Hiển thị các bài đăng có nhãn VNCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VNCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Hà Văn Ngạc - Tường Thuật Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa



Hà Văn Ngạc - Tường Thuật Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa


Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc


Lời Mở Đầu : - Ðại Tá Hà Văn Ngạc , Hải Ðội Trưởng Hải Ðội III Tuần Dương HQVNCH , người chỉ huy trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 , đã đột ngột từ trần tại Dallas , Texas vào ngày 12/02/1999 , hưởng thọ 64 tuổi . Trong suốt 10 năm trước đó , chúng tôi ( Chủ Biên Nguyệt San Đoàn Kết ) liên lạc rất thường xuyên với Ðại Tá Ngạc để yêu cầu ông viết về trận hải chiến Hoàng Sa , nhưng vì nhiều lý do , ông vẫn do dự . Mãi tới cuối năm 1998 , vào dịp Lễ Giáng Sinh , ông mới gửi tới Toà Soạn Nguyệt San Ðoàn Kết bài « Tường Thuật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa » do chính ông viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm trận đánh lịch sử này . Ngoài ra , ông cũng đã cho phép chúng tôi phỏng vấn và cung cấp nhiều hình ảnh hiếm có cùng những chi tiết qúi báu về vị trí của các chiến hạm tham chiến để Toà Soạn có thể sửa lại các phóng đồ về trận hải chiến cho thêm chính xác .

Ðúng 25 năm trước , vào mùa Xuân Giáp Dần năm 1974 , Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã anh dũng chỉ huy các chiến hạm Hải Quân VNCH chận đánh quân xâm lăng Trung Cộng tại Hoàng Sa . Giờ đây , hương linh chiến hữu Hà Văn Ngạc vừa trở lại với Hoàng Sa để tiếp tục bảo vệ chủ quyền chính đáng của Tổ Quốc Việt Nam tại Biển Ðông .


Trần Ðỗ Cẩm  , Chủ Nhiệm Nguyệt San Ðoàn Kết , Austin Texas



***


Ðôi lời trước khi viết


Ðã 25 năm kể từ ngày tôi tham dự trận hải chiến Hoàng Sa, tôi chưa từng trình bầy hay viết mô tả lại về trận đánh này , ngay cả có nhiều lần tôi đã thất hứa với các bậc tiên sinh yêu cầu tôi thuật lại chi tiết của cuộc đụng độ . Dù thắng hay bại, chỉ có một điều duy nhứt không thể chối cãi được là các chiến hữu các cấp của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà trong trận hải chiến đã anh dũng chiến đấu bằng phương tiện và kinh nghiệm có trong tay để chống lại một kẻ xâm lăng truyền kiếp của dân tộc hầu bảo vệ lãnh thổ của Tổ Quốc. Trước một thù địch có sức mạnh gấp bội, dù cuộc chiến có hạn chế hay kéo dài hoặc mở rộng, phần cuối là chúng ta vẫn phải tạm lùi bước trước các cuộc cường tập của đối phương để tìm kiếm một cơ hội thuận tiện khác hầu khôi phục lại phần đất đã bị cưỡng chiếm.


Hôm nay nhân ngày Tết Kỷ Mão, tôi viết những giòng này để tưởng niệm anh linh các liệt sĩ đã hy sinh khi cùng tôi chiến đấu chống kẻ xâm lăng trên các mảnh đất xa vời của Quốc Tổ, một số đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển Hoàng Sa như để thêm một chứng tích lịch sử của chủ quyền quốc gia, một số khác đã bỏ mình trên biển cả khi tìm đường thoát khỏi sự tàn bạo của người phương Bắc.


Có nhiều chiến hữu Hải Quân đã từng hăng say viết lại một trang sử oai hùng của Hải Quân và toàn Quân Lực Việt Nam của nền Ðệ Nhị Cộng Hoà, nhưng đã thiếu sót nhiều chi tiết chính xác mà vào những năm trước 1975 chưa được phép phổ biến, và cũng vì phải lưu lạc khắp thế giới tự do nên các chiến hữu đó đã không thể liên lạc để tham khảo cùng tôi.


Nhiều chi tiết về giờ giấc và về vị trí bạn và địch, cũng như tên họ của các cấp có liên hệ tới biến cố, vì không có tài liệu truy lục, nên chỉ có thể viết vào khoảng gần đúng nhất. Tôi chỉ tường thuật trung thực những chi tiết theo khía cạnh của một người chỉ huy chiến thuật được biết và cũng mong mỏi các chiến hữu nào còn có thể nhớ chắc chắn các chi tiết quan trọng khác, tôi sẽ sẵn sàng tiếp nhận qua toà soạn này, để sửa lại tài liệu này cho đúng.


Đại Tá Hà Văn Ngạc


***


Hải Quân Trung tá Ngụy Văn Thà




«Tân Xuân Giáp Dần Hoàng Sa chiến
Nam Ngư Hải Ngoại huyết lưu hồng»




Hai câu thơ với lối hành văn vận theo sấm Trạng Trình đã được truyền khẩu rất nhanh khi Hải đội Ðặc nhiệm Hoàng Sa trở về tới Ðà Nẵng vào sáng sớm ngày 20/04/1974. Và câu thơ này do chính Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Viết Tân ( thủ khoa Khoá 5 của tôi ) lúc đó đang giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải , đọc cho tôi nghe. Từ ngày đó tới nay đã đúng 25 năm, và do sự khuyến khích của các bậc thượng trưởng của Hải Quân Việt Nam , những chi tiết về diễn tiến chưa tùng tiết lộ của trận hải chiến cần được ghi lại để làm chứng liệu lịch sử.


Sau trận hải chiến , những ưu và khuyết điểm về chiến thuật và chiến lược của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đến nay nếu nêu ra thì sẽ không còn một giá trị thực tiễn nào để có thể làm những bài học cho những biến cố kế tiếp . Vì vậy một vài điều nếu có nêu ra tại đây thì chỉ để ghi lại tình trạng và khả năng khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà khi đã phải đương đầu với Trung Cộng, là một quốc gia vào thời điểm đó, đã sẵn có một lực lượng hùng hậu về hải lục không quân gấp bội của Việt Nam Cộng Hoà.
Một điểm hãnh diện cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà lúc bấy giờ là đã không những phải sát cánh với lực lượng bạn chống lại kẻ nội thù là Cộng Sản miền bắc trong nội địa, lại vừa phải bảo vệ những hải đảo xa xôi , mà lại còn phải chiến đấu chống kẻ xâm lăng, đã từng biết bao lần dầy xéo đất nước trong suốt lịch sử lập quốc và dành quyền độc lập của xứ sở.


So sánh với các cuộc hành quân ngoại biên vào các năm 1970-1971 của Quân Lực VNCH sang đất Kampuchia va Hạ Lào, thì quân lực ta chỉ chiến đẵu ngang ngửa vơi Cộng Sản Việt Nam ẩn náu trên đất nước láng giềng mà thôi. Phải thành khẩn mà nhận rằng Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà ngoài nội thù còn phải chống ngoại xâm mà đã rất khó tiên liệu để chuẩn bị một cuộc chiến chống lại một lực lượng Hải Quân Trung Cộng tương đối dồi đào hơn cả chúng ta về phẩm cũng như lượng. Hải Quân Việt Nam ta đã có những gánh nặng về hành quân để yểm trợ lực lượng bạn và hành quân ngăn chận các vụ chuyển quân lén lút của Việt Cộng qua biên giới Miên Việt trong vùng sông ngòi cũng như các vụ tiếp tế quân dụng của chúng vào vùng duyên hải.


Trước khi đi vào chi tiết của trận hải chiến lịch sử này, chúng ta thử nhắc sơ lược lại cấu trúc nhân sự của thượng tầng chỉ huy và của các đơn vị tham chiến của Hải Quân vào lúc biến cố:


- Tư Lệnh Hải Quân: Ðề Ðốc Trần Văn Chơn
- Tư Lệnh Phó Hải Quân: Phó Ðề Ðốc Lâm Ngươn Tánh
- Tham mưu Trưởng Hải Quân: Phó Ðề Ðốc Diệp Quang Thuỷ
- Tư Lệnh Hạm Đội: HQ Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn
- Tư Lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải: Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại
- Chỉ Huy Trưởng Hải đội tuần dương: HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc, (Hải đội 3) và là sĩ quan chỉ huy chiến thuật trận hải chiến.
- Hạm Trưởng Khu Trục Hạm HQ4: HQ Trung Tá Vũ Hữu San
- Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ5: HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh
- Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ16: HQ Trung Tá Lê Văn Thự
- Trưởng Toán Hải Kích đổ bộ: HQ Ðại Uý Nguyễn Minh Cảnh .
- Hạm Trưởng Hộ tống hạm HQ10: HQ Thiếu Tá Nguỵ Văn Thà tử chiến trong trận 01/1974 (truy thăng HQ Trung Tá)



Lý do tôi đã có mặt tại Hoàng Sa



Rất nhiều chiến hữu trong Hải Quân đã không rõ nguyên cớ nào mà tôi đã có mặt để đích thân chỉ huy tại chỗ trận hải chiến Hoàng Sa. Sự có mặt của tôi bắt nguồn từ khi tôi được Hội đồng Ðô Đốc chỉ định tôi tăng phái cho Vùng I Duyên Hải khoảng từ cuối năm 1972 đầu 1973. Lý do tăng phái của tôi đến Vùng I Duyên Hải tôi không được biết trước cho đến khi tôi tới Quân Khu 1 , tôi mới được biết nhiệm vụ chính của tôi là chuẩn bị một trận thư hùng giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Bắc Việt mà lúc đó, tin tình báo xác nhận là Cộng Sản đã được viện trợ các Cao Tốc Đĩnh loại Komar của Nga sô trang bị hoả tiễn hải hải (surface to surface). Vào thời gian đó Hải Quân VNCH chỉ có khả năng chống đỡ thụ động loại vũ khí này. Cuộc hải chiến tiên liệu có thể xẩy ra khi lực lượng Hải Quân Cộng Sản tràn xuống để hỗ trợ cho quân bộ của chúng khi chúng muốn tái diễn cuộc cường tập xuất phát từ phía Bắc sông Bến Hải như vào ngày cuối tháng 03/1972 để khởi phát các cuộc tấn công suốt mùa Hè Đỏ Lửa 1972.


Tôi lưu lại Vùng I Duyên Hải chừng hai tuần lễ hầu nghiên cứu để thiết kế. Kế hoạch chính của cuộc hải chiến này là xử dụng nhiều chiến hạm và chiến đỉnh (WPB và PCF) để giảm bớt sự thiệt hại bằng cách trải nhiều mục tiêu trên mặt biển cùng một lúc. Song song với việc này là các chiến hạm và chiến đỉnh phải xử dụng đạn chiếu sáng và hoả pháo cầm tay như là một cách chống hoả tiễn thụ động. Ngoài ra Hải Quân cũng cần đặt ra sự yểm trợ của pháo binh của Quân Đoàn I để tác xạ ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng Hải Quân Cộng Sản tại phía Bắc Cửa Việt trước khi họ tràn xuống phía Nam để đủ tầm phóng hoả tiễn.


