Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nguyễn Hưng Quốc - Nhà nước khủng bố



Nguyễn Hưng Quốc - Nhà nước khủng bố






image
Chính quyền đã huy động đông đảo tất cả các lực lượng để ngăn, vây bắt người biểu tình.





Theo dõi  cuộc biểu tình tại Sài Gòn và Hà Nội vào ngày Chủ nhật 8 tháng 5 vừa qua, ngoài niềm vui khi thấy rất đông người tham dự, tôi còn có một nỗi buồn nặng trĩu trong lòng khi thấy đám công an và thanh niên xung phong, sắc phục cũng như không sắc phục, đánh đập những người đi biểu tình một cách hết sức bất nhẫn. Đàn ông, thanh niên bị đánh, đã đành. Kể cả phụ nữ và trẻ em cũng bị đánh. Đánh xong, người ta kéo xềnh xệch những người biểu tình và vất họ lên xe buýt để chở về các đồn công an, ở đó, một số người còn bị đánh tiếp. Xem, tôi cứ ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao người ta đối xử với dân chúng một cách tàn bạo như vậy?

Trước đây, với các cuộc biểu tình chống các hành động gây hấn ngang ngược của Trung cộng, nhà cầm quyền mạnh tay dẹp thì cũng có thể hiểu được: Họ sợ làm Trung cộng nổi giận.




image




Nhưng cuộc biểu tình vào ngày 8 vừa qua, cũng như cuộc biểu tình vào ngày 1 trước đó, chỉ để đòi hỏi những điều rất ư hiền lành: cá sạch, biển sạch và môi trường sạch. Đó là những điều ảnh hưởng đến sức khoẻ của tất cả mọi người, hơn nữa, còn ảnh hưởng đến cả tương lai của dân tộc. Những đòi hỏi ấy rõ ràng là rất chính đáng, hoàn toàn phù hợp với những lời hứa hẹn của những người cầm quyền. Vậy tại sao lại đánh đập và bắt bớ những người biểu tình?

Lý do chính, theo tôi, chủ yếu là vị họ sợ.

Trước hết, họ sợ những đòi hỏi kế tiếp, đằng sau những đòi hỏi về cá sạch, biển sạch và môi trường sạch: Đó là những đòi hỏi về sự minh bạch và những chính sách liên quan đến môi trường của chính phủ. Sự kiện cá chết hàng loạt ở bốn tỉnh miền Trung, từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên-Huế, đã bắt đầu từ đầu tháng tư, vậy mà, đến nay, chính quyền vẫn chưa công bố nguyên nhân và phương án giải quyết. Trong khi chính quyền trung ương im lặng, chính quyền các địa phương thì lại bất nhất, lúc người ta khuyên không tiêu thụ hải sản, lúc người ta lại khuyên mọi người ăn tâm ăn tôm cá, thậm chí, như ở Đà Nẵng, người ta lại kêu gọi cán bộ ăn hải sản để làm gương cho dân chúng. Rồi người ta lại rủ nhau xuống biển tắm để chụp hình và đưa lên đài, lên báo. Để cứu ngành ngư nghiệp và du lịch, người ta bất chấp cả những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sức khoẻ của con người. Trong khi đó, cá vẫn tiếp tục chết. Lặn xuống đáy biển, người ta thấy các rạn san hô cũng chết. Và tôm cá cũng chết đầy dưới đáy biển.

Không phải chỉ thiếu minh bạch, chính sách của chính phủ, vốn chỉ biết tập trung vào phát triển kinh tế mà xem nhẹ môi trường cũng là một sai lầm. Môi trường không chỉ là một khái niệm trừu tượng và chung chung. Môi trường gắn liền với kinh tế. Trường hợp cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung là một ví dụ. Nó làm cho cả hàng chục ngàn gia đình ngư dân bị điêu đứng. Nó cũng làm cho ngành du lịch ở địa phương bị khủng hoảng trầm trọng. Đó là chưa kể đến sức khoẻ của con người. Bỏ lên bàn cân, liệu những cái lợi từ khu công nghiệp Vũng Áng có thể sánh được với những mất mát mà mọi người phải gánh chịu trước mắt cũng như trong tương lai?




