Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

LỄ TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN



LỄ TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN


October 3, 2015




DAN_1616
Buổi tưởng niệm nhà văn Võ Phiến, một trong những đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại, do Nhật Báo Người Việt tổ chức, đã diễn ra trong không khí trang nghiêm tại Phòng số 1, Peek Family Funeral Home vào trưa Thứ Bảy, 3 Tháng Mười, với sự tham dự của gia đình, bạn bè, độc giả, đồng hương Bình Định, và nhiều người thuộc giới văn nghệ sĩ.



Hinh cho bao (1)
Bà Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến bên cạnh vòng hoa chia buồn của giáo sư Nguyễn Huệ Chi và trang Bauxit VN.



DAN_1619
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Nhã Ca và nhà thơ Trần Dạ Từ đang chia buồn với bà Viễn Phố ( phu nhân nhà văn Võ Phiến )



DAN_1638
Nhà báo Bùi Bỉnh Bân và nhà báo Bùi Bảo Trúc thắp nhang viếng nhà văn Võ Phiến



DAN_1643
Thị trưởng thành phố Westminster, ông Trí Tạ và phu nhân thắp nhang viếng.



DAN_1784
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người điều hợp chương trình, đã nêu những nét chính về thân thế và sự nghiệp của nhà văn Võ Phiến ngay trong lời mở đầu.



DAN_1790
Thị trưởng thành phố Garden Grove, ông Bảo Nguyễn thắp nhang viếng.



DAN_1751
Nhà thơ Du Tử Lê thì cho rằng, “Nhà văn Võ Phiến là một trong rất ít nhà văn miền Nam xuất hiện trong tinh thần một kẻ sĩ sống giữa hoàn cảnh chia cắt bất hạnh của đất nước…



DAN_1716
Trong phần phát biểu của mình, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa nhận xét, “Nếu một tác phẩm lớn là một tác phẩm khiến chúng ta đọc, rồi đọc lại, đọc lại mãi mà vẫn thấy hay theo thời gian, nhất là với trình độ, kinh nghiệm, sự bầm dập của đời sống chúng ta càng thấy hay về cả học thuật lẫn nghệ thuật, thì tác phẩm Võ Phiến được xếp vào hàng những tác phẩm lớn.”



DAN_1736
Giám sát viên Andrew Đỗ tặng bằng tưởng niệm nhà văn Võ Phiến cho ông Đoàn Giao Liên, con trai trưởng của nhà văn Võ Phiến.



DAN_1767
Vợ chồng nghệ sĩ Nga Mi-Trần Lãng Minh hát bài “Bèo dạt mây trôi” để thương tiếc trong buổi tưởng niệm.



DAN_1770
Những giọt nước mắt đau buồn của bà Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến.



DAN_1781
Thay mặt gia đình, ông Đoàn Giao Liên, con trai trưởng của nhà văn Võ Phiến, nói lời cám ơn cùng ban tổ chức và tất cả mọi người tham dự đã “dành một buổi tưởng niệm trang trọng, xúc động cho nhà văn Võ Phiến.”



Hinh cho bao (2)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng


Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, những lần gặp sau cùng





Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.
Nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.




Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốn Võ Phiến(2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.


Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.


Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.


Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.


Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.


Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”


Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:


Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.


Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.


Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.


Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.


Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.


Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.


Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ - đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.


Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.


Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.


Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.

Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.


Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.


Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.


Võ Phiến

Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.


“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?”


Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”


Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!”


Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:


“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”


Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”


Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” 

Rồi ông lại hỏi:


“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”


Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”


Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”


Im lặng một lát, ông lại hỏi:


“Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”


Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”


Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”
“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”


“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”


“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”


“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”


Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.


Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:


“Quốc thân,


Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.


Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”


Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:


  • - Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
  • - Dạ, cháu đang ở Úc.
  • - Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
  • - Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
  • - Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
  • - Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
  • - Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
  • - Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
  • - Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
  • - Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
  • - Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
  • - Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
  • - Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Hoàng Thanh Trúc - Ba ơi! Con không hiểu?


