Hiển thị các bài đăng có nhãn Bản Lên Tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bản Lên Tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Bản Lên Tiếng Về chuyến đi Việt Nam của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông



Bản Lên Tiếng Về chuyến đi Việt Nam của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông








Kính gửi các tổ chức, đoàn thể và cơ quan truyền thông trong, ngoài nước.


Kính thưa quí vị,


Được biết nhà cầm quyền Việt Nam sẽ mời Tập Cận Bình, Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc, sang chính thức viếng thăm Việt Nam, chúng tôi, một số người Việt Nam yêu nước nhận thấy có bổn phận phải lên tiếng để cảnh giác mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam và kêu gọi nhân dân Việt Nam phải nói “Không !” về sự có mặt của Tập Cận Bình trên đất nước chúng ta.


Chúng tôi xin gửi đến quí vị Bản Lên Tiếng do 127 người Việt Nam đồng ký tên. Rất mong quí vị ủng hộ và tiếp tay quảng bá rộng rãi.


Xin chân thành cám ơn.


Thay mặt nhóm khởi xướng
Phạm Minh Hoàng (email : pmhoang.bk@gmail.com)

*******



Bản Lên Tiếng
Về chuyến đi Việt Nam của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông


Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước và quan tâm về tình hình Biển Đông, quan niệm rằng bảo vệ đất nước là trách nhiệm chung của toàn dân. Vì vậy chúng tôi thấy có bổn phận phải lên tiếng để cảnh giác và kêu gọi những điều sau đây:


Thứ nhất, trong mối quan hệ giữa hai nước, Việt Nam thường xuyên bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp một cách nghiêm trọng trên các mặt chính trị và kinh tế. Tham vọng của Trung Quốc là dùng sức mạnh để chiếm giữ và kiểm soát giao thương trên Biển Đông. Tham vọng này đe dọa quyền tự do hàng hải trong vùng, ảnh hưởng rất lớn lên sự phát triển và ổn định của cả khu vực Á Châu Thái Bình Dương. Riêng đối với Việt Nam, hành động xâm chiếm của Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại đáng kể về mặt tài nguyên và ngư nghiệp, đe dọa an ninh quốc phòng.


Thứ hai, chính vì tham vọng của Trung Quốc đang là mối lo ngại của thế giới, đây là lúc quyền lợi của chúng ta và nhiều nước khác tương đồng với nhau. Do đó, nhà cầm quyền Việt Nam phải đẩy mạnh hợp tác và xây dựng thế liên minh với những nước có chung mối quan tâm về vấn đề Biển Đông để cùng đối phó với tham vọng của Trung Quốc, như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản,… Đây cũng là lúc phải xét lại mối quan hệ với Trung Quốc, xét lại những cái gọi là “4 Tốt” hay “16 Chữ Vàng”, xét lại tất cả những ký kết không bình đẳng từ trước đến nay và phải từ bỏ biện pháp đối thoại song phương với Trung Quốc, vì đây chính là cái bẫy của Bắc Kinh. Thay vào đó, hãy dùng tòa án quốc tế để đối phó với Trung Quốc như là Philippines đang làm.


Thứ ba, khi Trung Quốc vẫn bất chấp sự phản đối của Việt Nam và nhiều nước trong vùng, tiếp tục bồi đắp nhiều đảo nhân tạo trên biển Đông với mục tiêu quân sự, tiếp tục tấn công ngư dân Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, nhà cầm quyền Việt Nam không thể trải thảm đỏ để đón tiếp Chủ tịch nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình! Nhân dân Việt Nam phải nói “Không!” về sự có mặt của Tập Cận Bình trên đất nước chúng ta và nhà cầm quyền cần hủy bỏ ý định đón tiếp Tập Cận Bình như các cơ quan truyền thông đã loan tin. Đây là một hành động cần thiết trên mặt ngoại giao để khẳng định thái độ của chúng ta trước một nước láng giềng đang chèn ép và xem thường dân tộc Việt Nam.


Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, công bố bản lên tiếng này nhằm thể hiện tiếng nói của những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước và góp phần kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tộc trước một hiểm họa nghiêm trọng. Xây dựng nội lực dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh và xây dựng hợp tác hữu nghị với những nước có cùng mục tiêu là yếu tố then chốt để giúp chúng ta giữ được sự độc lập và chủ quyền đối với Trung Quốc.



