Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

Ls Nguyễn Văn Thân - Đối tác thương mại, đối thủ chiến lược



Ls Nguyễn Văn Thân - Đối tác thương mại, đối thủ chiến lược






tan-cong-mang-reuters_itve.jpg
Tấn công mạng




Vào ngày Thứ sáu 15/8 vừa qua, Tổng Trưởng Ngân Khố Scott Morrison đã chính thức loan báo là Úc sẽ không cho phép Grid Corp và Cheung Kong Infrastructure (CKI) tham gia đấu thầu mua lại 50.4% của công ty Ausgrid qua hợp đồng thuê mướn 99 năm ước lượng trị giá hơn 14 tỷ Úc kim. Theo Tạp Chí Fortune, Grid Corp là một tập đoàn công ty quốc doanh của Trung Quốc lớn thứ hai trên toàn thế giới có thu nhập hàng năm lên tới 330 tỷ Mỹ kim và chỉ đứng sau Walmart của Mỹ với thu nhập hàng năm khoảng 482 tỷ Mỹ kim (hơn gấp đôi GDP của Việt Nam). Còn CKI là một công ty Hồng Kông do tỷ phú Lý Gia Thành (Li Ka-shing) làm chủ với đa số cổ phiếu.

Quyết định của Morrison tạo ra một cuộc tranh cãi sôi nổi trong dư luận Úc. Lãnh tụ Đối Lập Tiểu Bang NSW Luke Foley yêu cầu chính quyền trình bày "Kế Hoạch B". Thủ Hiến Mike Baird phản pháo và chế nhạo thái độ đạo đức giả của Lao Động là chống đối chính sách tư hữu hóa cơ sở điện lực nhưng lại chỉ trích chính phủ khi chính sách này bị đình trệ. Thủ Hiến Baird cũng cho biết ông tự tin là chính phủ sẽ thành công trong việc tìm người mua khác và sẽ dùng số tiền thu được cùng với 10.26 tỷ là giá tiền bán TransGrid cho công ty Hastings Fund Management do Westpac làm chủ để tiến hành chiến dịch xây dựng cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử tiểu bang kể từ Thế Vận Hội Sydney 2000.

Ông Bob Carr cựu Thủ Hiến NSW và Ngoại Trưởng liền lên tiếng đả kích quyết định của Morrison. Carr cho rằng đây là một quyết định chính trị vì Chính Phủ Liên Đảng đang muốn ve vãn các đảng nhỏ trong Thượng Viện gồm có One Nation và Xenophone có quan điểm chống đối đầu tư từ nước ngoài vào cơ sở hạ tầng của Úc, đặc biệt là từ Trung Quốc. Nhưng Bộ Trưởng Tài Chính Mathias Cormann đã cho Carr "một bạt tai" và cãi chính là Carr không nắm vững vấn đề khi cho rằng chính phủ lo ngại về Pauline Hanson cũng như Carr nên tìm hiểu rõ hơn khi có những lời phát biểu như vậy trước công chúng.

AusGrid cung cấp điện cho 1.6 triệu gia đình và doanh nghiệp trong thành phố Sydney, Central Coast và khu vực Hunter/Newcastle - khoảng 50% mạng lưới điện của toàn tiểu bang NSW. Trong khi đó, công ty Endeavour phục vụ dân cư và doanh nghiệp ở phía nam Sydney và khu vực Illawarra. Ông Peter Jennings Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chính Sách Chiến Lược Úc cho rằng nếu Trung Quốc mua được mạng AusGrid thì họ có thể sử dụng tin tặc để làm tê liệt cơ sở hạ tầng quan trọng của Úc khi có xung đột, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hãn tại Biển Đông và có ý đồ thách thức trật tự toàn cầu cũng như luật pháp quốc tế. Phát súng đầu tiên của chiến tranh trong thế kỷ 21 sẽ là tấn công vào mạng lưới truyền tin và cơ sở hạ tầng trọng yếu. Tương tự như vậy, trong bài diễn văn "State of the Union" vào năm 2013, Tổng Thống Obama phát biểu rằng "kẻ thù của Hoa Kỳ đang tìm cách phá hoại hệ thống điện lực, tài chánh và kiểm soát không lưu" qua hình thức tấn công mạng. Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ cũng cảnh báo tấn công mạng là một mối đe dọa lớn đối với khả năng cung cấp năng lượng cho người dân và chính phủ Hoa Kỳ. Tuy không nói rõ tên nước nào, nhưng ai cũng biết tình báo mạng của Trung Quốc là một hiểm họa thực tế và nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ cũng như Úc.