image




Lý do thứ hai khiến chính quyền sợ biểu tình vì chính bản thân cái gọi là biểu tình. Biểu tình, bất kể xuất phát từ động cơ gì, tự bản chất, bao giờ cũng là một sự phản đối mang tính tập thể. Mà các chế độ độc tài toàn trị thì sợ mọi sự phản đối. Họ biết rõ quyền lực và quyền lợi của họ rất dễ bị lung lay trước những làn sóng phản đối của dân chúng. Hơn nữa, với bản chất lừa bịp, họ không muốn thế giới nhìn thấy những sự phản đối ấy. Hệ thống tuyên truyền của họ lúc nào cũng tô vẽ nên sự đồng thuận của dân chúng đối với sự cai trị độc tài và độc đoán của họ.

Họ không những sợ biểu tình; họ còn sợ chữ “biểu tình”. Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, khi bị buộc phải nhắc đến các cuộc biểu tình trong nước, họ đều dùng chữ “tụ tập đông người”. Chỉ là “tụ tập” chứ không phải là biểu tình, tức không phải phản đối.




image




Lý do thứ ba là người ta sợ việc dân chúng ý thức về những cái quyền của họ và cương quyết đòi thực thi những cái quyền ấy. Độc tài nào cũng chà đạp lên các quyền làm người và quyền làm dân của mọi người. Khi dân chúng nhận thức ra các quyền của họ, họ sẽ không còn ngoan ngoãn nghe lời chính quyền nữa. Bằng cách này hay cách khác, họ sẽ lên tiếng và bày tỏ thái độ. Hôm nay người ta có thể yêu sách cá sạch, biển sạch và môi trường sạch, ngày mai, họ có thể yêu sách dân chủ, đa đảng và nhân quyền. Hôm nay chỉ có mấy ngàn người đổ xô xuống đường, ngày mai có thể cả hàng chục ngàn, rồi hàng trăm ngàn, rồi có thể có cả hàng triệu người xuống đường. Sức mạnh của các cuộc biểu tình nằm ở số đông. Khi cả mấy trăm ngàn người biểu tình, không có tên bạo chúa nào dám ra lệnh bắn vào dân chúng. Mà có ra lệnh, công an và quân đội cũng không dám làm. Tấm gương về sự sụp đổ của các chế độ độc tài ở Đông Âu và Trung Đông cho thấy điều đó.




image




Những nỗi sợ hãi ấy khiến chính quyền thẳng tay trấn áp những người xuống đường biểu tình một cách ôn hoà. Từ sự sợ hãi của họ, họ muốn dân chúng cũng sợ hãi, không dám xuống đường nữa. Khi gieo rắc sự sợ hãi như thế, họ biến thành khủng bố.

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Nguyễn Hưng Quốc - Đấu đá trước Đại hội đảng



Nguyễn Hưng Quốc - Đấu đá trước Đại hội đảng





'Tứ trụ' từ phải: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang. Nguồn: Reuters.
‘Tứ trụ’ từ phải: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang. Nguồn: Reuters.





Đối với giới quan sát chính trị Việt Nam, một trong những điều “hấp dẫn” nhất trước các Đại hội của đảng Cộng sản là vấn đề dàn xếp nhân sự ở bốn chiếc ghế cao nhất (thường được gọi là “tứ trụ”): Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng, trong đó, quan trọng nhất là chiếc ghế Tổng Bí thư. Vấn đề ấy càng “hấp dẫn” ở kỳ đại hội lần này. Lý do là tất cả những người trong “tứ trụ” hiện nay đều đã đến tuổi về hưu. Muốn được ở lại, người ta phải tranh thủ sự đồng ý và đồng tình của Bộ Chính trị hoặc/và Ban Chấp hành Trung ương đảng để được xem là thuộc trường hợp “đặc biệt”. Ai sẽ được hưởng chế độ “đặc biệt” ấy? Dư luận nhắm vào hai người: Nguyễn Phú Trọng (72 tuổi) và Nguyễn Tấn Dũng (67 tuổi). Cuộc đấu đá giữa hai người để giành chiếc ghế Tổng Bí thư càng ngày càng gay gắt.