Việt Nam, ngày 15 tháng 10 năm 2015


Đồng ký tên :


1. Nguyễn Xuân Anh, cựu tù nhân lương tâm – Nghệ An


2. Trần Văn Bang, Kỹ Sư – Sài Gòn


3. Nguyễn Vũ Bình, nhà báo, cựu tù nhân lương tâm – Hà Nội


4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo – Sài Gòn


5. Nguyễn Kim Chi, Nghệ Sĩ – Hà Nội


6. Tống Văn Chính, Phật Giáo Hòa Hảo – An Giang


7. Quách Văn Công, hoạt động xã hội – Lâm Đồng


8. Nguyễn Văn Cừ – Hải Dương


9. Nguyễn Kim Cương – Hà Nội


10. Lương Văn Diện – Hải Dương


11. Lê Quang Du – Sài Gòn


12. Thái Văn Dung, cựu tù nhân lương tâm – Nghệ An


13. Đặng Văn Dũng, Hà Nam


14. Hoàng Dũng, hoạt động nhân quyền – Sài Gòn


15. Lã Việt Dũng, Kỹ Sư – Hà Nội


16. Nguyễn Văn Duyệt, cựu tù nhân lương tâm – Nghệ An


17. Nguyễn Văn Đài, Luật Sư, cựu tù nhân lương tâm – Hà Nội


18. Ngô Nhật Đăng, Nhà Báo – Sài Gòn


19. Nguyễn Văn Đề, hoạt động xã hội – Hà Nội


20. Nguyễn Văn Điền, Phật Giáo Hòa Hảo – Đồng Tháp


21. Lê Công Định, Luật Sư, cựu tù nhân lương tâm – Sài Gòn


22. Ninh Thị Định – Hải Phòng


23. Trần Hữu Đức, cựu tù nhân lương tâm – Nghệ An


24. Nguyễn Hữu Giải, Linh Mục – Huế


25. Hoàng Văn Giảng – Hải Dương


26. Nguyễn Thanh Hà, nhà giáo – Hà Nội


27. Nguyễn Thị Hà – Hải Phòng


28. Đỗ Thị Minh Hạnh, cựu tù nhân lương tâm – Sài Gòn


29. Nguyễn Thúy Hạnh – Hà Nội


30. Nguyễn Văn Hiên – Bắc Ninh


31. Lê Quang Hiển, Phật Giáo Hòa Hảo – Sài Gòn


32. Nguyễn Hoàng Hoa, Mục Sư – Trà Vinh


33. Phan Tấn Hòa, Phật Giáo Hòa Hảo – Cần Thơ


34. Phạm Minh Hoàng, nhà giáo, cựu tù nhân lương tâm – Sài Gòn


35. Lê Hùng, Hoạt động xã hội – Hà Nội


36. Lê Anh Hùng, Hoạt động xã hội – Hà Nội


37. Nguyễn Thanh Huân, Hoạt động nhân quyền, Nghệ An


38. Nguyễn Mạnh Hùng, Mục Sư – Sài Gòn


39. Nguyễn Thế Hùng, Giáo sư Đại học – Đà Nẵng


40. Phan Văn Hùng – Hà Nội


41. Vũ Hùng, nhà giáo, cựu tù nhân lương tâm – Hà Nội


42. Vũ Mạnh Hùng, nhà giáo – Hà Nội


43. Đỗ Ngọc Hương, tiểu thương – Hải Phòng


44. Trần Thị Hường, Hoạt động bảo vệ sự sống – Hà Nội


45. Trương Minh Hưởng – Hà Nam


46. Lê Quang Huy, nhà giáo – Thái Nguyên


47. Dương Kim Khải, Mục Sư, cựu tù nhân lương tâm – Sài Gòn


48. Lê Văn Khôi, Công nhân – Nghệ An


49. Hoàng Văn Khởi – Hà Nội


50. Nguyễn Kiêu, sinh viên, Sài Gòn

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

BẢN LÊN TIẾNG VỀ VỤ LƯƠNG TÂM TV BỊ SÁCH NHIỄU, HĂM DỌA



BẢN LÊN TIẾNG VỀ VỤ LƯƠNG TÂM TV BỊ SÁCH NHIỄU, HĂM DỌA






lương tâm tv




         Kính thưa

- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước

- Các chính phủ dân chủ và các cơ quan nhân quyền quốc tế.