Sau khi đã thuyết trình tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải cùng các Chỉ Huy Trưởng các đơn vị duyên phòng và duyên đoàn, Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải chấp thuận kế hoạch và đưa kế hoạch lên thuyết trình tai Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I. Buổi thuyết trình tại BTL/Quân Đoàn I do đích thân Trung Tướng Ngô quang Trưởng chủ toạ, ngoài Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải còn có Ðại Tá Hà Mai ViệtTrưởng Phòng 3 Quân Đoàn, Ðại Tá Khiêu hữu Diêu, Ðại Tá Nguyễn Văn Chung Chỉ Huy Trưởng pháo binh Quân Đoàn và một số rất ít các sĩ quan phụ tá. Nhu cầu yểm trợ pháo binh cho cuộc hải chiến được chấp thuận ngay và Chỉ Huy Trưởng pháo binh Quân Đoàn hứa sẽ phối trí pháo binh, đặc biệt là pháo binh 175 ly để thoả mãn kế hoạch của Hải Quân, khi được yêu cầu.


Kể từ khi được chỉ định tăng phái, tôi thường có mặt tại Vùng I Duyên Hải mỗi tháng chừng hai tuần tuỳ theo công việc của tôi tại Hải đội, nhưng chưa lần nào Bộ Tư Lệnh HQ, Bộ Tư Lệnh Hạm Đội hoặc Vùng I Duyên Hải chỉ thị tôi phải có mặt trong vùng. Khi có mặt tại vùng tôi thường tìm hiểu tình hình tổng quát tại Quân Khu I cũng như đi hoặc tháp tùng Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải thăm viếng các đơn vị lục quân bạn cấp sư đoàn, lữ đoàn hay trung đoàn.


Trở lại trận hải chiến Hoàng Sa, vào khoảng ngày 11/01/1974, chỉ khoảng vài ngày sau khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Kissinger rời Trung Cộng, thì đột nhiên Ngoại Trưởng Trung Cộng lại một lần nữa tuyên bố về chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng và Trường Sa. Tôi rất lưu ý tin này vì tôi đã chỉ huy công cuộc đặt quân trú phòng đầu tiên trên đảo Nam Yết vùng Trường Sa vào cuối mùa hè 1973. Vài ngày sau, vì Ngoại Trưởng VNCH Vương Văn Bắc còn bận công cán ngoại quốc, thì phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao VNCH bác bỏ luận cứ của Trung Cộng và tái xác nhận một lần nữa chủ quyền của VNCH trên các quần đảo đó.


Ngày 16/01/1974, tôi từ Sài Gòn đi Vũng Tầu để chủ toạ lễ trao quyền chỉ huy Tuần Dương Hạm HQ5 Trần bình Trọng đang neo tại chỗ, cho tân Hạm Trưởng là Hải Quân Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh (tôi không còn nhớ tên cựu Hạm Trưởng). Khi trở về Sài Gòn, lúc theo dõi bản tin tức hàng ngày của đài truyền hình thì thấy Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc hùng hồn và nghiêm trọng khi tuyên bố chủ quyền của VNCH trên 2 quần đảo Hoàng và Trường Sa. Tôi thấy có chuyện bất ổn có thể xẩy ra tại Vùng I Duyên Hải nhất là Việt Cộng có lẽ được Trung Cộng hỗ trợ tạo ra tình thế rắc rối ngoài hải đảo để thu hút lực lượng của Hải Quân Việt Nam, và đương nhiên Cộng Sản sẽ lợi dụng để tràn xuống dưới vĩ tuyến 17 như đã dự liệu.


Nên sáng sớm ngày 17, không kịp thông báo đến Tư Lệnh Hạm Đội; tôi lên phi trưởng Tân Sơn Nhứt và đến thẳng ngay Trạm hàng không quân sự. Tôi gặp ngay một vị Thượng Sĩ Không Quân trưởng trạm và nói là tôi cần đi gấp ra Ðà Nẵng. Vị Thượng Sĩ trình với tôi là danh sách hành khách đã đầy đủ cho chuyến bay và giới thiệu tôi gặp vị Trung Uý Phi Công Trưởng phi cơ C130 . Sau khi trình bầy lý do khẩn cấp đi Ðà Nẵng của tôi, vị Phi Công Trưởng trang trọng mời tôi lên phi cơ ngồi vào ghế phụ trong phòng phi công.


Ðến Ðà Nẵng khoảng 09 G sáng, tôi mới kêu điện thoại cho HQ Ðại Tá Nguyễn Hữu Xuân, Tư Lệnh Phó Vùng cho xe đón tôi tại phi trường. Ðến BTL/HQ Vùng I Duyên Hải tôi mới được biết chi tiết những gì đang xẩy ra tại Hoàng Sa, và được biết thêm là chiếc Tuần Dương Hạm HQ5, mà tôi vừa chủ toạ trao quyền chỉ huy ngày hôm qua tại Vũng Tàu sẽ có mặt tại quân cảng vào buổi chiều tối cùng với biệt đội hải kích.


Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải cũng cho tôi hay và giơ một tờ giấy nhỏ nói là ông có thủ bút của Tổng Thống vừa tới thăm bản doanh trước đây, nhưng tôi không hỏi về chi tiết cũng như xin xem thủ bút vì tôi nghĩ đó là chỉ thị riêng tư giữa Tổng Thống và một vị Tướng Lãnh. Vị Tư Lệnh này còn cho tôi hai chọn lựa: một là chỉ huy các chiến hạm ngay tại Bộ Tư Lệnh Vùng, hai là đích thân trên chiến hạm. Tôi đáp trình ngay là: Tôi sẽ đi theo các đơn vị của tôi. Từ ngày được thuyên chuyển về Hạm Đội, không như các vị tiền nhiệm, tôi thường xa Bộ chỉ huy để đi theo các chiến hạm trong công tác tuần dương. Mỗi chuyến công tác, sự hiện diện của tôi đã mang lại cho nhân viên chiến hạm niềm phấn khởi sau nhiều ngày phải xa căn cứ. Tôi thường lưu ý các vị Hạm Trưởng đến việc huấn huyện nội bộ hoặc thao dượt chiến thuật với chiến hạm khác khi được phép.


Ðến khoảng buổi chiều thì Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải còn hỏi tôi có cần thêm gì, tôi trình xin thêm một chiến hạm nữa vì cần hai chiếc khi di chuyển trong trường hợp bị tấn công trên hải trình, chứ không phải vì số lượng chiến hạm Trung Cộng đang có mặt tại Hoàng Sa. Chiếc Hộ tống hạm (PCE) HQ10 Nhựt Tảo được chỉ định xung vào Hải đoàn đặc nhiệm, với lý do chính là chiếc Hộ tống hạm này đang tuần dương ngay khu vực cửa khẩu Ðà Nẵng nên giảm bớt thời gian di chuyển, chiến hạm chỉ có một máy chánh khiển dụng mà thôi. Ngoài ra vị Tư Lệnh HQ vùng còn tăng phái cho tôi HQ Thiếu Tá Toàn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn, Khoá 11 SQHQ/Nha Trang), mà tôi chưa biết khả năng nên trong suốt thời gian tăng phái tôi chỉ trao nhiệm vụ giữ liên lạc với các Bộ Tư Lệnh cho vị sĩ quan này. Tôi dùng cơm chiều gia đình cùng Tư Lệnh HQ Vùng tại tư thất trong khi chờ đợi Tuần Dương Hạm HQ5 tới. Sau bữa ăn, Tư Lệnh HQ Vùng đích thân đi bộ tiễn chân tôi ra cầu quân cảng. Sau trận chiến, vị Ðô Đốc này có thổ lộ cùng tôi là ông đã tưởng đó là bữa cơm cuối cùng của ông với tôi. Như vậy là trận hải chiến đã dự liệu là sẽ có thể xẩy ra, và chắc vị Ðô Đốc đã mật trình về Tư Lệnh Hải Quân thường có mặt tại Bộ Tư Lệnh.
 
Tuần Dương Hạm HQ5 rời bến khoảng 09:00 tối và tôi trao nhiệm vụ đi tới Hoàng Sa cho Hạm Trưởng HQ5 là vị Hạm Trưởng thâm niên hơn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ5 và HQ10 cùng đi Hoàng Sa, Hạm Trưởng HQ5 là Trung Tá Quỳnh thuộc khoá 11 SQHQ Nha Trang, thâm niên hơn Hạm Trưởng HQ10 là Thiếu Tá Thà thuộc khoá 12 SQHQ Nha Trang). Sự hiện diện của tôi trên chiến hạm này đã làm tân Hạm Trưởng, vừa nhậm chức 2 ngày trước, được vững tâm hơn vì chắc tân Hạm Trưởng chưa nắm vững được tình trạng chiến hạm cũng như nhân viên thuộc hạ. Các chiến hạm đều giữ im lặng vô tuyến ngoại trừ các báo cáo định kỳ về vị trí.



Những diễn tiến ngày hôm trước trận hải chiến



Khoảng 08 hay 09 giờ sáng ngày 18, hai chiến hạm HQ5 và HQ10 đã đến gần Hoàng Sa, và trong tầm âm thoại bằng máy VRC46 (hậu thân của máy PRC25 nhưng với công xuất mạnh hơn) để liên lạc bằng bạch văn, vì tầm hữu hiệu của máy chỉ ở trong vùng Hoàng Sa mà thôi, tôi nói chuyện với Hạm Trưởng HQ4 HQ Trung Tá Vũ hữu San, lúc đó đang là sĩ quan thâm niên hiện diện, để được am tường thêm tình hình cũng như thông báo về sự hiện diện của tôi, vừa là Chỉ Huy Trưởng Hải đội vừa là để thay thế quyền chỉ huy mọi hoạt dộng, theo đúng thủ tục ghi trong Hải quy. Sau khi được trình bầy chi tiết các diễn tiến, tôi có lời khen ngợi Hạm Trưởng này và chia sẻ những khó khăn mà vị này đã trải qua trong những ngày trước khi tôi có mặt tại vùng.