Xin nói ngay là nội dung các cuộc hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản trong thời gian vừa qua hoàn toàn nằm trong bí mật. Khác với các kỳ đại hội trước, việc đấu đá trong nội bộ đảng không bị rò rỉ ra ngoài. Tuy nhiên, riêng cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng lại vượt ra ngoài phạm vi hội nghị nên chúng ta có thể biết khá rõ.

Nói là cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng, nhưng, trên thực tế, chúng ta chỉ thấy một phe tấn công: Nguyễn Phú Trọng. Riêng phía Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta chỉ thấy phần đỡ đòn.

Để ngăn chận việc Nguyễn Tấn Dũng lên làm Tổng Bí thư, phe Nguyễn Phú Trọng sử dụng hai chiến thuật chính:

Thứ nhất, đề ra những tiêu chí mới cho chức Tổng Bí thư với hy vọng có thể loại được Nguyễn Tấn Dũng. Trong các tiêu chí ấy, có ba tiêu chí chính: Một, phải là người miền Bắc; hai, phải là người có lý luận; và ba, không có tham vọng quyền lực.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ là ba tiêu chí ấy có thể được đông đảo các uỷ viên Trung ương đảng chấp nhận.

Chiến tranh đã chấm dứt hơn 40 năm mà vẫn còn kỳ thị Nam Bắc là điều hoàn toàn phi lý. Vả lại, tuy sinh ở miền Nam, Nguyễn Tấn Dũng lại tham gia “cách mạng” từ nhỏ nên ông không hẳn là người miền Nam theo nghĩa Việt Nam Cộng Hoà trước đây. Còn về lý luận, hầu như tất cả các uỷ viên Trung ương đảng, đặc biệt, uỷ viên Bộ Chính trị, đều phải trải qua các khoá học về lý luận cao cấp do đảng tổ chức. Hơn nữa, vai trò của Tổng Bí thư không phải nằm ở việc thuộc lòng các quan điểm căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là người lãnh đạo cao nhất trong một đảng cầm quyền, điều quan trọng nhất ở một tổng bí thư là viễn kiến, tầm nhìn chiến lược và khả năng tổ chức.

Riêng tiêu chí thứ ba, về tham vọng quyền lực thì hoàn toàn vô nghĩa. Chính trị, tự bản chất, là quan hệ quyền lực. Dấn thân vào chính trị, không có người nào là không có tham vọng quyền lực. Đó là điều tự nhiên. Tham vọng ấy, tự nó, không có gì sai trái cả. Ở Tây phương, người ta còn xem đó là một tính tốt. Phê phán nhau, người ta chỉ phê phán việc thiếu tham vọng chứ không ai lại phê phán người khác là có tham vọng quyền lực. Điều phân biệt người này với người khác không phải là tham vọng mà là cách hành xử sau khi đã đạt được tham vọng ấy. Có người cố gắng thực hiện cho được những chính sách mình ấp ủ nhưng cũng có người chỉ lo vơ vét quyền lợi cho bản thân và gia đình. Thế thôi.

Chiến thuật thứ hai là sử dụng các đơn tổ cáo nhắm vào Nguyễn Tấn Dũng. Ngoài các lá đơn nặc danh, có nhiều lá đơn ghi rõ tên tuổi người gửi, trong đó, có những người vốn là uỷ viên Trung ương (Trịnh Văn Lâu), thậm chí, có người còn là cựu uỷ viên Bộ Chính trị (Phan Diễn). Nội dung các lá đơn ấy khá giống nhau. Chúng tập trung vào ba điểm chính:

Một, về lý lịch gia đình, người ta nhắm đến sui gia của Nguyễn Tấn Dũng: Bố chồng của Nguyễn Thanh Phượng, con gái của Nguyễn Tấn Dũng, là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà và từ năm 1975, sống ở Mỹ. Người ta nghi ngờ bố chồng của Nguyễn Thanh Phượng, ông Nguyễn Bá Bang, trước đây không phải chỉ là một sĩ quan thường như bao nhiêu sĩ quan khác mà còn có thể là một tình báo của Mỹ nên mới được Mỹ đưa sang Mỹ ngay từ tháng 4, 1975. Với vai trò đó, cũng như trong quan hệ sui gia với Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Bá Bang có thể là sợi dây nối cho các “âm mưu diễn biến hoà bình” tại Việt Nam. Ngoài ra, người ta cũng tố cáo là Nguyễn Thanh Phượng hiện mang quốc tịch Mỹ (tin này đã được nhiều người cải chính là không phải).

Với một gia đình phức tạp như thế, người ta cho Nguyễn Tấn Dũng không thích hợp với vị trí Tổng Bí thư, nơi, theo truyền thống, cần phải có lý lịch rõ ràng và phải trung thành tuyệt đối đối với chủ nghĩa Mác-Lênin. Xin lưu ý là bên cạnh việc phanh phui lý lịch gia đình của Nguyễn Tấn Dũng, suốt mấy tháng vừa qua, người ta cũng tung tin đồn là, nếu lên làm Tổng Bí thư, Nguyễn Tấn Dũng sẽ nắm luôn chức Chủ tịch nước, tự biến mình thành Tổng thống và dần dần chấp nhận đa đảng. Tin đồn ấy có vẻ như “tốt” cho Nguyễn Tấn Dũng, thực tế lại làm các đảng viên Cộng sản lo ngại, từ đó, xa lánh Nguyễn Tấn Dũng, xem Nguyễn Tấn Dũng như một đe doạ đối với chế độ.

Hai, về kinh tế, người ta tố cáo sự giàu có bất thường của các thành viên trong gia đình xa gần của Nguyễn Tấn Dũng. Không những con gái ông giàu, cực giàu, mà các anh chị em của ông, hơn nữa, của em vợ và em rể của ông, tất cả đều giàu có. Tại sao họ lại giàu nhanh đến như vậy? Đặt câu hỏi như vậy, một cách gián tiếp, người ta cho là Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lợi dụng quyền thế để thân nhân làm giàu một cách bất chính.

Ba, người ta tập trung vào việc phê phán các “thành tích” xấu của Nguyễn Tấn Dũng trong hai nhiệm kỳ làm thủ tướng: Chính ông là người chịu trách nhiệm chính cho việc phá sản của các đại công ty quốc doanh như Vinashin và Vinalines. Chính ông là người chịu trách nhiệm cho sự phát triển trì trệ của của Việt Nam với số nợ công ngày càng chồng chất. Chính ông là người có quan hệ mật thiết với các “nhóm lợi ích” làm lũng đoạn kinh tế Việt Nam. Cũng chính ông là người đã phát biểu câu “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hoà bình, hữu nghị viển vông” làm cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở thành căng thẳng và xấu đi.

Trước những đòn tấn công ấy, Nguyễn Tấn Dũng viết một bức thư gửi Nguyễn Phú Trọng, Bộ Chính trị cũng như cho cả Ban Chấp hành Trung ương đảng để thanh minh, trong đó, quan trọng nhất, ông khẳng định: “TÔI KHÔNG XIN TÁI CỬ” (viết hoa trong bức thư). Bản gốc của bức thư ấy (với con dấu màu đỏ) được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn mạng.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước



Nguyễn Hưng Quốc - Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước






Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.
Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.




Trong bài “Vietnam’s rising repression”, đăng trên tờ New Mandala mới đây, giáo sư Zachary Abuza, một nhà Đông Nam Á học, cho rằng những sự đàn áp của chính quyền Việt Nam đối với những người bất đồng chính kiến càng lúc càng gia tăng và càng lúc càng tinh vi. Ông tóm tắt những sự đàn áp ấy vào năm chiến thuật chính:

Thứ nhất, trấn áp những luật sư thường đứng ra bảo vệ và bào chữa cho những người đối kháng bị chính quyền bắt giữ và đem ra xét xử. Tiêu biểu nhất cho những luật sư này là Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài và Võ An Đôn.

