Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung-Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung-Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Vương Trí Dũng - Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa



Vương Trí Dũng - Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa




Thanh Do1- 1990.9.3.jpg
Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng,cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)
(Nguồn hình : Bùi Tín).



Phát triển quan hệ không thù địch, hơn thế nữa còn phải thân thiện với các nước láng giềng, là một chính sách đúng đắn của mọi nhà nước yêu chuộng hòa bình công lý. Chính sách láng giềng thân thiện lại cần được ưu tiên hơn, khi láng giềng là một cường quốc. Bởi vậy, năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sau hơn một thập kỷ chiến tranh và xung đột biên giới là việc cần làm.

Thế nhưng cái cách mà Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thì thật không bình thường. Không chỉ như vậy, nội dung bình thường hóa quan hệ mà Việt nam cố gắng để đạt được, cụ thể hóa bằng Thỏa thuận Thành Đô (4/9/1990), là một nội dung bất lợi cho Việt Nam. Không chỉ bất lợi, mà ngày càng thêm thảm họa. Mức độ thảm họa tăng theo cấp số nhân cùng với thời gian mà chính những người tham gia đàm phán Thỏa thuận Thành Đô đã không lường trước được.

Hai mươi tư năm trôi qua kể từ ngày ký Thỏa thuận Thành Đô, hậu quả khôn lường của nó đối với Việt Nam nguy hiểm đến nỗi mà ai trong số họ còn sống, bề ngoài không dám thể hiện, hoặc cố viện dẫn hoàn cảnh để thanh minh bào chữa, nhưng trong sâu xa tâm khảm, đều cảm thấy hối tiếc.


BA SAI LẦM

1. Sự hoảng hốt lịch sử

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã làm cho một số lãnh đạo Việt Nam hoảng hốt. Lo sợ sự sụp đổ thể chế, lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ đã đột ngột biến kẻ thù truyền kiếp – từng xâm lược Việt Nam năm 1979, liên tục đánh chiếm biên giới Việt Nam suốt trong thập kỷ 1980, và đã bị ghi vào Hiến pháp 1980 là kẻ thù – thành người “anh em” cùng phe xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của Thỏa thuận Thành Đô ký ngày 4/9/1990 giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đại diện Việt Nam là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, có sự chứng kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Còn đại diện phía Trung Quốc là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là việc cần làm. Nhưng quá hốt hoảng trước sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã vội vã ký một thỏa thuận bất lợi cho Việt Nam nhằm bảo vệ chế độ, bất lợi đến nỗi mà chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần biểu lộ sự băn khoăn.


Thanh Do 2.png
Đại diện Việt Nam là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, có sự chứng kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Còn đại diện phía Trung Quốc là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.


2. Ảo tưởng về chế độ

Sai lầm thứ hai là ảo tưởng về chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng lý ra sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu phải là vấn đề lý luận nghiêm túc để các nhà lãnh đạo Việt Nam phân tích suy ngẫm. Rõ ràng chủ nghĩa xã hội đồng loạt sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải do kẻ thù bên ngoài, mà do chính các nguyên nhân phát triển nội tại của mô hình chủ nghĩa xã hội. Qua thực tiễn tồn tại, không khó khăn để nhận ra rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội chứa đựng những lỗi hệ thống mang tính nguyên tắc, quyết định sự sống còn của mô hình. Muốn sửa đổi các lỗi hệ thống đó thì phải thay đổi mô hình. Điều đó chứng tỏ các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, tuy dày dạn kinh nghiệm kháng chiến chống ngoại xâm – mà thắng lợi giành được là do lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân quyết định – lại chưa để tâm cần thiết đến mặt nghiên cứu lý luận.


3. Nhầm lẫn về Trung Quốc

Nhưng sai lầm đáng buồn hơn cả là nhận thức không nhất quán về Trung Quốc. Trung Quốc công khai tham vọng xâm chiếm Việt Nam. Trung Quốc gây ra cho Việt Nam những tổn thất to lớn trong Hiệp định Genève. Trung Quốc phá hoại cản trở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Bất chấp bao nhiêu năm “cùng phe xã hội chủ nghĩa”, từng “anh em bè bạn”, nhưng năm 1979 Trung Quốc đã ngang ngược mang 60 vạn quân tấn công Việt Nam. Trong suốt 10 năm tiếp theo Trung Quốc liên tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam. Vô vàn cay đắng thâm thù từ Trung Quốc, làm sao mà các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, trong thời khắc sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa, lại có thể cả tin rằng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa là phép màu hoàn lương được dòng máu bá quyền Tần Thủy Hoàng - Mao Trạch Đông, để Việt Nam và Trung Quốc lại là “anh em”, cùng chống kẻ thù ý thức hệ?


BỐN HẬU QUẢ THẢM HỌA


I. Lệ thuộc về chính trị

Thỏa thuận Thành Đô gây ra những hậu quả thảm họa to lớn mà chính những người ký Thỏa thuận đã không ngờ tới. Từ Thỏa thuận Thành Đô, Việt Nam mỗi ngày càng lệ thuộc chính trị hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc tiến hành một chính sách bắt Việt Nam dần phụ thuộc chính trị rất thâm hiểm, tập trung trên mấy phương diện sau.