Vào khoảng xế trưa, thì cả 4 chiến hạm (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16) đều tập trung trong vùng lòng chảo của quần đảo Hoàng Sa và Hải Đoàn Đặc Nhiệm được thành hình. Nhóm chiến binh thuộc Tuần Dương Hạm HQ16 và Khu Trục Hạm HQ4 đã đổ bộ và trương quốc kỳ VNCH trên các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money) và Duy Mộng (Drummond) từ mấy ngày qua vẫn được giữ nguyên vị trí phòng thủ để giữ đảo. Sau khi quan sát các chiến hạm Trung Cộng lởn vởn phía Bắc đảo Quang Hoà (Duncan), tôi quyết định ngay là Hải Đoàn sẽ phô trương lực lượng bằng một cuộc thao diễn chiến thuật tập đội để tiến về phía đảo Quang Hoà với hy vọng là có thể đổ bộ hải kích như các chiến hạm ta đã làm trước đây. Lúc này trời quang đãng, gió nhẹ và biển êm. Tất cả chiến hạm đều phải vào nhiệm sở tác chiến, nhưng các dàn hải pháo và vũ khí đại liên phải ở trong thế thao diễn. Khởi hành từ nam đảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hoà, 4 chiến hạm vào đội hình hàng dọc, dẫn đầu là Khu Trục Hạm HQ4, theo sau là Tuần Dương Hạm HQ5 làm chuẩn hạm đã có trương hiệu kỳ hải đội, thứ ba là Tuần Dương Hạm HQ16 và sau cùng là Hộ tống hạm HQ10, tốc độ chừng 6 gút, khoảng cách giữa các chiến hạm là hai lần khoảng cách tiêu chuẩn (tức 1000 yard), phương tiện truyền tin là kỳ hiệu và quang hiệu, và âm thoại bằng VRC46 hoặc PRC25 chỉ xử dụng để tránh hiểu lầm ám hiệu vận chuyển chiến thuật mà thôi.


Chừng nửa giờ sau khi Hải Đoàn vận chuyển vào đội hình hướng về phía đảo Quang Hoà thì hai chiến hạm Trung Cộng loại Kronstad mang số hiệu 271 và 274 bắt đầu phản ứng bằng cách vận chuyển chặn trước hướng đi của Hải Đoàn, nhưng Hải Đoàn vẫn giữ nguyên tốc độ, trong khi đó thì hai chiếc chiến hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là hai trục lôi hạm tức là tầu vớt mìn loại T43) cùng 2 chiếc ngư thuyền nguỵ trang 402 và 407 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: ngư thuyền số 402 mang tên Nam Ngư) của họ vẫn nằm nguyên vị trí sát bờ bắc đảo Quang Hoà. Tôi đã không chú tâm đến 2 chiếc chiến hạm nhỏ của địch vì cho rằng, hai chiếc này chỉ là loại phụ mà thôi (sau này, khi sưu tầm tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa, HQ Thiếu Tá Trần Ðỗ Cẩm truy ra theo số hiệu là loại trục lôi hạm và chắc trang bị vũ khí nhẹ hơn) còn hai chiếc tầu tiếp tế nguỵ trang như ngư thuyền thì không đáng kể. Hành động chận đường tiến của chiến hạm ta đã từng được họ xử dụng trong mấy ngày trước đây khi các chiến hạm ta đổ quân lên các đảo Cam tuyền, Vĩnh lạc và Duy mộng để xua quân của Trung Cộng rời đảo. Chiếc Kronstad 271 bắt đầu xin liên lạc bằng quang hiệu để xin liên lạc, Tuần Dương Hạm HQ5 trả lời thuận và nhận công điện bằng Anh ngữ:


- « These islands belong to the People Republic of China (phần này tôi nhớ không chắc chắn) since Ming dynasty STOP Nobody can deny » (Phần này tôi nhớ rất kỹ vì tôi có phụ nhận quang hiệu) .


Tôi cho gởi ngay một công điện khái quát như sau :


- « Please leave our territorial water immediately ».


Công điện của chiến hạm Trung Cộng được lập đi lập lại ít nhất 3 lần sau khi họ nhận được công điện của Hải Đoàn Đặc Nhiệm VNCH, và chiến hạm ta cũng tiếp tục chuyển lại công điện yêu cầu họ rời khỏi lãnh hải của VNCH.


Vì 2 chiến hạm Kronstad Trung Cộng cố tình chặn đường tiến của Hải Đoàn Đặc Nhiệm với tốc độ khá cao, nếu Hải Đoàn tiếp tục tiến thêm thì rất có thể gây ra vụ đụng tầu, tôi đưa Hải Đoàn trở về phía Nam đảo Hoàng Sa và vẫn giữ tình trạng ứng trực cũng như theo dõi các chiến hạm Trung Cộng, họ cũng lại tiếp tục giữ vị trí như cũ tại phía Bắc và Tây Bắc đảo Quang Hoà. Sự xuất hiện thêm 2 chiến hạm của Hải Quân Việt Nam vào trong vùng chắc chắn đã được chiếc Kronstad 271 của Trung Cộng , được coi như chiến hạm chỉ huy, báo cáo về Tổng hành dinh của họ, và việc tăng viện có thể được coi như đã được chuẩn bị.


Với hành động quyết liệt ngăn chặn ta không tiến được đến đảo Quang Hoà, tôi cho rằng họ muốn cố thủ đảo này. Việc đổ bộ quân để xua đuổi họ ra khỏi đảo, lúc đó tôi hy vọng, chỉ có thể phải thực hiện bất thần để tránh hành động ngăn chặn của họ và có lực lượng hải kích với trang phục người nhái, may ra họ có thể phải nhượng bộ, như Tuần Dương Hạm HQ16 và Khu Trục Hạm HQ4 đã thành công trong mấy ngày trước đó. Nếu họ tấn công thay vì nhượng bộ, Hải Đoàn Đặc Nhiệm buộc phải sẵn sàng chống trả.

Vào khoảng 20 giờ tối, tôi yêu cầu Tuần Dương Hạm HQ16 chuyển phái đoàn công binh của Quân Đoàn I sang Tuần Dương Hạm HQ 5 bằng xuồng.  Phái đoàn công binh Quân Đoàn I do Thiếu Tá Hồng hướng dẫn đã vào gặp tôi tại phòng ăn Sĩ quan có theo sau Ông Kosh thuộc cơ quan DAO Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng. Tôi cho cả hai hay là tình hình sẽ khó tránh khỏi một cuộc đụng độ nên tôi không muốn các nhân viên không Hải Quân có mặt trên chiến hạm và tôi sẽ đưa họ lên đảo. Tôi cũng yêu cầu Tuần Dương Hạm HQ5 cấp cho tất cả một ít lưong khô. Riêng ông Kosh thì tôi yêu cầu Hạm Trưởng HQ5 đưa cho ông 1 bịch thuốc lá 10 bao Capstan. Tôi tiễn chân tất cả phái đoàn xuống xuồng và vẫy tay chào họ khi xuồng bắt đầu hướng về đảo Hoàng Sa. Kể từ giờ phút đó tới nay tôi không có dịp nào gặp lại ông Kosh để thăm hỏi ông và yêu cầu ông cho trả lại Tuần Dương Hạm HQ5 bịch thuốc lá Capstan vì thuốc lá này thuộc quân tiếp vụ của chiến hạm xuất ra ứng trước. Riêng Thiếu Tá Hồng thì tôi đã có dịp thăm hỏi ông tại Los Angeles vào năm 1996, cũng theo lời ông thì ông đã viết xong vào trước năm 1975, một cuốn ký sự về thời gian bị bắt làm tù binh trong lục dịa Trung Hoa nhưng không được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị cho xuất bản vì chưa phải lúc thuận tiện.


Vào khoảng 22 giờ tối, tôi trực tiếp nói chuyện bằng vô tuyến với tất cả Hạm Trưởng để cho hay là tình hình sẽ khó tránh được một cuộc đụng độ, và yêu cầu các vị này chuẩn bị các chiến hạm và huy động tinh thần nhân viên để sẵn sàng chiến đấu. Tôi biết rõ cuộc chiến nếu xẩy ra thì tất cả nhân viên đều không đủ kinh nghiệm cho các cuộc hải chiến, vì từ lâu các chiến hạm chỉ chú tâm và đã thuần thuộc trong công tác tuần dương ngăn chặn hoặc yểm trợ hải pháo mà thôi, nếu có những nhân viên đã phục vụ trong các giang đoàn tại các vùng sông ngòi thì họ chỉ có những kinh nghiệm về chiến đấu chống các mục tiêu trên bờ và với vũ khí tương đối nhẹ hơn và dễ dàng trấn áp đối phương bằng hoả lực hùng hậu.


Vào khoảng 23 giờ tối ngày 18, một lệnh hành quân, tôi không còn nhớ được xuất xứ, có thể là của Vùng I Duyên Hải, được chuyển mã hoá trên băng tần SSB (single side band) (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là công điện Mật/Khẩn chiến dịch mang số 50 356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74 do BTL/HQ/V1ZH gửi với tiêu đề: Lệnh Hành Quân Hoàng Sa 1) . Lệnh hành quân vừa được nhận vừa mã dịch ngay nên không bị chậm trễ, và lệnh này ghi rõ quan niệm hành quân như sau: tái chiếm một cách hoà bình đảo Quang Hoà. Lệnh hành quân cũng không ghi tình hình địch và lực lượng trừ bị như những kinh nghiệm từ trước tới nay nhất là trong hai năm tôi đảm nhận trách vụ Tham mưu phó hành quân tại BTL/HQ, tôi dự đoán Trung Cộng, vì đã thiết lập một căn cứ tiền phưong tại đảo Phú lâm thuộc nhóm Tuyên đức nằm về phía đông bắc đảo Hoàng Sa sát vĩ tuyến 17, nên họ đã có thể đã phối trí tại đây lực lượng trừ bị, và hơn nữa trên đảo Hải Nam còn có một căn cứ Hải Quân rất lớn và một không lực hùng hậu với các phi cơ MIG 19 và 21 với khoảng cách gần hơn là từ Ðà Nẵng ra. Việc Trung Cộng lấn chiếm những đảo không có quân trú phòng của ta trong vùng Hoàng Sa, đã phải được họ chuẩn bị và thiết kế chu đáo từ lâu trước khi tái tuyên bố chủ quyền. Trong khi đó việc Hải Quân VNCH phát hiện sự hiện diện của họ chỉ có từ khi Tuần Dương Hạm HQ16 được lệnh đến thăm viếng định kỳ và chở theo phái đoàn công binh Quân Đoàn I ra thám sát đảo để dự kiến việc thiết lập một phi đạo ngắn.