Hoàng Thanh Trúc - Ba ơi! Con không hiểu?









Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Buổi chiều, đang tưới mấy giỏ lan trước sân nhà, con gái tôi 17 tuổi học lớp 12 từ trường về nắm tay tôi kéo vào phòng khách vừa mở cặp vừa thuật lại. Trong tiết học văn chiều nay thầy gọi con lên nói nhỏ: "tan trường đợi thầy tại lớp". Cuối giờ chiều, trong lớp chỉ con và thầy, ngồi đối diện nhìn con đôi mắt thầy lung linh lạ lắm, lần đầu tiên trong suốt niên học rất thân ái thầy nhẹ cầm bàn tay trao lại cho con bài kiểm tra môn văn ngập ngừng nói nhỏ đủ cho con nghe:


"Thầy rất muốn cho em điểm 9 bài văn này, nhưng không thể, không có gì là phạm quy nhưng không nên cho ai biết, em về viết lại bằng nội dung khác, ngày mai nộp lại cho thầy"


Bối rối con cất vội vào cặp cám ơn thầy, bất giác thầy hỏi con: "gợi mở từ đâu em làm bài này?" con nói: từ Lễ duyệt binh Đại Thắng 30 tháng 4 vừa qua, thầy không nói thêm chỉ gật đầu mỉm một nụ cười rất khó tả, mà không thể nào con hiểu nổi, bước ra khỏi lớp con còn nhìn lại thấy thầy vẫn ngồi đó có thêm điếu thuốc trên môi, nhìn ra cửa sổ đôi mắt trầm tư...


Con gái tôi nói, Ba biết không, tuần trước, kiểm tra môn văn học kỳ cuối khóa và cũng để mở rộng thêm kiến thức nghệ thuật phản biện cho học sinh trước hai kỳ thi tốt nghiệp và đại học, một đề bài rất khó cho toàn lớp mà mỗi học sinh phải viết lên ý tưởng của riêng mình, đề tài là một câu hỏi:


“Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)...?”


Con tôi lấy từ trong cặp đưa tôi xem bài làm của nó và cười cười nói: Cái này không phải lỗi tại con mà là tại ngày lễ 30 tháng 4 à nghen, con làm bài theo quan niệm quần chúng, nó xin phép đi thay đồ bỏ lại tôi ngồi một mình với “tác phẩm” của nó như vầy:






Trên quê hương sau 40 năm Thống Nhất còn đó tương phản đoạn trường!? - (Ảnh minh họa)



Lê Trần Thu Nguyệt - Lớp 12/A4 - Trường THCS III - Quận... TP/HCM


Môn Văn Học - Đề bài: “Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào đôi khi có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)...?”


Bài Làm


Sáng ngày 30 tháng 4 - Trôi theo dòng người tấp nập Tôi ngược lên cầu Thị Nghè rẽ trái đường Nguyễn Bỉnh Khiêm định vào đại lộ Lê Duẩn xem lễ duyệt binh chào mừng “Đại Thắng”, nhưng đến trước thảo cầm viên là cảnh sát công an ách lại kiểm ra, chỉ có giấy mời mới vào được khu vực trung tâm hành lễ.


Lỡ đi rồi biết làm sao, đứng bên lề đường trưa nắng như thiêu đốt, một chiếc xe bus quân đội đời mới dừng lại mở cửa hơi lạnh từ trong xe hắt ra mát rượi nhiều người đứng tuổi trên xe bước xuống, quân phục “Giải Phóng Quân” mới tinh một màu xanh lá với huân, huy chương lủng lẳng đầy ngực xếp hàng đủng đỉnh oai vệ đi sau người cầm cờ hướng vào khán đài.