         Lương Tâm TV là một chương trình thực hiện các video clip ngắn do Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm (CTNLT) và Hội Anh Em Dân Chủ (AEDC) đồng thực hiện rồi gởi lên mạng Internet theo định kỳ qua YouTube của Quốc tế. Chương trình này nhắm trình bày sự thật về hiện tình của VN, đưa ra nhận định về các vấn đề của đất nước, nhằm khơi gợi ý thức, soi sáng lương tâm cho Đồng bào, để toàn dân cùng chung tay xây dựng một xã hội có công lý và tự do, dân chủ.

         Thế nhưng, chỉ sau 3 video clip (bắt đầu từ ngày 19-08-2015), nhà cầm quyền Cộng sản VN đã ra tay trấn áp. Ngày 23-09-2015, công an Tp Hà Nội, quận Hai Bà Trưng đã cưỡng bức nhóm chuyên viên 5 người thực hiện chương trình đến đồn thẩm vấn hăm dọa, bao gồm nhà báo Nguyễn Vũ Bình, các anh Phạm Đắc Đạt và Nguyễn Mạnh Cường, các cô Lê Thị Yến và Lê Thu Hà. Sau đó tịch thu các phương tiện tác nghiệp của của Lương Tâm TV và các phương tiện thông tin của cá nhân họ, bao gồm 1 máy quay phim cầm tay, 1 camera Sony Anpha 58, bộ đèn chiếu studio 4 chân 4 đèn, 3 laptop chuyên dụng, 1 máy tính bảng, 4 điện thoại, 3 USB, 100 USD, bàn ghế và các thiết bị cho studio khác. Đứng trước vụ việc nghiêm trọng này


         1- Hội CTNLT và Hội AEDC nhận định:

         a- Chương trình Lương Tâm TV hoàn toàn phù hợp với điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà VN đã ký kết tham gia: 1- Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. 2- Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia”.

         b- Chương trình Lương Tâm TV hoàn toàn phù hợp với pháp luật VN. Theo Hiến pháp, hoạt động này nằm trong quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà người dân được hưởng. Còn theo luật báo chí vốn qui định đài truyền hình hay đài phát thanh mà có trụ sở, có phát sóng trên không gian, qua vệ tinh hay qua Internet, phải xin phép chính quyền, thì Lương Tâm TV chỉ là những video clip ngắn từ 7-12 phút được đưa lên mạng qua nhà cung cấp dịch vụ Youtube của Hoa Kỳ- nên không phải xin phép và không thể bị cấm chỉ.

         c- Chương trình Lương Tâm TV cũng nằm trong tinh thần của 182/227 khuyến nghị UPR của cộng đồng quốc tế về nhân quyền ở Việt Nam mà vào tháng 6-2014, tại kỳ họp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền LHQ, nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên bố ủng hộ và cam kết thực hiện. Trong số khuyến nghị được chấp thuận, có nhiều điều liên quan trực tiếp đến quyền tự do ngôn luận như: Thực thi hơn nữa các biện pháp nhằm thúc đẩy tự do biểu đạt và tự do truyền thông phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế tiến bộ nhất (Italy); Tiến hành các biện pháp cho phép tiếp cận cùng sử dụng Internet không hạn chế đối với mọi công dân, đồng thời đảm bảo tự do quan điểm và biểu đạt của mỗi người, cũng như tự do báo chí và truyền thông (Estonia); Dành không gian cho truyền thông phi nhà nước và làm cho các Điều 79, 88 và 258 Bộ luật Hình sự cụ thể hơn và nhất quán với các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế về tự do biểu đạt (Úc).


         2- Hội CTNLT và Hội AEDC lên án

         a- Nhà cầm quyền VN vì đã trắng trợn chà đạp Công pháp quốc tế, Luật pháp quốc gia, khinh thường nhân dân và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc khi đàn áp chương trình Lương Tâm TV. Họ đã vận dụng một thứ luật pháp được giải thích cách tùy tiện, được áp dụng cách rừng rú để áp đặt những tội danh vu vơ, hòng duy trì quyền lực độc tài toàn trị của đảng Cộng sản.

         b- Nhà cầm quyền Hà Nội và Công an quận Hai Bà Trưng vì đã hành xử một cách vô luật khi dùng những trò phi pháp, đê tiện (chặn bắt giữa đường, dàn dựng tai nạn giao thông, huy động một lực lượng đông đảo…) để cưỡng bức công dân đến đồn thẩm vấn, sau đó tịch thu mọi phương tiện làm việc của nhóm thực hiện, thậm chí còn tước đoạt cả tài sản riêng vài người đang mang theo.

