thể theo mẫu này hoặc chỉ tham khảo nó khi soạn nội dung khiếu nại gửi cho WGAD.


WGAD là một thiết chế (institution) hiệu quả của Liên Hiệp Quốc để bảo vệ tự do và các Quyền con người. Người dân Việt Nam cần sử dụng quyền công dân quốc tế của mình để yêu cầu WGAD bảo vệ tự do và Quyền con người cho mình và cho mọi công dân Việt Nam như Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền và Hiến pháp Việt Nam thừa nhận, thay vì chỉ gửi thư đề nghị cho Chủ tịch nước.


Hàng chục ngàn emails của người Việt và bạn bè năm châu có thể dễ dàng gửi đến WGAD từ khắp nơi trên thế giới để khiếu nại, yêu cầu về những trường hợp xâm phạm, tước đoạt tùy tiện tự do của con người đã và đang xảy ra ở Việt Nam. Điều này chắc chắn sẽ không những tạo nên sự quan tâm đặc biệt của WGAD đối với các vấn đề này, mà còn tạo ra áp lực không nhỏ đối với những người hoặc những bộ máy đang cố tình vi phạm Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam cũng như các văn bản luật quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam cam kết tôn trọng. Quyền con người là vốn có, nhưng những quyền này chỉ tồn tại trên thực tế khi nào mỗi người chúng ta sử dụng chúng và đòi hỏi kiên quyết khi chúng bị xâm phạm, và khi luật pháp quốc gia không bảo vệ được các quyền này thì công dân thế giới có quyền sử dụng đến luật pháp và thiết chế quốc tế để bảo vệ tự do và quyền con người của mình và người khác. Đó là nguyên tắc chung của Liên Hiệp Quốc.



*



MODEL QUESTIONNAIRE TO BE COMPLETED BY PERSONS ALLEGING ARBITRARY ARREST OR DETENTION


I. IDENTITY


1. Family name: …………………………………

2. First name: ……………………………...……

3. Sex: (Male) (Female)

4. Birth date or age (at the time of detention): ………………………………………

5. Nationality/Nationalities:…………………………………………………………

6. (a) Identity document (if any): …………………………………………………...

(b) Issued
by: …………………………………………………………………………….......

(c) On
(date): ……………………………………………………………………………..

(d)
No.: ………………………………………………………………………………

7. Profession and/or activity (if believed to be relevant to the arrest/detention):
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

8. Address of usual residence:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

II. Arrest

1. Date of arrest:………………………………………………………………......

2. Place of arrest (as detailed as possible):
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

3. Forces who carried out the arrest or are believed to have carried it out:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

4. Did they show a warrant or other decision by a public authority?
(Yes) ........ (No).........

5. Authority who issued the warrant or decision:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

6. Relevant legislation applied (if known):
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………


III. Detention

1. Date of detention: ………………………………………………………………

2. Duration of detention (if not known, probable duration): …………………………

3. Forces holding the detainee under custody:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

4. Places of detention (indicate any transfer and present place of detention):
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………

5. Authorities that ordered the detention:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

6. Reasons for the detention imputed by the authorities:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

7. Relevant legislation applied (if known):
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

IV. Describe the circumstances of the arrest and/or the detention and indicate
precisereasons why you consider the arrest or detention to the arbitrary
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

V. Indicate internal steps, including domestic remedies, taken especially with the
legal and administrative authorities, particularly for the purpose of
establishing the detention and, as appropriate, their results or the reasons why
such steps or remedies were ineffective or why they were not taken
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

VI. Full name and address of the person(s) submitting the information (telephone and
fax number, if possible)
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………



Date: …………………… Signature: ……………............……



| 10.1.12


11 comments



TBT
04:38 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Việt Nam không có ai bị tù , chỉ có người bị đi cải tạo hoặc phục hồi nhân phẩm .


Nặc danh
04:55 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
"Việt Nam không có ai bị tù , chỉ có người bị đi cải tạo hoặc phục hồi nhân phẩm."
Luận điệu của những thằng VC chó đẻ,trâu sanh,mọi rợ...xuất thân từ Hang,Hầm,Địa Đạo,Rừng Rú,Đồng Hoang,Nằm Vùng...hiện giờ đang cai trị ở VN.


Nặc danh
05:07 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
tù, cải tạo hay phục hồi nhân phẩm nói chung cũng sài từ "detention", có nghĩ là giam cầm vì lý do chính trị nói chung. Cho dù CS dùng danh từ như thế nào đi nữa khi ra tòa thì cũng là giam cầm mà không qua pháp luật hay vô pháp


Vu Huy
05:15 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Có một thiết chế như vậy mà lâu nay chúng ta không biết, thật đáng tiếc. Cảm ơn và hoan nghênh Danlambao.

Chúng ta hãy cùng nhau kêu gọi WGAD can thiệp cho anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Cù Huy Hà Vũ, anh Điếu Cày, chị Bùi Minh Hằng và những tù nhân lương tâm khác. Tôi sẽ làm ngay bây giờ.

Nặc danh
05:38 Ngày 10 tháng 1 năm 2012

Tôi cũng mới nghe thấy mà đang lọ mọ tìm nó xem thế nào?


Bốc vác
05:33 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Dân Làm Báo có cách nào giúp kiến nghị mà nhiều người có thể ký tên không?

Thanh
05:49 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Hoan Hô Dân Làm Báo.


06:07 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
khổ thân những người nghèo, tiền đã không có, tiếng tây cũng không biết thử hỏi làm sao đơn kêu cứu gửi đến tận địa chỉ trên được - Các bạn nên nhớ như gia đình Thuc Vy đó đi đâu được không ? về ở nhờ nhà bà nội thì Bà Nội cũng vạ lây bị cưỡng chế nhà cửa luôn, sao nhà của Ông Tuấn trên TP Tam Kỳ họ không cưỡng chế ? không biết này bố con họ sẽ đón tết ở đâu nữa


mat
06:09 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
thật rất cảm ơn dân làm báo
tôi là người dân nông thôn không biết tiếng anh nhưng toàn thể dân việt nam cũng có nhiều người biết vậy hãy bắt tay nhau cùng làm các bạn ơi


Nặc danh
06:23 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Tôi thì chỉ biết mỗi tiếng Tàu,thế có chết không? Nghe các lãnh đạo bảo học tiếng Tàu dần đi là vừa nên mấy cái thứ tiếng Tây là hổng bít.


Tôm Càng Hồ Tây
07:03 Ngày 10 tháng 1 năm 2012
Thật là tuyệt vời khi Ban điều hành DLB đưa ra cho mọi người biết về tư liệu này.
DLB hãy khơi mào cho việc viết thư tố cáo đến WGAD về những người đang bị băt tù một cách vô luật ở nước VN.
Theo tôi nêu làm được mẫu chuẩn bằng tiếng Anh sau đó post lên mạng cho mọi nguòi copy rồi gửi theo dịa chỉ thư riêng đến WGAD, như vậy là rất tiện vì sẽ không bị lộ d/c email v.v... nhưng ở WGAD sẽ nhận được hàng ngàn thư tố cáo từ các nơi về WGAD.
Các bạn trong thôn DLB thay như thé có tiện không?