Khát nước, bước qua bên kia đường mua ly nước mía, mắt tôi chợt dừng lại dưới đất cách vài bước chân ngồi bên cột đèn đường hứng cái nắng chói chang gay gắt là một bóng người lớn tuổi đen đúa cụt cả đôi chân cái nón vải sùm sụp trên đầu và chiếc áo rằn ri lá cây rừng bạc màu nắng gió trước mặt là cái lon sắt cũ kỹ đựng tiền lẽ.


Cầm ly nước mía tự nhiên đôi chân tôi bước lại, ngồi xuống 2 tay bê ly nước tôi ngỏ lời: Thưa, cho cháu mời bác ly nước và cũng không quên bỏ vào cái lon sắt tờ bạc mười ngàn đồng, ngạc nhiên bên trong cái lon sắt nằm chèo queo là cái huy chương bằng kim loại cũ mèm, tôi cầm lên ngắm nghía hỏi khẽ: bác là thương binh? Bác ấy cười móm mém: Thưa cô, tôi là phế binh chế độ cũ QL/VNCH, cái huy chương đó là “Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” kỷ niệm trận ĐăkTô, Tân Cảnh.


Đứng ở đây xa quá không xem được gì nhiều. Tôi mua vé vào Thảo Cầm Viên kề bên, ngồi trên thảm cỏ xanh dưới bóng cây trốn cái nắng mang theo trong lòng một thứ gì đó nằng nặng, không dưng tự nhiên bỗng thấy vương vấn một thoáng ngậm ngùi...


Rồi tự hỏi: Sao cũng là người Việt Nam cũng chiến binh như nhau nhưng ngày “đại thắng” thống nhất non sông, dân tộc chứng kiến 2 số phận “Vinh Nhục” đôi đường tương phản đến não lòng như vậy?.


Rồi như tự trả lời cho chính mình: Nếu ngày xưa sau khi bị chia đôi 2 miền đất nước vào năm 1954 sao Miền Bắc, Bác Hồ không làm như miền Nam là “tuyên chiến” nhưng tuyên chiến với đói nghèo lạc hậu với nhược tiểu của một quốc gia vừa thoát tròng 100 năm nô lệ, 2 miền Bắc Nam cùng thi đua nhau, Sài Gòn ông Ngô Đình Diệm thì dựa vào viện trợ của Mỹ và các nước tư bản để phát triển cùng nhịp điệu với các quốc gia Đông Nam Á. Hà Nội thì ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô, Trung Quốc và khối Đông Âu viện trợ xây dựng lại miền Bắc sau cơn đói tang thương Ất Dậu, chưa cần thiết phải tuyên chiến đánh nhau và với vị trí đắc địa nhìn ra Biển Đông trên “đại lộ” hàng hải quốc tế thì sau hơn 60 năm (kể từ 1954) nếu sáng suốt và khôn khéo thì hôm nay chí ít 2 miền Bắc Nam đã như là Hàn Quốc - Đài Loan hay Singapore, kinh tế phát triển bao nhiêu thì xã hội kiến thức văn minh con người cũng cao theo chừng ấy và lúc này sau bao nhiêu năm, là lúc người dân 2 miền sẽ biết phải làm như thế nào để tương thích với tầm cao trí tuệ, để nhân danh nhân quyền nhất trí bằng một cuộc biểu quyết thống nhất trong êm đềm văn minh như Đông và Tây Đức trước kia và sẽ bầu tổng thống và Quốc Hội mà nhân sự là tổng hợp nhân tài trộn lẫn của cả 3 miền Trung Nam Bắc trong công bằng quang minh chính trực.