Thứ hai là sử dụng những tội danh khác, phổ biến nhất là tội danh trốn thuế, để đánh lạc hướng dư luận là ở Việt Nam không hề có tù nhân lương tâm.
Thứ ba là sử dụng công an chìm để hành hung những nhà hoạt động dân chủ và những người hay lên tiếng phê phán chế độ, kể cả các nhà báo đang tiến hành các cuộc điều tra việc công an đàn áp dân chúng. Theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền, riêng trong năm 2014, đã có tới 14 nhà báo bị hành hung.

Thứ tư là gia tăng kiểm duyệt trên mạng lưới internet. Việt Nam được xem là quốc gia có hệ thống kiểm duyệt truyền thông khắt khe nhất thế giới.

Cuối cùng, thứ năm là tập trung bóp chết những trang blog có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.

Theo tôi, trong năm chiến thuật được Zachary Abuza nêu lên ở trên, hai chiến thuật sau cùng có thể được gộp làm một: Trấn áp những tiếng nói đối kháng trên mạng lưới internet. Có ba hình thức trấn áp chính: Một là dựng tường lửa, đặc biệt với các trang web đặt trụ sở ở hải ngoại; hai là dùng tin tặc để tấn công các trang web thù nghịch; và ba là bắt bớ những blogger có nhiều ảnh hưởng như trường hợp của Trương Duy Nhất (2 năm tù), Phạm Viết Đào (15 tháng tù), Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh (bị bắt ngày 5 tháng 5 năm 2014, chưa xét xử) và Nguyễn Quang Lập (bị bắt và tạm giam 2 tháng, đã thả).

Ngoài các chiến thuật mà Zachary Abuza nêu trên, tôi nghĩ còn một chiến thuật khác chính quyền Việt Nam gần đây sử dụng nhiều để đàn áp những người bất đồng chính kiến: Trục xuất họ ra khỏi đất nước, chủ yếu là đẩy họ sang Mỹ. Cho đến nay, họ đã trục xuất bốn người: nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ (ngày 23 tháng 2 năm 2011), luật sư Cù Huy Hà Vũ (ngày 7 tháng 4 năm 2014), blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (ngày 21 tháng 10 năm 2014) và gần đây nhất, blogger Tạ Phong Tần (ngày 19 tháng 9 năm 2015).

Việc đưa các nhà bất đồng chính kiến từ nhà tù đi thẳng sang Mỹ có ba lợi ích cho họ: Một là đáp ứng được các yêu sách từ phương Tây, chủ yếu là từ Mỹ; hai là chứng tỏ họ có tinh thần nhân đạo, và ba là để vô hiệu hoá những nhà bất đồng chính kiến ấy. Hai lợi ích đầu tương đối dễ thấy. Tôi chỉ xin phân tích lợi ích thứ ba.

Trên nguyên tắc, sống ở nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, các nhà bất đồng chính kiến ấy sẽ được tự do hơn. Họ muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, không ai cấm cản được họ cả. Hơn nữa, họ cũng được sự ủng hộ của nhiều người trong cộng đồng, nhờ thế, họ dễ tập hợp thành một lực lượng với những tầm vóc nhất định. Nhưng tự do cũng là một con dao hai lưỡi. Lưỡi kia của tự do là: người ta mất tư cách nạn nhân, những người bị đày ải trong lao tù của bạo chính. Mất tư cách nạn nhân, người ta cũng mất cả tư cách là anh hùng bởi anh hùng chỉ được thể hiện trong điều kiện đối diện với thử thách và đặc biệt, với sự áp bức. Sống ở hải ngoại, tự do phơi phới, không ai có thể anh hùng hơn ai được. Khái niệm anh hùng của những người bất đồng chính kiến trở thành một thuộc tính của quá khứ, một thứ vang bóng một thời. Hơn nữa, sống ở nước ngoài, người ta cũng mất cả tư cách chứng nhân; tiếng nói của họ, do đó, cũng mất sức nặng của người trong cuộc.