Ngay sau khi hoàn tất nhận lệnh hành quân, tôi chia Hải Đoàn thành hai phân đoàn đặc nhiệm: Phân đoàn I là nỗ lực chính gồm Khu Trục Hạm HQ4 và Tuần Dương Hạm HQ5 do Hạm Trưởng Khu Trục Hạm HQ4 chỉ huy; Phân đoàn II là nỗ lực phụ gồm Tuần Dương Hạm HQ16 và Hộ tống hạm HQ10 do Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ16 chỉ huy. Nhiệm vụ là phân đoàn II giữ nguyên vị trí trong lòng chảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hoà vào buổi sáng. Phân đoàn I khởi hành vào 12:00 đêm đi bọc về phía tây rồi xuống phía Nam sẽ có mặt tại nam đảo Quang Hoà vào 06:00 sáng ngày hôm sau tức là ngày 19 để đổ bộ biệt đội hải kích. Phân đoàn I phải đi bọc ra phía tây quần đảo thay vì đi thẩng từ đảo Hoàng Sa xuống đảo Quang Hoà là để tránh việc các chiến hạm Trung Cộng có thể lại vận chuyển ngăn chặn đường tiến của chiến hạm như họ đã làm vào buổi chiều, vả lại việc hải hành tập đội về đêm trong vùng có bãi cạn và đá ngầm có thể gây trở ngại cho các chiến hạm, nhất là Khu Trục Hạm còn có bồn SONAR (máy dò tiềm thuỷ đĩnh), hy vọng hải trình như vậy sẽ tạo được yếu tố bất ngờ. Hơn nữa về mùa gió đông bắc, việc đổ bộ vào phía tây nam sẽ tránh được sóng biển cho xuồng bè. Nên ghi nhận tại điểm này là kể từ năm 1973, toán cố vấn HQ Hoa Kỳ tại Hạm Đội mà trưởng toán là HQ Ðại Tá Hamn  tên họ) đã nhiều lần yêu cầu tháo gỡ máy Sonar trên các Khu Trục Hạm. Phó Ðề Ðốc Nguyễn thành Châu (lúc đó còn mang cấp HQ Ðại Tá) Tư Lệnh Hạm Đội đã trao nhiệm vụ cho tôi thuyết phục họ giữ máy lại để dùng vào việc huấn luyện. Mãi đến khi HQ Ðại Tá Nguyễn xuân Sơn nhận chức Tư Lệnh Hạm Đội một thời gian, tôi vẫn tiếp tục liên lạc với toán cố vấn, và sau cùng họ mới bằng lòng giữ máy lại với tính cách để huấn luyện. Thực ra một Khu Trục Hạm mà thiếu máy thám xuất tiềm thuỷ đĩnh thì khả năng tuần thám và tấn công sẽ giảm đi nhiều.



Diễn tiến trận hải chiến ngày 19/01/1974




Sơ đồ điều quân của trận hải chiến Hoàng Sa quanh hai đảo Duy Mộng và Quang Hoà Đông ( chữ Hán là ghi chú của phía Trung Cộng , vị trí chiến hạm TC khá phù hợp với thực tế ) .Sơ đồ này dựa theo các vị trí trong Phúc trình Hành Quân Hoàng Sa của Soái hạm HQ 5 có chữ ký và đóng dấu của HQ Trung Tá Pham Trọng Quỳnh .


Ðúng 06 sáng ngày 19, trời vừa mờ sáng, Phân đoàn I đã có mặt tại Tây Nam đảo Quang Hoà, thuỷ triều lớn, tầm quan sát trong vòng 1,50 đến non 2,00 hải lý, trời có ít mây thấp nhưng không mưa, gió Đông Bắc thổi nhẹ, biển tương đối êm tuy có sóng ngầm. Phân đoàn I tiến sát đảo khoảng hơn 1 hải lý, Tuần Dương Hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận tiện đổ bộ hải kích. Hai chiếc Kronstad 271 và 274 bị bất ngờ rõ rệt nên thấy họ đã vận chuyển lúng túng và không thực hiện được hành động ngăn cản như họ đã từng làm vào chiền hôm trước. Tôi cũng bị bất ngờ là hai chiếc chủ lực địch lại có mặt cùng một nơi để sẵn sàng đối đầu mà tôi không phải tìm kiếm họ, như tôi đã coi họ như là mục tiêu chính. Họ đã phải luồn ra khỏi khu lòng chảo vào ban đêm, nhưng không hiểu là họ có theo dõi được đuờng tiến quân của Phân đoàn I hay không. Vào giờ này thì họ đã phải biết rõ là Tuần Dương Hạm HQ5 là chiến hạm chỉ huy của ta và cũng đã phải biết được hoả lực của chiếc Khu Trục Hạm.
Biệt đội hải kích do HQ Ðại Uý Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy đã được tôi chỉ thị là không được nổ súng và lên bờ yên cầu toán quân của họ rời đảo. Trong biệt đội này có một chiến sĩ hải kích Ðỗ Văn Long và luôn cả HQ Ðại Uý Nguyễn Minh Cảnh là những chiến sĩ đã tham dự cuộc hành quân đầu tiên Trần hưng Ðạo 22 (nếu tôi không lầm) cũng do tôi chỉ huy để xây cất doanh trại và đặt quân trú phòng đầu tiên trên đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa vào cuối mùa Hè năm 1973.


Một lần nữa, khi biệt đội hải kích xuồng xuồng cao su, tôi đích thân ra cầu thang căn dặn và nhấn mạnh về việc đổ bộ mà không được nổ súng, và khi bắt liên lạc được với họ thì yêu cầu họ rời khỏi đảo.


Tôi không chắc là cuộc đổ bộ sẽ thành công vì quân Trung Cộng trên đảo đã phải tổ chức bố phòng cẩn mật tiếp theo sự thất bại của họ trên các đảo khác đã nói ở trên, trong khi đó biệt đội hải kích lại không có được hoả lực chuẩn bị bãi đổ bộ. Một lần nữa tôi lại chỉ thị cho các Hạm Trưởng chuẩn bị để chiến đấu. Nếu cuộc đổ bộ thất bại thì với hoả lực của 2 khẩu 76 ly tự động trên Khu Trục Hạm HQ4, một chiến hạm chủ lực của Hải Đoàn đặc nhiệm, sẽ có đủ khả năng loại ít nhất là hai chiến hạm chủ lực Trung Cộng ra khỏi vòng chiến không mấy khó khăn, còn quân bộ của Trung Cộng trên đảo thì tôi tin chỉ là một mục tiêu thanh toán sau cùng. Tôi còn có ý định là sẽ điều động chiếc Khu Trục Hạm vượt vùng hơi cạn trực chỉ hướng bắc vào thẳng vùng lòng chảo để tăng cường cho Phân Đoàn II nếu cần sau khi đã loại xong 2 chiếc Kronstad mà tôi luôn luôn cho là mục tiên chính. Tôi rất vững lòng vào hoả lực của chiến hạm chủ lực vì tôi đã được tường trình đầy đủ về khả năng của hải pháo 76 ly tự động khi Khu Trục Hạm này yểm trợ hải pháo tại vùng Sa huỳnh trong nhiệm kỳ Hạm Trưởng của HQ Trung Tá Nguyễn Quang Tộ.


Biệt đội hải kích tiến vào đảo bằng 2 xuồng cao su, từ chiến hạm ta, việc quan sát sự bố phòng của Trung Cộng trên đảo không được rõ ràng. Các chiến hạm Trung Cộng cũng không có phản ứng gì đối với xuồng của hải kích. Theo báo cáo của Biệt đội trưởng hải kích thì chiến sĩ hải kích Ðỗ Văn Long là người đầu tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đã bị hoả lực trong bờ bắn tử thương ngay tại bãi biển. HQ Trung Uý Lê văn Ðơn (xuất thân từ bộ binh) tiến vào để thâu hồi tử thi của liệt sĩ Long cũng lại bị tử thương ngay gần xuồng nên tử thi vị sĩ quan này được thâu hồi ngay. Việc thất bại đổ bộ được báo cáo ngay về Bộ Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải và chừng ít phút sau đó (vào khoảng 0930 sáng) thì đích thân Tư Lệnh HQ VNCH hay Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải ra lệnh vắn tắt có hai chữ: «khai hoả» bằng bạch văn cho Hải Đoàn Đặc Nhiệm và không có chi tiết gì khác hơn. Tôi nhận biết được khẩu lệnh trên băng siêu tần số SSB (single side band) không phải là của nhân viên vô tuyến mà phải là của cấp Ðô Đốc, nhưng từ đó đến nay tôi vẫn tin rằng là của Tư Lệnh Hải Quân mà tôi đã quen thuộc giọng nói, nên tôi đã không kiểm chứng thêm về sau. Tôi trở nên yên tâm hơn vì khẩu lệnh khai hoả đã giải toả trách nhiệm của tôi ghi trong phần quan niệm của lệnh hành quân là tái chiếm một cách hoà bình. Tôi đích thân vào máy siêu tần số trình ngay là chưa có thể khai hoả được vì phải chờ triệt thối Biệt đội hải kích về chiến hạm, họ còn trên mặt biển và ở vào vị thế rất nguy hiểm. Riêng tử thi của liệt sĩ hải kích Ðỗ Văn Long tôi lệnh không cho vào lấy vì có thể gây thêm thương vong. Tôi tin rằng tử thi của Liệt Sĩ Long sẽ không khó khăn để thâu hồi khi toán quân bộ Trung Cộng được tiêu diệt sau đợt các chiến hạm của họ bị loại hoàn toàn khỏi vòng chiến.


Vào khoảng gần 10 giờ sáng, biệt đội hải kích được hoàn tất thu hồi về Tuần Dương Hạm HQ5 với HQ Trung Uý Lê Văn Ðơn tử thương  Trong khi đó thì tôi chỉ thị cho các chiến hạm chuẩn bị tấn công, mỗi chiến hạm tấn công một chiến hạm địch, và bám sát địch trong tầm hải pháo 40 ly (khoảng 3 cây số), vì loại hải pháo này có nhịp tác xạ cao, dễ điều chỉnh và xoay hướng nhanh hơn. Tôi không tin tưởng nhiều vào hải pháo 127 ly và khả năng điều khiển chính xác của nhân viên vì hải pháo chỉ có thể tác xạ từng phát một, nạp đạn nặng nề và chậm xoay hướng nên tốt hơn là trực xạ.


Tất cả các chiến hạm phải cùng khai hoả một lúc theo lệnh khai hoả của tôi để tạo sự bất ngờ và sẽ gây thiệt hại trước cho các chiến hạm Trung Cộng. Vì tầm quan sát còn rất hạn chế, nên từ Tuần Dương Hạm HQ5 không quan sát được Tuần Dương Hạm HQ16 và Hộ tống hạm HQ10 cũng như hai chiến hạm khác và hai ngư thuyền nguỵ trang của Trung Cộng nên tôi không rõ các chiến hạm này bám sát các chiến hạm Trung Cộng được bao nhiêu, nhưng tôi đã tin rằng Phân Đoàn II không có bận tâm về việc đổ bộ nên có nhiều thì giờ hơn để thi hành kế hoạch tấn công và sẽ dễ dàng chế ngự được hai chiến hạm phụ của địch cùng hai ngư thuyền. Riêng Tuần Dương Hạm HQ5 và Khu Trục Hạm HQ4 đã nghiêm chỉnh thi hành lệnh. Trước khi ban hành lệnh khai hoả tôi lần nữa hỏi các chiến hạm đã sẵn sàng chưa và nhấn mạnh một lần nữa là phải khai hoả đồng loạt để đạt yếu tố bất ngờ. Các Hạm Trưởng đích thân trên máy VRC46 lần lượt báo cáo sẵn sàng. Tôi rất phấn khởi vì giờ tấn công hoàn toàn do tôi tự do quyết định,  không phải lệ thuộc vào lệnh của thượng cấp và vào ý đồ chiến thuật của địch. Ðịch lúc này đã tỏ ra không có một ý định gì cản trở hay tấn công chiến hạm ta.