         Đến khi vài chục thân hữu của họ tới đồn để ôn hòa phản đối chuyện bắt người trái phép thì cả trăm công an, dân phòng, bảo vệ (đa số mặc thường phục) lên tiếng chửi bới thô tục và đánh đập họ cách dã man. Nay thì công an tiếp tục theo dõi canh chừng và cưỡng bức Nhóm thực hiện đến đồn để hăm dọa, áp lực họ nhận tội và tìm lý cớ để hợp pháp hóa việc tịch thu phương tiện tác nghiệp và tài sản cá nhân của họ.

         Qua hành động đàn áp dân chủ mới nhất này, người ta thấy công an ngày càng giỏi nghiệp vụ của bọn thảo khấu chặn đường để ngang nhiên cướp bóc hơn là giỏi nghiệp vụ của người bảo vệ luật pháp chính đáng và che chở nhân dân vô tội.


         3- Hội CTNLT và Hội AEDC tuyên bố:

         a- Tiếp tục chương trình Lương Tâm TV trong sự hợp tác với nhiều tổ chức xã hội dân sự khác, vì đây là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, là cách thức sống theo lương tâm và truyền bá dân chủ của chúng tôi, là nhu cầu cấp thiết của mọi giới đồng bào VN đang phải từng ngày từng giờ gánh chịu một nền thông tin mang tính tuyên truyền, đầy dẫy dối trá, phục vụ sự thống trị của đảng và nhà cầm quyền Cộng sản chứ không phục vụ sự thật và thiện ích của đất nước.

         b- Đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN chấm dứt ngay sự sách nhiễu, hăm dọa đối với những người đã và đang thực hiện chương trình Lương Tâm TV, đồng thời trả lại trong nguyên trạng các phương tiện tác nghiệp của họ cũng như tài sản riêng của họ vốn đã bị tịch thu cướp đoạt.

         c- Kêu gọi đảng CSVN –giữa lúc đất nước đang rơi vào đủ thứ khủng hoảng, tệ nạn và thảm trạng từ chính trị tới kinh tế, dân sinh tới môi trường, văn hóa tới giáo dục, an ninh tới quốc phòng- hãy để tâm lắng nghe tiếng nói của nhân dân, xét đến thiện chí của phong trào dân chủ, công nhận sự đóng góp của các tổ chức xã hội dân sự, thay cho việc cấm cản tùy tiện, trấn áp dã man, bắt bớ điên cuồng.



         Việt Nam ngày 01-10-2015

         Hai tổ chức xã hội dân sự khởi xướng:

1.   Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi

2.   Hội Anh Em Dân Chủ: Ông Phạm Văn Trội, Ls. Nguyễn Văn Đài


         Các tổ chức xã hội dân sự ủng hộ:

3.      Hội Nhà Báo Độc Lập: Ts. Phạm Chí Dũng

4.      Bach Dang Giang Foundation; Ths. Phạm Bá Hải

5.      Giáo Hội Liên Hữu Lutheran Việt Nam – Hoa Kỳ: MS. Nguyễn Hoang Hoa

6.      Hội Bầu Bí Tương Thân: Ông Nguyễn Lê Hùng

7.      Tăng Đoàn GH PGVNTN: HT. Thích Không Tánh

8.      Hội Thánh Chuồng Bò: MS. Nguyễn Mạnh Hùng

9.      Hội Bảo vệ Quyền Tự do Tôn giáo: Cô Hà Thị Vân

10.  Giáo hội PGHH Thuần Túy: Ông Lê Quang Hiển

11.  Hội Phụ nữ Nhân quyền: Cô Huỳnh Thục Vy

12.  Phong trào Con đường VN: Ông Hoàng Văn Dũng

13.  Người Bảo vệ Nhân quyền VN: Ths. Vũ Quốc Ngữ.

14.  Sài Gòn Báo: LM. Lê Ngọc Thanh

15.  Hội Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc: Ông Huỳnh Trọng Hiếu

16.  Lao Động Việt; Cô Đỗ Thị Minh Hạnh

17.  Khối 8406: Ks. Đỗ Nam Hải

18.  Nhóm LM. Nguyễn Kim Điền: LM. Nguyễn Hữu Giải

19.  Hội Ái Hữu Tù nhân chính trị và tôn giáo: Ông Nguyễn Bắc Truyễn

20.  Cao Trào Nhân Bản: Bs. Nguyễn Đan Quế


Các cá nhân ủng hộ:

1.   Nhà báo Nguyễn Tường Thụy

2.   CTNLT Hoàng Hưng

3.   CTNLT Nguyễn Văn Túc

4.   CTNLT Phạm Thanh Nghiên

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

VNTB - Bản Lên tiếng về vụ án “Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn”



VNTB - Bản Lên tiếng về vụ án “Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn”




Kính gửi:


- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.


- Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các tổ chức tôn giáo khắp thế giới.


Đã hơn ba năm kể từ ngày xảy ra vụ Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn, một vụ án chính trị lớn nhất nước trong gần 30 năm qua. Phiên tòa sơ thẩm vụ này đã kết thúc tại tỉnh Phú Yên sau hơn một tuần lễ vào ngày 04-02-2013 với án chung thân dành cho ông Phan Văn Thu (tức Trần Công), 68 tuổi, nhân vật được coi là chủ chốt; 21 người còn lại bị tuyên những bản án nặng từ 10 tới 17 năm. Đến tháng 7-2014, nhà cầm quyền CSVN lại bắt thêm 3 người nữa. Tính cho tới nay, họ đã tống ngục 25 người trong vụ Bia Sơn với tổng hình phạt là một án chung thân, 309 năm tù giam và 110 năm quản chế. 22 người trong số này bị buộc tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 BLHS, 3 người còn lại bị khép vào tội danh “tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vật liệu nổ”!




Ông Phan Văn Thu vào sáng  4/2/2013 và bị TAND tỉnh Phú Yên tuyên phạt án chung thân. Ảnh: Tuổi Trẻ



Vụ án có số lượng năm tù khổng lồ này dù đã được sự quan tâm của công luận, nhưng phản ứng của thân thuộc các tù nhân lúc ấy lại xem ra yếu ớt. Nay thì họ đang mang tất cả hồ sơ vụ việc trình lên Tòa án Nhân dân tối cao để yêu cầu xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm (x. RFA 11-06-2015), đồng thời họ cũng kêu mời những ai yêu chuộng công lý và nhân quyền tiếp tục giúp đỡ và ủng hộ.


Trước sự việc oan sai trầm trọng này, các tổ chức xã hội dân sự độc lập ký tên dưới đây đồng thanh tuyên bố:

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Bản lên tiếng của các tổ chức xã hội dân sự độc lập tại VN - nhân kỷ niệm 40 năm biến cố 30-04-1975



Bản lên tiếng của các tổ chức xã hội dân sự độc lập tại VN - nhân kỷ niệm 40 năm biến cố 30-04-1975








Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
Kính thưa các chính phủ dân chủ và các cơ quan nhân quyền quốc tế.


Cách đây đúng 40 năm, ngày 30-04-1975, kết thúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc với bao tang thương đổ vỡ, chôn vùi một chính thể dù còn bất toàn nhưng vẫn có tự do no ấm, và mở đầu cho việc áp đặt chế độ cộng sản lên toàn thể đất Việt.

Nhìn lại những gì mà đảng và nhà cầm quyền Cộng sản đã làm trên đất nước VN từ sau ngày bi thảm và tang thương đó đến hiện tại, chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự độc lập trong nước, nhận định rằng đây là 40 năm áp đặt chế độ toàn trị và 40 năm tiêu diệt ý thức con người.

1- 40 năm áp đặt chế độ toàn trị.