1. Gây ảnh hưởng về nhân sự lãnh đạo

Gây ảnh hưởng lên nhân sự lãnh đạo là nhân tố nguy hiểm số một trong chiến lược bắt Việt Nam lệ thuộc của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ tìm mọi cách loại bỏ, vô hiệu hóa hay giảm ảnh hưởng của tất cả những ai không theo hoặc không ủng hộ Trung Quốc. Sự can thiệp vào công việc nhân sự lãnh đạo Việt Nam của Trung Quốc rất trực diện, thô bạo. Việc yêu cầu loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị trong Hội nghị Thành Đô là một ví dụ kinh điển. Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không dám đưa ông Phạm Bình Minh (con trai của cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch) vào chức vụ Ngoại trưởng vì Trung Quốc không chấp nhận. Gần đây Lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị cuộc viếng thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường phủ bóng tối.


2. Gây ảnh hưởng về chính sách song phương và đối ngoại

Có được ảnh hưởng nhân sự, tổng hợp với các thế mạnh về kinh tế quốc phòng địa lý, và các mánh khóe thâm độc gian xảo, Trung Quốc gây áp lực lên các cuộc đàm phán song phương và chi phối lên quan hệ bang giao quốc tế của Việt Nam.

Việt Nam đã phải nhượng bộ cho Trung Quốc trong Hiệp định biên giới đất liền năm 1999, cũng như trong thỏa thuận phân chia đường biên giới trên biển năm 2000. Việt Nam không dám công khai ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế mặc dù Việt Nam được lợi từ vụ kiện này. Việt Nam không thân mật đến mức liên minh với các nước lớn bởi e dè Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố không liên minh với ai để chống nước thứ ba thực chất là để thanh minh với Trung Quốc.


3. Gây ảnh hưởng về kinh tế

Dùng ảnh hưởng về chính trị, dùng sức mạnh kinh tế, Trung Quốc quyết tâm giành thắng lợi trong đấu thầu các dự án kinh tế chủ chốt của Việt Nam và biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc.

Khi đã có được ảnh hưởng kinh tế, tiến đến lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam và gây áp lực lại về chính trị, bắt lệ thuộc về chính trị. Vòng xoay đó luân hồi kiềm tỏa Việt Nam, bắt Việt Nam không thể rời quỹ đạo xoay quanh Trung Quốc.

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Việt Nam không đơn độc nếu đổi mới



Việt Nam không đơn độc nếu đổi mới




image
Các diễn giả và cử tọa tại cuộc thảo luận ở Lyon đặt vấn đề nguyên nhân cuộc khủng hoảng.


Trong buổi thảo luận về chủ đề các vấn đề khủng hoảng Trung – Việt tại thành phố Lyon, Pháp, có ý kiến cho rằng, Mỹ và Pháp sẽ phần nào hỗ trợ Việt Nam trong xung đột với Trung Quốc do di sản lịch sử, và phương Tây sẽ giúp đỡ nếu thấy có cải biến nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam.


Buổi thảo luận tại khoa Nghiên cứu Đông Á (IAO) của Đại học Sư phạm Lyon gồm bốn khách mời chính, bao quát các chủ đề như gốc rễ của địa chính trị trong cuộc khủng hoảng tranh chấp lãnh hải, cách nhìn của giới bất đồng chính kiến, trải nghiệm và quan sát của người Pháp mang quốc tịch Việt Andre Manras (Hồ Cương Quyết) và phân tích về tình hình xã hội Việt Nam.


Trao đổi bên lề hội thảo hôm 24/05 với BBC tiếng Việt, ông Laurent Gédéon cho biết trong cuộc khủng hoảng giữa Trung Quốc và Việt Nam hiện nay, viện dẫn chứng cứ lịch sử là chỉ nên dành cho người dân.


Việt Nam nên dùng tới các chứng cứ về địa chính trị, tuy nhiên vị trí và vùng biển quanh Hoàng Sa và Trường Sa vốn vẫn rất phức tạp không chỉ với Việt Nam và Trung Quốc mà còn với các quốc gia khác.

Một phần của vấn đề phức tạp này cũng được thể hiện trong cách đặt tên của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, Việt Nam gọi là Biển Đông, Trung Quốc đặt là Biển Nam Trung Hoa, còn Philippines gọi là Biển Tây của Philippines, theo một học giả khách mời của IAO, chuyên về địa chính trị và chủ đề Hoa-Việt trong buổi thảo luận.


Về vấn đề điều gì có thể xảy tiếp theo, sau khi Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển tranh chấp, một số ý kiến cho rằng, Bắc Kinh sẽ giữ giàn khoan và chờ cho tới khi Hà Nội sơ suất hoặc ‘không thể chịu được nữa’.


Trả lời phỏng vấn riêng với BBC, hôm Chủ Nhật, nhà nghiên cứu Gédéon nói:


"Chính xác, cho tới thời điểm này, Trung Quốc đã thắng đối với vụ giàn khoan HD-981."


Bởi vì theo ông, Trung Quốc sau một thời gian hoàn toàn có thể rút lại giàn khoan di động này, nhưng vẫn tuyên bố vùng biển đó là của họ.


‘Cần thiết lập đồng minh’


Ông Gédéon cho rằng, tới thời điểm này, Việt nam đã ở vào vị trí bắt buộc để đối phó lại những gì đang diễn ra.


Tuy nhiên, Việt Nam thực ra không có nhiều phương tiện để chống lại Trung Quốc trên biển khi chỉ có thể đặt mình vào thế phòng bị mà không thể dùng vũ lực, “do đang ở trong một cuộc đua không cân xứng”.

Việc xác lập đồng minh Hà Nội – Washington có thể là điều cần thiết và nên đưa cả các quốc gia cũng liên quan tới vấn đề tranh chấp với Trung Quốc, nhà nghiên cứu người Pháp gợi ý.