Hải Quân Ðại Tá Ðỗ Kiểm, Tham Mưu Phó Hành Quân tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân còn đặc biệt cho tôi hay là có chiến hạm bạn ở gần, nhưng với sự hiểu biết của tôi, tôi không có một chút tin tưởng gì vào đồng mình này vì kể từ tháng 02/1972 khi Hoa Kỳ và Trung Cộng đã chấm dứt sự thù nghịch nên Hải Quân của họ sẽ không một lý do gì lại tham dự vào việc hỗ trợ Hải Quân Việt Nam trong vụ tranh chấp về lãnh thổ. Hoạ chăng họ có thể cứu vớt những người sống sót nếu các chiến hạm HQVN lâm nạn. Nhưng thực tế cho thấy trong suốt cuộc tìm kiếm những nhân viên từ Hộ Tống Hạm HQ10 và các toán đã đổ bộ lên trấn giữ các đảo đã đào thoát để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành động nhân đạo nào từ phía đồng minh kể cả của phi cơ không tuần.


Khoảng 10:24 sáng thì lệnh khai hoả tấn công được ban hành và tôi vào trung tâm chiến báo trực tiếp báo cáo bằng máy siêu tần số SSB, tôi đã cố ý giữ ống nói sau khi tôi chấm dứt báo cáo để tiếng nổ của hải pháo cũng được truyền đi trên hệ thống này. Cuộc khai hoả tấn công đã đạt được yếu tố bất ngờ cho các chiến hạm địch vì tôi cho rằng họ vẫn tin là các hành động của chiến hạm cũng tương tự như trong những vài ngày trước, khi Hải Quân Việt Nam đổ quân trên các đảo Cam tuyền, Vĩnh Lạc và Duy Mộng và nhất là cuộc phô diễn lực lượng của Hải Đoàn Đặc Nhiệm ngày hôm trước Hải Quân Việt Nam đã không có một hành dộng khiêu khích nào, mà còn chấp thuận giữ liên lạc bằng quang hiệu.


Chiếc Kronstad 271 nằm về hướng tây gần đảo Quang Hoà, hướng mũi về phía tây là mục tiêu của Tuần Dương Hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía đông, đặt mục tiêu về phía tả hạm (tức là phía Bắc). Chiếc này bị trúng đạn ngay từ phút đầu, vận chuyển rất chậm chạp nên đã là mục tiêu rất tốt cho Tuần Dương Hạm HQ5. Hoả lực của chiếc Kronstad 271 này không gây nhiều thiệt hại cho Tuần Dương Hạm HQ5, nhưng có thể đã gây thiệt hại nặng cho Hộ tống hạm HQ10 nằm về phía Bắc. Khu Trục Hạm HQ4 nằm về phía tây nam của Tuần Dương Hạm HQ5 đặt mục tiêu là chiếc Kronstad 274 nằm về phía Bắc tức là tả hạm của chiến hạm. Nhưng chẳng may, HQ4 báo cáo bị trở ngại tác xạ ngay từ phút đầu tiên và phải chờ sửa chữa. Việc này đã làm đảo lộn các dự tính của tôi và làm tôi bối rối. Sau vài phút thì chiến hạm này xin bắn thử và kết quả là vẫn bị trở ngại và cần tiếp tục sửa chữa thêm, nhưng tôi vẫn còn chút hy vọng. Khu Trục Hạm HQ4 vài phút sau lại xin tác xạ thử lần thứ ba nhưng vẫn không có kết quả, tuy nhiên chiến hạm này vẫn phải tiếp tục bám sát mục tiêu của mình trong tầm các loại đại liên nên đã bị thiệt hại nhiều bởi hoả lực của chiếc Kronstad 274, và đại liên đã không áp đảo được hoả lực của địch.


Trên Tuần Dương Hạm HQ5 , tôi xử dụng chiếc máy PRC 25 trước ghế Hạm Trưởng bên hữu hạm của đài chỉ huy để liên lạc với các chiến hạm, tôi vừa rời ghế để ra ngoài quan sát hai phía thì một trái đạn loại nổ mạnh gây một lỗ lủng khoảng nửa thước đường kính và làm nát máy PRC25, nên từ phút này trở đi tôi phải vào tận Trung tâm chiến báo để dùng máy VRC46. Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ5 đứng cạnh đài chỉ huy bên tả hạm với sĩ quan hải pháo để dễ quan sát mục tiêu được chỉ định, nên tôi thường nói trực tiếp với Hạm Trưởng tại nơi này. Trung tâm chiến báo của chiến hạm này chỉ quen thuộc dùng radar vào việc hải hành, vả lại trời mù, mây thấp, radar có nhiều nhiễu xạ nên tôi không được rõ về vị trí của Phân Đoàn II và các chiến hạm của địch còn nằm trong khu lòng chảo Hoàng Sa.


Sau chừng 15 phút thì Tuần Dương Hạm HQ16 báo cáo là bị trúng đạn hầm máy, tầu bị nghiêng nên khả năng vận chuyển giảm sút, buộc phải lui ra ngoài vòng chiến để sửa chữa và cũng không còn liên lạc được với Hộ Tống Hạm HQ10, không biết rõ tình trạng và chỉ thấy nhân viên đang đào thoát. Tôi nhận thấy một Tuần Dương Hạm đã vận chuyển nặng nề mà chỉ còn một máy và bị nghiêng, nếu tiếp tục chiến đấu thì sẽ là một mục tiêu tốt cho địch, nên tôi đã không ra phản lệnh. Khu Trục Hạm HQ4 đã bị thiệt hại nhiều sau khi phải bám sát chiến hạm địch trong tầm đại liên, nên tôi ra lệnh cho Khu Trục Hạm HQ4 phải rút ra khỏi vòng chiến ngay và chỉ thị cho Tuần Dương Hạm HQ5 yểm trợ cho chiếc này khi tiến ra xa, vì tất nhiên Hải đội đặc nhiệm không thể để bị thiệt hại một Khu Trục Hạm mà Hải Quân VNCH chỉ có tổng cộng 2 chiếc mà thôi.


Khi Khu Trục Hạm HQ4 ra khỏi vùng chiến, lại không bị chiếc Kronstad 274 truy kích hoặc tác xạ đuổi theo, ngược lại chiếc này của địch có phần rảnh tay hơn để tấn công Tuần Dương Hạm HQ5 vào phía hữu hạm hầu giảm bớt hoả lực của chiến hạm ta như để cứu vãn chiếc 271 đang bị tê liệt. Vào giờ này thì tin tức từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân tại Sài Gòn do chính Tham mưu phó hành quân cho hay là một phi đội khu trục cơ F5 đã cất cánh để yểm trợ cho Hải Đoàn Đặc Nhiệm. Do sự liên lạc từ trước với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I Không Quân tại Ðà Nẵng, tôi hiểu là phi cơ F5 chỉ có thể yểm trợ trong vòng 5 tới 15 phút mà thôi vì khoảng cách từ Ðà Nẵng tới Hoàng Sa quá xa so với nhiên liệu dự trữ. Tôi vẫn tin rằng loan tin việc phi cơ cất cánh, Bô Tư Lệnh Hải Quân đã cho rằng tin này có thể làm cho tôi vững tâm chiến đấu. Một điều nữa là từ trước tới giờ phút đó tôi chưa được thấy có cuộc thao dượt hỗn hợp nào giữa Không Quân và Hải Quân nên tôi rất lo âu về sự nhận dạng của phi công để phân biệt giữa chiến hạm của Hải Quân Việt Nam và chiến hạm Trung Cộng, nhất là lúc có mây mù thấp , nên phi cơ có thể gây tác xạ nhầm mục tiêu. Máy VRC 46 trong Trung tâm chiến báo phải chuyển sang tần số không hải và đích thân tôi dùng danh hiệu để bắt liên lạc với phi cơ. Một viên đạn xuyên nổ trúng ngay Trung tâm chiến báo từ hữu hạm, sát gần ngay nơi tôi đứng, làm trung tâm bị phát hoả. Các nhân viên trong trung tâm còn mải núp sau bàn hải đồ thì tôi nhanh tay với một bình cứu hoả gần chỗ tôi đứng dập tắt ngay ngọn lửa. Tôi bị té ngã vì vấp chân vào bàn hải đồ, bàn chân trái bị đau mất vài ngày. Tôi vẫn vẫn tiếp tục liên lạc với phi cơ nhưng sau chừng 5 tới 10 phút vẫn không thấy đáp ứng nên tôi phải ngưng và chuyển tần số về liên lạc với các chiến hạm khác vì cuộc giao tranh đã đến độ khốc liệt hơn. Sau phút này thì Tuần Dương Hạm HQ5 bị trúng nhiều đạn làm sĩ quan trưởng khẩu 127 ly tử thương và hải pháo bị bất khiển dụng vì phần điện điều khiển pháo tháp tê liệt, và máy siêu tần số SSB không còn liên lạc được vì giây trời bị sập rớt xuống sàn tầu, hiệu kỳ hải dội bị rách nát phần đuôi. Tôi ra ngoài quan sát phía tả hạm và được nghe báo cáo là hầm đạm phát hoả. Tôi nói ngay với Hạm Trưởng là cằn phải làm ngập hầm đạn. Khẩu hải pháo 40 ly đơn tả hạm bị bất khiển dụng vì bị trúng đạn vào khối nạp đạn và khẩu 40 ly hữu hạm bị hư hại nhẹ. Tôi yêu cầu Hạm Trưởng là chỉ nên cho tác xạ từng viên mà thôi, vì nhu cầu phòng không rất có thể xẩy ra trong một thời gian ngắn.


Bất thần về phía Đông vào khoảng 11:25 giờ sáng cách xa chừng 8 đến 10 hải lý, xuất hiện một chiến hạm của Trung Cộng loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng kép hoả tiễn loại hải hải (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đĩnh Komar) đang tiến vào vùng giao tranh với một tốc độ cao, quan sát được bằng mắt viễn kính và không một chiến hạm nào báo cáo khám phá được bằng radar từ xa. Tôi dự đoán loại chiến hạm này ít khi được điều động từng chiếc một, và tin là có thể thêm ít nhất một chiếc theo sau. Với tình trạng của Hải Đội Đăc Nhiệm: 1 Hộ Tống Hạm bị loại khỏi vòng chiến; 1 Tuần Dương Hạm bị thương nơi hầm máy; 1 Khu Trục Hạm và 1 Tuần Dương Hạm chỉ còn hoả lực rất hạn chế; cộng với nguy cơ bị tấn công bằng cả hoả tiễn hải hải cũng như bằng phi cơ rất có thể xẩy ra, nên tôi triệt thoái phần còn lại của lực lượng là Khu Trục Hạm HQ4 và Tuần Dương Hạm HQ5 ra khỏi vùng Hoàng Sa tiến hướng Đông Nam về phía Subic Bay (Hải Quân công xưởng của Hoa Kỳ tại Phi luật tân). Tôi cũng cầu nguyện Ðức Thánh Trần, Thánh Tổ của Hải Quân VNCH ban cho tôi một trận mưa để giảm tầm quan sát và khả năng tấn công của phi cơ địch. Sau khi hai chiến hạm còn lại rút ra khỏi vùng giao tranh chừng 10 phút thì một trận mưa nhẹ đã đổ xuống toàn vùng quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm ta đã không bị truy kích và phi cơ địch cũng chưa xuất hiện. Mục đích tôi hướng về phía Đông Nam là để tránh bị phục kích của tiềm thuỷ đĩnh Trung Cộng tại hải trình Hoàng Sa Ðà Nẵng, và khi ra ngoài xa lãnh hải thì nếu còn bị tấn công bằng phi cơ hoặc tiềm thuỷ đĩnh thì may ra đồng minh Hải Quân Hoa Kỳ có thể cấp cứu chúng tôi dễ dàng hơn theo tinh thần cấp cứu hàng hải quốc tế. Nếu chúng tôi không còn bị tấn công thì việc đến Subic Bay Phi Luật tân để xin sửa chữa trước khi hồi hương là một điều khả dĩ được thượng cấp chấp thuận.