Khác hẳn mọi chế độ độc tài trong lịch sử nhân loại (phát xít, quân phiệt, tài phiệt, giáo phiệt…) vốn chỉ chú trọng tới một hai khía cạnh của quốc gia xã hội, chế độ CSVN - như mọi chế độ CS khác - đều mang tính toàn trị, nghĩa là muốn quản lý hết mọi phương diện của đời sống xã hội lẫn cá nhân, từ vật chất đến tinh thần..

a- Toàn trị chính trị:

Đảng CSVN luôn muốn chỉ duy mình cai trị đất nước, không chấp nhận đảng đối lập. Nên sau khi chiến thắng, họ lập tức giam nhốt nhiều năm mọi quân, cán, chính của chế độ cũ và đảng viên các đảng phi Cộng sản; tiếp đến tiêu diệt gọn các nhóm phục quốc bắt đầu xuất hiện rồi còn tạo ra những tổ chức kháng chiến giả hòng gài bẫy người yêu nước. Để chính danh hóa và hợp pháp hóa quyền cai trị độc hữu của mình, Hiến pháp 1980, qua điều 4 (và các HP sau đó cũng vậy), khẳng định đảng CS là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Từ 1975 đến nay, các cá nhân hay tổ chức đòi đa nguyên đa đảng đều bị trấn áp tàn bạo. Tam quyền phân lập biến thành tam quyền phân công dưới sự chỉ đạo của đảng. Nhưng để tránh mang tiếng đàn áp chính trị, CS gọi các “tội chính trị” là tội hình sự, và dùng các điều 79, 88 và 258 Bộ luật Hình sự để trừng phạt “tội” này.

Hậu quả: toàn dân (trừ đảng viên) mất hết mọi quyền chính trị và dân sự, không thể tự chọn người lãnh đạo đất nước, cũng không thể tham gia quốc sự qua việc ứng cử vào quốc hội hay các hội đồng nhân dân. Bầu khí chính trị ngột ngạt, tù nhân chính trị đông đảo (theo thống kê mới nhất, hiện còn 105 tù nhân lương tâm), mọi đảng chính trị bị cấm tiệt. Và sự toàn trị chính trị này cũng là nguyên nhân gây ra các hậu quả kế tiếp.

b- Toàn trị kinh tế:

Năm 1976, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 254 xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản, tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh miền Nam, phá tan một nền kinh tế trù phú. Song song, đảng đuổi hàng vạn thị dân vùng chế độ cũ đi kinh tế mới để cướp đất cướp nhà. Hậu quả là đất nước đứng bên bờ vực thẳm phá sản, khiến năm 1986 đảng phải đề ra chính sách “Đổi mới”, cải cách kinh tế theo phương thức thị trường. Đời sống vật chất của dân phần nào nên dễ thở, nhưng đảng lại nhân cơ hội hóa thân thành tư bản đỏ. Nên HP 1992 (đ. 17-18) và Luật đất đai 1993 đưa ra khái niệm quái đản: “Mọi tài nguyên đất nước đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Quyền tư hữu đất đai bị bãi bỏ; người dân trở thành kẻ đi thuê của nhà nước, đang khi nhiều đảng viên sở hữu hàng trăm héc-ta ruộng vườn. CSVN đưa thêm khái niệm quái đản thứ 2: “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (mà cho tới nay chẳng ai có thể hình dung ra sao) với kinh tế nhà nước làm chủ đạo (HP 1992, đ. 15 và HP 2013, điều 51). Nhiều tổng công ty và đại tập đoàn được thành lập do đảng viên và thân thuộc nắm giữ nhưng rốt cuộc chỉ tham nhũng và thua lỗ, làm thiệt hại ngân sách quốc gia hàng vạn thậm chí hàng triệu tỷ đồng.

Hậu quả: sau 4 thập niên hòa bình, lợi tức đầu người VN năm 2014 chỉ là 1.028 USD (so với Singapore cùng khởi điểm thoát ách thuộc địa: 36.897 USD). Năng lực cạnh tranh của VN hiện đứng chót ASEAN. Mấy trăm ngàn doanh nghiệp tư phá sản. Nhà nước đi vay để trả lãi nợ công 3 tháng 1 tỷ đô; bình quân đầu người từ già đến trẻ phải gánh 1.000 đô nợ... Dân oan lên tới hàng triệu người, dở sống dở chết. Công nhân cũng hàng triệu người bị bóc lột tận xương tủy!

c- Toàn trị văn hóa:

Ngay sau khi toàn thắng, CS tịch thu phá hủy mọi sách văn học, nghệ thuật, lịch sử của VNCH, bỏ tù vô số văn nhân nghệ sĩ. Nhiều nhà văn phản kháng từng phục vụ chế độ cũng bị đọa đày. Mọi ngành văn học nghệ thuật đều phải đề cao chủ nghĩa, chế độ và đảng CS.