Nói cách khác, mất cả ba tư cách nạn nhân, anh hùng và chứng nhân, người ta mất tất cả. Họ trở thành bình thường như bao nhiêu người bình thường khác. Họ lại thua những người bình thường khác ở chỗ: Họ ra ngoại quốc muộn hơn, gặp nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập vào cuộc sống mới hơn, bởi vậy, với một mức độ nào đó, họ cũng mất thế giá hơn. Đó là chưa kể trong môi trường tự do ở hải ngoại, người ta rất dễ bộc lộ những sự nghi ngờ hay đố kỵ nhắm vào những người mới từ Việt Nam sang: Họ là “tay sai” hay “sứ giả” của Việt Cộng sang phá hoại cộng đồng. Trường hợp của Nguyễn Chí Thiện trước đây là một ví dụ. Lúc còn trong nước, ông là một nhà thơ anh hùng; sang Mỹ, ông chỉ còn là một nhà thơ. Không những vậy, ông còn đối diện với những tin đồn thất thiệt, trong đó, có tin đồn ông chỉ là một Nguyễn Chí Thiện… giả.

Trong bài “Chuyện Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ” đã đăng trên blog này năm ngoái, tôi có nêu lên kinh nghiệm của nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Lúc còn ở trong nước, các tác phẩm văn học cũng như các bài viết về chính trị của Dương Thu Hương được đón nhận nhiệt liệt. Từ năm 2006, bà sang sống hẳn ở Pháp. Sống ở đâu thì Dương Thu Hương cũng vẫn là Dương Thu Dương thôi. Vẫn thông minh, sắc sảo, thẳng thắn và tài hoa. Không có gì thay đổi. Nhưng rõ ràng là sự tiếp nhận của những người chung quanh, từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng quốc tế, đã thay đổi: Bà chỉ còn là một nhà văn chứ không phải nhà văn đối kháng nữa. Với bà, người ta hờ hững dần. Và bà cũng im lặng dần.
Mà không phải chỉ có Dương Thu Hương. Lớn hơn Dương Thu Hương rất nhiều, nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn chương năm 1970, bị trục xuất khỏi Nga vào năm 1974; và sau một thời gian ngắn sống ở Tây Đức và Thụy Sĩ, ông được mời sang Mỹ. Ông định cư ở Mỹ cho đến năm 1994, khi chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Nga, ông mới về nước. Trong gần 20 năm ở Mỹ, Solzhenitsyn chỉ sống một cách lặng lẽ ở một địa phương khuất lánh heo hút. Trừ sự ồn ã ở vài năm đầu, sau đó, dường như người ta quên mất ông, hơn nữa, có khi còn bực bội vì ông. Một số quan điểm của ông, lúc còn nằm trong nhà tù Xô Viết, được xem là dũng cảm; lúc đã sống ở Mỹ, ngược lại, lại bị xem là cực đoan.

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng


Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng





Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.
Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.




Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốn Võ Phiến(2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.


Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.


Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.


Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.


Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.


Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”


Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:


Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.


Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.


Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.


Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.


Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.


Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.


Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ - đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.


Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.


Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.


Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.

Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.


Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.


Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.


Võ Phiến

Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.


“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?”


Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”


Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!”


Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:


“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”


Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”


Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” 

Rồi ông lại hỏi:


“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”


Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”


Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”


Im lặng một lát, ông lại hỏi:


“Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”


Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”


Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”
“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”


“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”


“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”


“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”


Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.


Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:


“Quốc thân,


Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.


Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”


Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:


  • - Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
  • - Dạ, cháu đang ở Úc.
  • - Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
  • - Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
  • - Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
  • - Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
  • - Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
  • - Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
  • - Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
  • - Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
  • - Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
  • - Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
  • - Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Mất cảnh giác


Nguyễn Hưng Quốc - Mất cảnh giác






Tap Can Binh-noi tai My.jpg




Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên - Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.