Tuần Dương Hạm HQ5 phải mất gần một giờ mới kéo lên được giây trời khẩn cấp để tái lập sự liên lạc bằng máy siêu tần số SSB. Hầm đạn phía mũi của chiến hạm đã bị làm ngập, mũi bị chúc xuống nên tốc độ có bị thuyên giảm. Chính trong thời gian mất liên lạc, Bộ Tư Lệnh tại Sài Gòn cũng như tại Ðà Nẵng rất bối rối cho sự an toàn của 2 chiến hạm và bản thân tôi. Chính Tư Lệnh Hạm Đội tại Sài Gòn cũng đã đưa tin mất liên lạc đến với gia đình tôi.


Vào khoảng 13 G trưa, 2 chiến hạm HQ4 và HQ5 đã cách Hoàng Sa chừng 10 hải lý, trời nắng và quang đãng. Tư Lệnh Hải Quân đích thân ra lệnh cho cả 2 chiến hạm phải trở lại Hoàng Sa và đánh chìm nếu cần, tôi nhận được giọng nói của Ðô Đốc. Lệnh đã được thi hành nghiêm chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên lạc vô tuyến siêu tần số được điều hoà trở lại thì mọi báo cáo chi tiết về tổn thất và tình trạng lúc bấy giờ của các hai chiến hạm được chuyển đầy đủ. Trên Tuần Dương Hạm HQ5 tôi cũng được thông báo về Tuần Dương Hạm HQ16 sẽ được Tuần Dương Hạm HQ6 tới hộ tống về Căn cứ Hải Quân Ðà Nẵng.
Ðến khoảng 1430 G chiều, khi cả hai chiến hạm đang trở về Hoàng Sa, quá ngang Hòn Tri Tôn, nghĩa là còn cách đảo Hoàng Sa chừng 1 giờ rưỡi hải hành nữa, thì hai chiến hạm được phản lệnh trở về Ðà Nẵng. Lúc này trời đã nắng, mây cao nên rất dễ dàng cho việc hải hành. Trong một cuộc đến thăm Tư Lệnh Hải Quân VNCH tại tư dinh vào khoảng tháng 02/1974, thì vị Ðô Ðốc này đã tiết lộ rằng nếu biết được sớm tình trạng của Hải Đoàn Đặc Nhiệm thì Tư Lệnh đã cho lệnh trở về căn cứ trước sớm hơn. Trên đường về, tôi vẫn ra lệnh cho các chiến hạm giữ nguyên nhiệm sở tác chiến và nhất nhất các nhân viên không ở trong nhiệm sở phòng máy phải túc trực trên boong để tránh tổn thất về nhân mạng trong trường hợp bị tiềm thuỷ đĩnh Trung Cộng phục kích bằng ngư lôi. Nhưng may mắn là điều tôi dự liệu đã không xẩy ra. Các chiến hạm đã khởi sự ngay thu dọn các tổn thất về vật liệu và thu hồi các dư liệu tác xạ.


Tôi tò mò mở đài phát thanh BBC vào sáng sớm ngày 20, thì họ chỉ vỏn vẹn loan tin một trận hải chiến đã xẩy ra trong vùng quần đảo Hoàng Sa giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà và Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa, mỗi bên thiệt hại 1 chiến hạm và không thêm một chi tiết nào khác. Tôi tỏ ra khâm phục đài nay về sự loan tin nhanh chóng và xác đáng.


Tôi đã không hút thuốc từ nhiều tháng qua, nhưng tôi muốn hút một vài điếu thuốc cho tinh thần bớt căng thẳng sau gần 48 tiếng đồng hồ liên tục không được nghỉ ngơi, tôi yêu cầu Hạm Trưởng dùng hệ thống liên hợp để loan báo xem có nhân viên nào còn thuốc lá cho tôi xin một ít để hút. Tôi không ngờ là các nhân viên tuần tự mang đến cho tôi hơn 2 chục bao cả loại trong khẩu phần C của đồng minh và các loại thuốc trong thương trường lúc bấy giờ, tôi lấy làm cảm động về sự ưu ái của các nhân viên trên chiến hạm này. Vào khoảng 2 giờ đêm tôi soạn thoản một sơ đồ hành quân và các chi tiết về tổn thất để chuẩn bị thuyết trình khi về tới căn cứ.


Khoảng 07 G sáng ngày 20/01 thì hai chiến hạm của Phân Đoàn I về tới căn cứ an toàn. Tuần Dương Hạm HQ16 cũng đã về bến trước đó ít lâu. Một điều mà các nhân viên của các chiến hạm và riêng tôi rất cảm động là trên cầu Thương cảng Ðà Nẵng là nơi đã được chỉ định cho các chiến hạm cặp bến, đã có sự hiện diện của các vị Ðô Ðốc Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó HQ VNCH, Ðô Ðốc Tư Lệnh HQ Vùng I Duyên Hải, một số đông sĩ quan cùng nhân viên của các đơn vị HQ vùng Ðà Nẵng cùng các trại gia binh đã túc trực đón đoàn chiến hạm trở về với rừng biểu ngữ:


«Hải Quân Việt Nam quyết tâm bảo vệ lãnh thổ đến giọt máu cuối cùng» .
«Một ý chí : chống cộng. Một lời thề: bảo vệ quê hương» .
«Hoan hô tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Hải Quân tham dự Hải chiến Hoàng Sa» .
«Hoan hô tinh thần bất khuất của các chiến sĩ Hải chiến Hoàng Sa» .


Sau khi di tản các chiến sĩ thương vong và tử vong lên căn cứ thí chỉ có 3 vị Ðô Ðốc cùng HQ Ðại Tá Nguyễn viết Tân Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải lên Tuần Dương Hạm HQ5 và vào phòng khách của Hạm Trưởng để dự cuộc thuyết trình về trận đánh. Ba vị Hạm Trưởng đều có mặt để trình bầy chi tiết về chiến hạm của mình. Các vị Ðô Đốc cũng không hỏi thêm tôi về những yếu tố đã đưa đến những quyết định chiến thuật của tôi, nhất là quyết định triệt thoái phần còn lại của Hải Đoàn Đặc Nhiệm ra khỏi vùng Hoàng Sa. Sau phần thuyết trình các vị Ðô Ðốc đã đi quan sát sự thiệt hại của các chiến hạm và uý lạo nhân viên các cấp. Tôi cũng được nghe Ðô Đốc Tư Lệnh Phó đề nghị với Tư Lệnh HQ là sẽ không có thuyết trình cho Tư Lệnh Quân Đoàn I.


Sau chừng một giờ thì Trung Tướng Tư Lệnh Quân đoàn I/Quân Khu I cũng tới thăm viếng và được hướng dẫn quan sát một vòng các chiến hạm để nhận định sự thiệt hại …



Kết quả của trận hải chiến



Hoàng Sa Vị Quốc Vong Thân


Một cách tổng quát thì sự thiệt hại của hai đối thủ được kể như tương đương trong trận hải chiến. Mỗi bên bị tổn thất một chiến hạm, như đài BBC loan tin vào sáng sớm ngày 20/01, phía VNCH là Hộ tống hạm HQ10, phía Trung Cộng là chiếc Kronstad 271 (được coi là chiến hạm chỉ huy) còn một số khác thì chịu một sự hư hại trung bình hoặc trên trung bình. Hai chiếc nhỏ hơn 389 và 396 cùng hai ngư thuyền nguỵ trang theo tôi ước lượng chỉ hư hỏng hơi nặng mà thôi vì tầm hoả lực của ta trội hơn. Riêng chiếc Kronstad 271 có thể bị tổn thất nhiều nhân viên hơn vì trúng nhiều hải pháo của Tuần Dương Hạm HQ5 vào thượng tầng kiến trúc, trong khi đó chiếc 274 thì tổn thất được coi là nhẹ hơn cả vì chỉ bị tấn công nhiều bằng đại liên và ít hải pháo về sau này. Tuy nhiên trong các trận hải chiến thì người ta thường kể về số chiến hạm bị loại khỏi vòng chiến hơn là số thương vong về nhân mạng. Riêng trên Hộ tống ham HQ10, theo các nhân viên đã đào thoát về được đất liền, thì vị Hạm Trưởng và Hạm Phó đều bị thương nặng, nhưng Hạm Trưởng đã từ chối di tản và quyết ở lại tuẫn tiết cùng chiến hạm của mình theo truyền thống của một sĩ quan Hải Quân và một nhà hàng hải. Hạm Phó được nhân viên dìu đào thoát được nhưng đã phải bỏ mình trên mặt biển vì vết thương quá nặng. Vụ này làm tôi nhớ lại, theo lời kể của các bậc tiên sinh, thì khi Hải Quân Pháp hành quân trên sông (nếu không lầm thì là Sông Ðáy) một chiến hạm loại trợ chiến hạm (LSSL) hay Giang pháo hạm (LSIL) đã bị trúng đạn đài chỉ huy, làm tử thương cả hai Hạm Trưởng và Hạm Phó cùng một lúc, sĩ quan cơ khí đã phải lên thay thế tiếp tục chỉ huy. Sau kinh nghiệm này, Hải Quân Pháp không cho Hạm Trưởng và Hạm Phó có mặt cùng một nơi khi lâm trận. Cá nhân tôi lúc đó đã không có chút thì giờ để nhớ tới kinh nghiệm mà các bậc tiên sinh đã truyền lại tôi mà áp dụng.