Và như vậy là hoàn toàn không có mấy triệu người, một thế hệ thanh niên rường cột quốc gia nằm xuống, không có biết bao cảnh tang thương đoạn trường do khói lửa chiến tranh bom đạn từ nước ngoài mang vào gây ra và quan trọng là đôi khi qua cuộc bầu cử thống nhất bởi trí tuệ văn minh nhân quyền đích thực của toàn dân phát triển qua 60 năm không bị chiên tranh hôm nay có thể Việt Nam không phải là một nước CS/XHCN mà được toàn dân chọn lựa là một quốc gia đa nguyên tự do dân chủ như đa phần các quốc gia trong LHQ hiện nay và vì vậy chắc chắn không có hình ảnh ngày lễ “Thống Nhất” duyệt binh mà có Bác thương binh QL/VNCH miền Nam ngồi bên vệ đường nắng bụi cùng cái huy “Anh Dũng Bội Tinh” và nhất là sẽ có gần trăm triệu người cùng chung vui chứ chẳng có triêu người nào buồn…


Tóm lại có rất nhiều thứ, nhưng một thứ lớn nhất “có thể sẽ làm cho xã hội tốt hơn rất nhiều so với ngày nay, nếu không có cuộc chiến tranh phát xuất từ miền Bắc vào miền Nam” gây ra.

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Thư ngỏ về sự vi phạm Tự do học thuật trong vụ thu hồi bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan


Thư ngỏ về sự vi phạm Tự do học thuật trong vụ thu hồi bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan



Thu ngo.jpg
(Hình minh họa)


THƯ NGỎ
Về sự vi phạm Tự do học thuật trong vụ thu hồi bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan


Chú ý: Để ký tên vào lá thư ngỏ này, bạn vui lòng gửi thông tin tới academicfreedomvn@gmail.com bao gồm số điện thoại để kiểm tra danh tính, số điện thoại của bạn sẽ không công bố trong thư ngỏ.


Kính gửi:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chúng tôi, những người quan tâm về giáo dục Việt Nam ký tên dưới đây, cực lực phản đối việc thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của bà Đỗ Thị Thoan và ủng hộ các đồng nghiệp trong cộng đồng giáo dục và nghiên cứu Việt Nam trong việc đòi hỏi hủy bỏ quyết định này.

Luận văn của bà Đỗ Thị Thoan, “Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”, đã được hội đồng chấm luận văn của Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội cho điểm 10/10 vào năm 2010, nhưng bốn năm sau bỗng bị thẩm định lại bởi một hội đồng khác một cách thiếu minh bạch. Bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan bị thu hồi theo Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11/03/2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14/03/2014. Tác giả luận văn và người hướng dẫn không được cho cơ hội để phản biện. Lý do dẫn đến các quyết định này không được công bố, và nhất là không có bằng cớ nào chứng tỏ luận văn đã có sai phạm đáng kể về học thuật. Có dấu hiệu là đã có sự can thiệp với động cơ chính trị, phi học thuật, nhằm tạo áp lực để Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thu hồi văn bằng. Thư yêu cầu giải thích của bà Đỗ Thị Thoan không được trường trả lời thích đáng.

Những hành động trên đã:

- trực tiếp vi phạm qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (điều 22, Quyết định 33/2007/QĐ-BGDĐT), theo đó thì văn bằng chỉ có thể thu hồi nếu phát hiện hành vi gian lận, cấp cho người không đủ điều kiện, do người không có thẩm quyền cấp, đã tẩy xóa sửa chữa, hoặc đã để người khác sử dụng.

- đi ngược lại những nguyên tắc công lý căn bản, không cho tác giả luận văn và người hướng dẫn có cơ hội để phản biện, không công bố rõ ràng các lý do, luận cứ, bằng chứng, hồ sơ liên hệ đến việc tái xét và thu hồi

- vi phạm nghiêm trọng quyền tự do học thuật. Nhà bác học Einstein đã nói: “giới hạn tự do học thuật bất cứ cách nào sẽ cản trở sự phổ biến kiến thức trong dân chúng và do đó sẽ ngăn trở khả năng suy xét và hành động của quốc gia”. Các đại học chỉ có thể đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển của đất nước nếu các giảng viên và sinh viên có quyền nghiên cứu bất cứ đề tài nào. Công trình của họ phải được đánh giá trên các tiêu chuẩn học thuật, bởi những nhà chuyên môn có thẩm quyền. Bằng cấp chỉ có thể bị thu hồi trong trường hợp ứng viên đã phạm những lỗi nghiêm trọng về học thuật như đạo văn, ngụy tạo dữ liệu, nhờ người viết giùm.