Toàn trị văn hóa đặc biệt thực thi trên lãnh vực giáo dục đại chúng và giáo dục học đường. CS cấm hẳn báo chí tư nhân, nắm hết báo chí các loại, dùng chúng không như phương tiện thông tin đơn thuần mà như công cụ tuyên truyền nhồi sọ công chúng, hướng dẫn lèo lái công luận, bắt nhân dân chỉ biết nói, nghĩ và làm theo mệnh lệnh của đảng. CS cũng tạo ra một đám “trí nô ký sinh” có học vị cao nhưng chỉ biết gian trá và ngụy biện để luôn bênh vực đảng. Tất cả chỉ nhằm cho nhân dân thấy đảng là thần công lý và nguồn sự thật. Giáo dục học đường bị chính trị hóa. Mọi hiệu trưởng đều là đảng viên, triết lý giáo dục là học thuyết Mác Lê và tư tưởng Hồ, không đào tạo giới trẻ thành công dân tự do và trách nhiệm cho đất nước nhưng thành thần dân tùng phục đảng và công cụ phục vụ đảng. Toàn trị văn hóa còn thực hiện qua việc đàn áp tôn giáo bằng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh (sách nhiễu, cấm cản, bỏ tù, cướp bóc, phá hoại) nhằm ngăn chận các giáo hội đưa vào quần chúng giáo lý đầy tính giải thoát và văn hóa đậm chất nhân bản của mình, ngõ hầu thuyết duy vật vô thần độc tôn thống trị.

Hậu quả: VN nay không có những tác phẩm văn chương, nghệ thuật giá trị; thành tựu khoa học (phát minh sáng kiến) hiếm hoi; trình độ học sinh, sinh viên, chuyên gia thấp kém. Cơ sở giáo dục thiếu thốn và bệ rạc; đạo đức học đường sa sút từ thầy đến trò, đầy bạo hành và gian dối; đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng: dửng dưng, bóc lột, giành giật, lừa đảo nhau; hối lộ tham nhũng, mua quan bán chức là chuyện bình thường; mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lễ hội nhếch nhác xuất hiện khắp nơi; người ta tự ru ngủ với những kỷ lục lớn, thành tích ảo.

d- Toàn trị xã hội:

Quyết không để lọt thành phần nào, giai tầng nào trong xã hội, CS tạo ra Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để quy tụ trong đó mọi tổ chức chính trị, kinh tế, dân sự. Mặt trận này hiện có 44 đoàn thể thành viên. Tất cả dưới sự chỉ đạo của đảng, thành phần lãnh đạo là người của đảng, nhắm mục đích tối cao: bảo vệ sự cai trị độc đoán và lâu dài của đảng. Và để việc toàn trị xã hội được bảo đảm, CS biến các lực lượng trong đất nước thành công cụ: quốc hội, tòa án, chính quyền, công an, tôn giáo quốc doanh. Quốc hội biến ý đảng thành lòng dân, xây dựng luật để bắt dân theo ý đảng. Chính quyền dùng nền hành chánh buộc dân tuân hành chính sách đường lối của đảng. Tòa án cấu kết với công tố và điều tra để khiến công lý luôn đứng về phía đảng. Công an làm thanh gươm bảo vệ đảng, không để thằng dân nào động tới quyền lực đảng. Tôn giáo quốc doanh dạy tín đồ luôn vâng lời đảng.

Hậu quả: toàn thể xã hội sống co ro dưới sự dòm ngó, theo dõi, kiểm soát của tai mắt đảng (MTTQ), chẳng còn ai dám bày tỏ ý kiến và tình cảm cách chân thật. Dân kiện người của đảng thì nắm chắc phần thua. Lấy cớ bảo vệ đảng, công an dân phòng đối xử với dân cách vô luật: sách nhiễu, hành hung, đàn áp. Ba năm nay, hơn 260 người chết đang khi bị tạm giam. Hành xử bạo lực của công an gieo giữa xã hội thói quen bạo lực. Người dân hiện chẳng được luật pháp che chở!