Một điều lạ là Trung Cộng có đủ khả năng tuy khiêm nhượng, vào lúc cuối trận chiến, vì có thêm tăng viện đến kịp thời, nhưng đã bỏ rơi cơ hội truy kích khi lực lượng ta triệt thoái, hay xử dụng hoả tiễn hải hải vì lực lượng ta vẫn còn nằm trong tầm hữu hiệu của loại vũ khí này. Tôi cho rằng có thể họ đã bận tâm vào việc cứu vãn chiếc Kronstad 271 và quân bộ trên đảo Quang Hoà, hoặc họ đã không nhận được lệnh tấn công, và chỉ đương nhiên chống trả tự vệ mà thôi. Tôi nhận rằng ước tính của tôi về phản ứng của địch đã cao hơn như thực tế đã xẩy ra. Việc Hải Quân Viêt Nam khai hoả tấn công sau khi thất bại đổ bộ đã tạo cho Trung Cộng có nguyên cớ vì bị tấn công mà phải hành động, nên đã dùng cường lực cưỡng chiếm các đảo vào ngày sau.


Theo các quân nhân trú phòng trên đảo Hoàng Sa thì sáng sớm ngày hôm sau tức là ngày 20/01, Trung Cộng đã huy động một lực lượng hùng hậu kết hợp hải lục Không Quân đổ bộ tấn chiếm đảo Hoàng Sa và các đảo kế cận mà các chiến binh Hải Quân đang chiếm giữ. Theo ký giả Lê Vinh, một cựu sĩ quan Hải Quân, đã từng đảm trách chức vụ thư ký cũa Uỷ Ban Nghiên Cứu trận hải chiến cho biết, thì vào thời gian trận hải chiến, Hải Quân Hoa Kỳ đã chuyển cho Hải Quân Việt Nam một tin tức về 42 chiến hạm Trung Cộng với 2 tiềm thuỷ đĩnh đang tiến xuống Hoàng Sa. Dù nhiều hay ít thì lực lượng của họ sẽ trội hẳn lực lượng Hải Quân Việt Nam có thể điều động tới. Nếu hai chiến hạm còn lại của Hải Đoàn Đặc Nhiệm phải lưu lại Hoàng Sa như lệnh ban ra lúc đầu, với khả năng chiến đấu đã bị giảm sút nhiều thì sự bảo tồn của hai chiến hạm này rất mong manh. Thế cho nên phản lệnh cho hai chiến hạm phải trở về căn cứ được kể như là đúng lúc và sát với thực tế hơn.
Trung Cộng đã bắt giữ tất cả quân nhân và dân chính Việt Nam trên đảo Hoàng Sa và toán Hải Quân đổ bộ thuộc Khu Trục Hạm HQ4 trên đảo Vĩnh Lạc (sát phía Nam đảo Hoàng Sa) mà trưởng toán là HQ Trung Uý Lê văn Dũng (sau được vinh thăng HQ Ðại Uý tại mặt trận), làm tù binh đưa về giam giữ đầu tiên tại đảo Hải nam. Riêng ông Kosh là nhân viên của cơ quan DAO Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng thì được trao trả cho Hoa Kỳ sớm nhất tại Hồng Kông. Còn các nhân viên Việt đã bị họ nhồi sọ về chủ nghĩa của họ trong suốt thời gian tại Quảng Ðông, và trao trả về Việt Nam tại ranh giới HồngKông và Trung Cộng. Ðô Đốc Tư Lệnh Phó HQ đã được đề cử đích thân đến HồngKông tiếp nhận. Các chiến sĩ từ Trung Cộng hồi hương đều được đưa vào Tổng Y viện Cộng Hoà điều trị về các bệnh trạng gây ra do các hành động ngược đãi trong khi bị giam cầm trên lục địa Trung Hoa.


Thế là cuối cùng thì Việt Nam Cộng Hoà đã mất nốt nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía Nam của cả quần đảo Hoàng Sa cho tới ngày hôm nay.


Các chiến sĩ Hải Quân đào thoát từ Hoàng Sa, sau nhiều ngày trôi dạt trên mặt biển, một số đã được chính các tuần duyên đĩnh của Hải Quân cứu vớt, một số đã được các thương thuyền trên hải trình Singapore HồngKông bắt gặp. Tất cả các chiến sĩ thoát hiểm được đưa về diều trị tại các Tổng y viện Duy Tân (Ðà Nẵng) hay Cộng Hoà, và còn được Thủ Tướng chính phủ, các vị Tư Lệnh Quân Đoàn, và các vị Ðô Đốc Hải Quân đến thăm hỏi và uý lạo.


Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?



Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?




2015-10-29

Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?  Phần âm thanh Tải xuống âm thanh





TT Ngo Dinh Diem.jpg
Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.
Courtesy U.S. Air Force




Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đưa đất nước Việt Nam vào một khúc quanh lịch sử. Cái chết của hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu, những tướng lãnh tham gia cuộc đảo chánh không ai biết người ra lệnh thủ tiêu hai ông là ai nhưng sau khi tro bụi của cuộc cách mạng lắng xuống những gương mặt đứng phía sau giật dây cho cuộc tàn sát ấy bắt đầu được điểm danh và lịch sử luôn công bằng cho từng người một.


Mặc Lâm phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, một nhân chứng lịch sử, một người bạn, người cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi từ Mỹ trở về Việt Nam chấp chính cho tới khi biến cố xảy ra.


Cái tốt và chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa



Mặc Lâm: Thưa ông Bùi Kiến Thành, xin cảm ơn ông cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Ngày 1 tháng 11 hàng năm có lẽ ai theo dõi tình hình Việt Nam trong lịch sử đương đại đều nhớ là ngày mà cuộc đảo chính không những lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn giết cả hai anh em ông ấy tại Sài gòn vào năm 1963. Ông có nhận đình gì về ngày lịch sử này thưa ông?


Bùi Kiến Thành: Có lẽ cũng là một ngày chúng ta nên ôn lại cái được và cái chưa được cái tốt và cái chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa để chúng ta rút bài học.


Mặc Lâm: Vâng, trước khi đi sâu hơn vào chi tiết xin ông vui lòng cho biết về mối quan hệ của ông với Tổng thống Ngô Đình Diệm.


Bùi Kiến Thành: Trong khi tôi học ở Columbia vào những năm 1952 cho tới năm 1954 lúc đó thì chí sĩ Ngô Đình Diệm đang ở New Jersey. Cứ mỗi cuối tuần thì ông qua New York thăm chơi với tôi cùng một anh bạn nữa là anh Bùi Công Văn, ảnh là phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cứ tối thứ Bảy thì ông qua ngồi nói chuyện suốt đêm cho tới sáng Chủ Nhật thì ông đi lễ, đi lễ về rồi lại nói chuyện suốt ngày, tới chiều Chúa Nhật thì ông trở lại tu viện Maryknoll.


Chúng tôi sống với nhau trong cảnh bạn cố tri trao đổi như thế trong suốt gần hai năm tại New York trước khi ông Diệm về bên Pháp và sau đó về làm Thủ tướng chánh phủ.


Sau khi ông Diệm về làm Thủ tướng chính phủ chấp chánh vào ngày mùng 7 tháng 7 thì ông Diệm gửi điện qua New York và Washington yêu cầu tôi trở về để giúp đỡ. Ngày 23 tháng 8 năm 1954 sáu anh em chúng tôi là cựu sinh viên của các đại học Mỹ về giúp cho ông Diệm trong thời kỳ rất là khó khăn. Làm Thủ tướng mà không có cảnh sát không có quân đội chỉ vỏn vẹn có 27 sĩ quan đi theo mà thôi.



“Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông
Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm
đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu
thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng,
nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm
sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.”
-Bùi Kiến Thành



Cả một đất nước do Pháp đang cai trị vì vậy khi nắm lại quyền tự do, quyền tự chủ, quyền độc lập trong thời kỳ đó rất là khó khăn vì vậy chúng ta phải đánh giá cao việc ông Diệm bình định được tình hình, đưa quân Pháp ra khỏi nước Việt Nam một cách ổn định và xây dựng nền đệ nhất cộng hòa. Điều này khi nghiên cứu lịch sử và đánh giá cao tinh thần của cả một thời kỳ không riêng gì ông Diệm mà những người đi theo hỗ trợ giúp đỡ cho ông Diệm, những nhân sĩ ở miền Nam, nhân sĩ ở miền Trung, miền Bắc… tất cả đều có công lớn đã xây dựng chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng rất tiếc rằng sau đó chúng ta không làm được những chuyện ta cần phải làm để đến nỗi bị đổ vỡ.


Mặc Lâm: Thưa ông trong khi gần gũi với Thủ tướng Ngô Đình Diệm ông và các người được Thủ tướng mời về cụ thể làm những việc gì để giúp cho chính phủ còn non nớt lúc ấy?


Bùi Kiến Thành: Tôi bên cạnh ông Diệm suốt ngày mà! Khi tôi về tại Dinh Gia Long ngày 23 tháng 8 đó ăn cơm trưa với ông Diệm và một số Bộ trưởng, Tổng trưởng, có những nhân hào nổi tiếng của Việt Nam như ông Phạm Duy Khiêm, Bác sĩ Bùi Kiến Tín, Nguyễn Văn Châu… chúng tôi hết sức khẩn thiết làm bất cứ việc gì để ổn định tình thế, tôi ở suốt ngày suốt đêm trong dinh một thời gian rồi sau đó tôi mới dời ra ngoài. Sau khi bố trí lại thì ngày nào đêm nào tôi cũng vào trong dinh để mà làm việc với Thủ Tướng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm.


Một là bên Dinh Gia Long, sau nữa khi dời sang Dinh Độc Lập tôi cũng sát cùng ông Diệm như một cộng sự đặc biệt vì cái chỗ thân tình từ khi còn nhỏ kia, khi tôi mới 15-16 tuổi, hồi đó gia đình tôi thân với ông Diệm lắm. Chính ông cụ tôi đã cất giấu ông Diệm trong khi bị Nhật tìm bắt ông. Sau này khi không còn tham chính nữa ông cụ tôi tiếp tục làm y sĩ riêng cho Tổng Thông đến ngay ông ấy bị sát hai. Cái thân tình ấy dẫn tới chỗ hết sức gần với nhau. Tất cả những chuyện thâm cung bí sử, khó khăn trong thời kỳ tháng 8 tháng 9 tới tháng 12 năm 1954 thì thật sự hội lại chỉ có 4 người trong Dinh Gia Long thôi: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Bác sĩ Bùi Kiến Tín và Bùi Kiến Thành. Chúng tôi bàn với nhau cái gì cần phải làm. Làm sao nắm được quân đội, làm sao đối kháng với Bình Xuyên, làm sao giải tỏa được thành phố Sài Gòn xây dựng lên một chính quyền được nhân dân ủng hộ.


Riêng về tôi đặc biệt là có trách nhiệm giúp cho Tổng thống, khi ấy là Thủ tướng, quan hệ với các phái bộ đặc biệt của Mỹ từ bên Mỹ gửi qua chứ không phải quan hệ với sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thân với Pháp, ông đại sứ Mỹ Donald Heath rất thân với Pháp, sau đó thì Lawton Collins cũng thân với ông Cao Ủy Pháp Paul Ely. Công việc của tôi và của ông Ngô Đình Nhu là bắc cây cầu trực tiếp với chính phủ Mỹ ở Washington, qua những phái bộ đặc biệt của Hoa Kỳ gửi qua trong đó có Trung tướng O’Daniel, Đại tá Lansdale sau này là General Lansdal, Paul Hardwood (Trưởng phái bộ CIA), việc của tôi làm lúc ấy cũng chỉ trong 4 người mà thôi bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn.