Vì những lý do trên, chúng tôi yêu cầu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hủy bỏ quyết định thu hồi bằng Thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan và công bố các hồ sơ liên quan đến việc này. Ngoài ra, để tiến tới một nền giáo dục Việt Nam lành mạnh và tân tiến, chúng tôi yêu cầu nhà nước mở cuộc điều tra về những lý do đã dẫn đến vụ tái thẩm định, và thiết lập những biện pháp để ngăn ngừa tái diễn những sự can thiệp một cách lén lút, bất hợp pháp vào các quy định có hiệu lực pháp lý.


Danh Sách Những Người Ký Tên

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

SỔ TAY THƯỜNG DÂN TƯỞNG NĂNG TIẾN - BÉ NHƯ CÁI TĂM





Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, cả những người phê phán quyết liệt nhất, cấp tiến nhất, cũng vẫn là những người nằm trong hệ thống, chỉ tìm cách thay đổi, hoàn thiện, bổ khuyết cho hệ thống đó. Chưa ai nghĩ đến sự thay đổi mang tính đoạn tuyệt.”
Phạm Xuân Nguyên



SỔ TAY THƯỜNG DÂN TƯỞNG NĂNG TIẾN - BÉ NHƯ CÁI TĂM



Đầu năm 2013, nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên hân hoan báo một tin vui:


“... một tác phẩm văn chương đầy nhân cảm của nhà văn Lê Tất Điều, sau 47 năm lại tái ngộ độc giả Việt Nam ... Sau 47 năm, "Đêm dài một đời" của Lê Tất Điều trở lại giản dị và vẫn mới mẻ trong bối cảnh đời sống văn chương đang thiếu những tác phẩm đẹp, lay động thực sự dành cho tuổi mới lớn, trong đời sống mà sự vô cảm đang có sức lây lan mãnh liệt.”



Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

CÂU ĐỐI XƯA VÀ NAY !!!



Photobucket





Câu đối thời cận đại [4]




Đến thời cận đại, trong vòng vài ba thế kỉ cuối của thiên niên kỉ thứ 2, câu đối đã phát triển, nâng lên về chất và số lượng. Rất nhiều văn nhân, nho sĩ tham gia thưỏng thức và sáng tác bao gồm cả nam nhân cùng nữ nhân. Người viết bài này không thể kể hết tên những tác giả, tác phẩm câu đối đã đi vào dân gian, được ghi vào sử sách. (hẹn một dịp khác). Bài viết này chỉ giới thiệu một nữ tướng lừng danh Văn chương , Thi phú và Câu Đối: Hồng hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm – người đã dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn từ Hán văn sang chữ Nôm để phổ cập rộng rải trong dân gian.


Theo từ điển Wikipedia: Bà Đoàn có biệt hiệu Hồng Hà Nữ Sĩ, người xã Giai Phạm, huyện Văn giang, tỉnh Bắc Ninh. Sinh dưới triều Lê (1705) cùng thời với cống Quỳnh và Đặng Trần Côn.


Đoàn Thị Điểm – tư chất thông minh, học một biết mười, nổi tiếng văn chương ngay từ khi còn nhỏ. Mới lên sáu, đã học sách sử trung hoa cổ, lịch sử cuộc đời Hán cao tổ – (vị vua nổi tiếng lập ra vương quốc Hán 2 nghìn năm trước , là nước Trung Quốc – hôm nay…)