Xây dựng được tờ báo Tự Do là việc tôi hết sức thú vị. Tôi nói với Thủ tướng mình cần có cơ quan ngôn luận tự do. Tờ báo đó được Bác sĩ Bùi Kiến Tín, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thông tin, ký giấy phép. Tôi tập hợp những nhân sĩ ở Bắc Hà vào làm trong đó có Tam Lang, có Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Vũ Khắc Khoan …làm ban biên tập để cho tờ báo Tự do có tiếng nói tự do trong thời kỳ hết sức khó khăn như thế. Chỉ có tờ báo Tự do lúc ấy là thực sự nổi tiếng, có tiếng nói tự do trong một khung cảnh rất khó khăn và để chống lại những tờ báo thiên Pháp hay thân các chế dộ trước kia của Sàigon và những đài phát thanh khi đó tại Sài Gòn theo phe quân đội chửi bới Ngô Đình Diệm suốt ngày. Tôi có nhiệm vụ lập nên đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, một đài phát thanh đặc biệt để nói lên những sự việc như thế nào trong khi chúng ta phải xây dựng một chính quyền độc lập đó là việc Thủ tướng Ngô Đình Diệm giao cho tôi làm.




Ngo_Dinh_Diem_at_Washington_-_ARC_542189-400.jpg
TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.




Mặc Lâm: Xin ông nói rõ hơn tại sao đã là thủ tướng mà còn bị đài phát thanh bên quân đội chống phá bằng cách chửi bới công khai như ông vừa nói, phải chăng còn một thế lực nào công khai chống lại Thủ tướng vào lúc sơ khai ấy hay không?


Bùi Kiến Thành: Thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc ấy làm gì có quân? Thủ tướng mà không nắm cảnh sát, công an. Công an trong tay của Bình Xuyên là một đám giang hồ, cướp của. Pháp cho họ quản lý sòng bạc Đại thế giới, Kim Chung… Cảnh sát thì không nắm được còn quân đội thì trong tay của Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Trung tướng Hinh là một người thân Pháp con của ông Nguyễn Văn Tâm, không phải là người ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm vì vậy khi làm Thủ tướng ông Ngô Đình Diệm ngồi trong dinh nhưng cái đài phát thanh là của người khác.


Đài Quốc gia cũng như đài quân đội thì người Pháp, hay thân Pháp, quản lý cứ mỗi ngày chửi bới Ngô Đình Diệm thế này, chửi bới Ngô Đình Diệm thế kia…ngồi trong dinh mà không giải quyết được vấn đề đó vì vậy phải kiên trì xây dựng lực lượng mình lên để giải quyết điều đó.


Xây dựng lực lượng bằng cách thu dụng những nhân sĩ tài ba của đất nước vào ủng hộ mình đồng thời cũng phải có tiếng nói qua cái đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, tiếng nói qua tờ báo Tự Do lúc đó đóng một vai trò quan trọng phổ biến tâm tư nguyện vọng, chính sách của Ngô Đình Diệm cho dân chúng được biết. Vấn đề đó cực kỳ quan trọng và tôi được giao trọng trách tổ chức hai việc đó trong những ngày đen tối nhất sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, tức là những ngày trong tháng 8 tháng 9 năm 1954 cho tới đầu năm 1955 khi bình định xong thì trong hai cơ quan đó, “Đài Tiếng nói quốc dân đoàn kết” không tiếp tục nữa nhưng tờ báo Tự Do vẫn tiếp tục rất tốt. Tờ Tự Do là nguồn dư luận rất tốt trong thời kỳ đó, trong chánh thể đệ nhất cộng hòa.


Không có tổ chức chính trị nồng cốt




Mặc Lâm: Báo chí quốc tế cũng như giới tướng lãnh đa số cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ bởi những tuyên bố gây sự giận dữ trong và ngoài nước của bà Ngô Đình Nhu cùng với những hành động đàn áp Phật giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông có chia sẻ gì về việc này?


Bùi Kiến Thành: Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị. Nếu quản lý một nhà nước mà không có tổ chức thì làm sao? Vì vậy cho nên cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nồng cốt để làm việc.



“Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền
Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi
hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết
sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm
không có kinh nghiệm tổ chức.”
-Bùi Kiến Thành



Sau nữa còn có cái lỗi ở chỗ lầm lẫn hai việc khác nhau: quản lý các vấn đề nhà nước là việc quản lý hành chính, còn tổ chức nồng cốt do một chính đảng đứng lên để đóng vai trò cột trụ cho một đất nước thì là một việc khác. Do lầm lẫn ở vai trò lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hành chính cho nên chế độ Ngô Đình Diệm tập trung nhiều hơn về vấn đề hành chính mà quên đi vấn đề lãnh đạo chính trị, xây dựng nồng cốt tức là sự ủng hộ của nhân dân, làm sao để vấn đề đảng được nhân dân ủng hộ…


Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được và vì thế có thể nói sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là vấn đề nhỏ bé như chuyện bà Nhu nói cái này cái kia. Có! nó có ảnh hưởng nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ đối với khả năng xây dựng nên một chính đảng mạnh thì chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được.


Mặc Lâm: Vậy phải chăng do điều mà người ta nhận xét về ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc đã khiến ông bị người Mỹ lo sợ vì không theo sự dẫn dắt của họ, đặc biệt là khi Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam thưa ông?


Bùi Kiến Thành: Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.


Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.


Mặc Lâm: Thưa ông, một câu hỏi cho tới ngày nay vẫn nằm trong bí mật, ông thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên có lẽ hiểu được phần nào câu trả lời: ai ra lệnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và tại sao phải giết họ khi đã nắm tất cả quân đội trong tay và họ đã bị bắt?


Bùi Kiến Thành: Tôi không có thông tin chính xác để nói về vấn đề này nhưng suy luận từ một lần đảo chính trước do Nguyễn Chánh Thi chủ mưu ông Diệm đã lập lại ván cờ bằng cách chỉnh đốn lại, thì lần này Dương Văn Minh và những người theo Dương Văn Minh nghĩ rằng khả năng ông Nhu ông Diệm có đủ bản lĩnh và đủ sự ủng hộ của những quân đoàn còn theo ông ta để lập lại thế cờ thì rất khó khăn cho phe đảo chính. Vì vậy người ta không chấp nhận để cho ông Diệm ông Nhu tồn tại để mà có cái rủi ro đấy. Tôi không có thông tin ai là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm nhưng tôi chắc chắn rằng những người theo phe đảo chánh và nhất là phía Mỹ, thấy nguy cơ Ngô Đình Diệm có thể lập lại thế cờ rất là nguy hiểm vì vậy không để cho Ngô Đình Diệm sống. Đấy là quyết định chính trị chiến lược trong tranh đấu chứ không phải ai làm, hay ai ra lệnh không quan trọng, vấn đề phải tiêu diệt anh em ông Ngô Đình Diệm là để tránh nguy cơ bị lật trở lại.


Mặc Lâm: Trong ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 ông đang làm gì và có theo dõi hay tham gia trong một vai trò nào đó hay không?


Bùi Kiến Thành: Hôm đó tôi đang đi làm việc ở ngoài thì nghe phong phanh ngày hôm đó có bạo động. Tôi gọi về trong dinh thì gặp ông già Ẩn, tức là cận vệ của Tổng thống tôi hỏi anh Ẩn hiện giờ có vấn đề gì không vậy? tôi nghe ngoài này xào xáo lắm, thì ông Ẩn trả lời không có vấn đề gì đâu anh Thành ơi, mình hoàn toàn kiểm soát được mọi chuyện!


Đó là một cái chủ quan đầu tiên tại vì trong buổi sáng hôm ấy ông Nhu đã có sắp xếp một số chiến lược, chiến thuật nhằm giải quyết vấn đề bạo động nhưng vì chủ quan nên không thực hiện được. Tôi nói với ông Ẩn: coi chừng nhé nếu cần gì thì tôi vào trong dinh ngay để giúp cho các anh. Ông Ẩn nói không sao đâu anh Thành, nên tôi về nhà ăn cơm trưa và chờ cho tới hai ba giờ chiều không thấy gì xảy ra. Nhưng khoảng ba bốn giờ chiều tôi gọi lại thì tình hình bế tắc hết tôi không còn làm gì được nữa.


Ngày hôm đó tôi ở Sài Gòn, tôi muốn làm một cái gì đó để giúp đem lại trật tự an ninh nhưng mà cái thời thế có lẽ như là định mệnh của đất nước mình không cho mình làm gì được trong lúc ấy. Có làm gì được nữa trong lúc ấy khi thế lực của kẻ chủ mưu là người Mỹ đứng sau lưng những ông tướng của mình? thế lực ấy nó quá mạnh chúng ta không làm gì được.


Việc đảo chánh ông Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, Dương Văn Minh chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia củng chỉ là con cờ còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này. là người Mỹ mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, anh thấy có đau khổ chưa?


Mặc Lâm: Theo ông thì tại sao các tướng lĩnh lúc ấy lại nghe theo người Mỹ? Vì những hứa hẹn quyền lực hay âm mưu chính trị nào khiến họ trở thành như vậy?


Bùi Kiến Thành: Do những ông tướng không nghiên cứu tình hình đất nước, do không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào mà đi theo lời của nước ngoài để mà sát hại một tổng thống, tưởng mình làm được cái gì nhưng cuối cùng cũng đầu hàng cộng sản mà thôi chứ làm được gì đâu.


Cái tội của những anh đảo chính Ngô Đình Diệm là tội ngu dốt không biết tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình chiến lược trên thế giới nó như thế nào, họ làm cái việc tự mình sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng cộng sản.


Đấy là cái tội của các anh làm cho bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chết, đó là tội của các anh vì các anh không hiểu gì về chính trị, hữu dũng vô mưu, đưa đất nước đến chỗ suy tàn.


Nếu chúng ta có cơ hội thì còn thương lượng được giữa miền Bắc với miền Nam, cũng như Tây Đức và Đông Đức có thể thương lượng với nhau.


Chúng ta phải có nội lực có sức mạnh để mà thương lượng chứ không phải giao đất nước cho ngoại bang, giao cho Mỹ rồi đi đến chỗ chết.


Đó là tội của những người tự cho mình giỏi hơn người khác. Không thể nào một dân tộc một đất nước nào giữ được chính nghĩa của mình bằng cách bước theo những đội quân nước ngoài bắn phá làng xóm cả. Không thấy cái đó là mất chính nghĩa. Đầu óc các anh ở đâu mà anh vác súng đi theo người Mỹ vào trong làng xóm bắn giết dân chúng mình, như vậy là không thể được. Vì không thấy nên anh làm hại cả một thế hệ, làm hại cả một đất nước.