Trả lời phỏng vấn Đài ABC, Scott Morrison nhấn mạnh là ông chỉ sử dụng một nguyên tắc duy nhất là quyền lợi an ninh quốc gia khi đi đến quyết định ngăn cản công ty của Trung Quốc và Hồng Kông sở hữu AusGrid. Ông đã nhận được báo cáo của Ủy Ban Giám Sát Đầu Tư Ngoại Quốc (Foreign Investment Review Board) với kết luận chắc nịch là chính phủ không nên cho phép hai công ty này kiểm soát mạng lưới điện như AusGrid. Quyết định này không nhắm vào hoặc mang tính kỳ thị với Trung Quốc. Có điều là các công ty quốc doanh của Trung Quốc đều có một đặc điểm giống nhau là có chi bộ Đảng và thành phần bán quân sự. Tiêu chí của họ là phục vụ cho Đảng và nhà nước Trung Quốc. Thành phần lãnh đạo của các công ty này thường gồm có đảng viên và giới quân sự. Có nghĩa là các công ty của Trung Quốc không thuần túy mang tính thương mại. Đảng Cộng Sản và nhà nước Trung Quốc có thể sử dụng phương tiện của các công ty bất cứ lúc nào khi cần thiết hoặc khi có chiến tranh mà không cần thông qua một tiến trình pháp lý.

Đây không phải là lần đầu tiên Úc ngăn cản đầu tư từ Trung Quốc. Vào năm 2012, chính quyền Gillard đã thẳng thừng ngăn cấm công ty Hoa Vi đấu thầu trong công trình mạng lưới băng tần rộng (National Broadband Network) vì lý do "an ninh quốc gia". Đây là lời nói ngoại giao thay cho quan ngại về hoạt động tình báo mạng của Trung Quốc. Từ cuối năm ngoái cho đến tháng tư năm nay, Morrison cũng quyết định ngăn cấm một tập đoàn đầu tư của Trung Quốc mua lại nông trại S Kidman & Co có diện tích tương đương với 1% lãnh thổ của Úc vì một phần đất của nông trại này nằm trong cấm địa quân sự Woomera Prohibited Area.

Thật ra, công ty quốc doanh Grid Corp và một số công ty khác của Trung Quốc đang làm chủ và kiểm soát khá nhiều cơ sở hạ tầng trọng yếu của Úc. Ví dụ như Grid Corp hiện đăng nắm 60% cổ phần của Jemena Gas, 34% của United Energy Network Victoria, 50% của Actew AGL, 19.9% của Ausnet Services và 45.56% của ElectraNet là mạng lưới điện của tiểu bang Nam Úc. Các công ty khác của Trung Quốc gồm có Sinopec làm chủ 25% Qld Liquified Natural Gas, State Power Investment làm chủ 100% của Pacific Hydro, Petro China làm chủ 50% của Arrow Energy và 10.67% của Browse LNG, CNOOC làm chủ 50% của QCLNG Train và China Huaneng làm chủ 50% của OzGen. Quyết định của Morrison không phải là ngăn cản mà nói với Trung Quốc rằng họ xâm nhập vào hệ thống cơ sở hạ tầng của Úc như vậy là quá đủ rồi.

Trung Quốc đã có phản ứng mạnh mẽ. Tuy nhiên với Trung Quốc thì khó phân biệt được cái nào là giận dữ thật sự và cái nào là giả tạo. Dĩ nhiên Trung Quốc sẽ không bao giờ cho phép các công ty ngoại quốc mua lại hoặc kiểm soát hệ thống cơ sở hạ tầng của họ. Nhưng Trung Quốc thuộc về bậc thầy khi chế biến cảm xúc bị tổn thương. Hoàn Cầu Thời Báo là một tờ báo lá cải của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong thời gian gần đây thường hay tru réo rằng Trung Quốc nên dạy cho hải quân Úc một bài học nếu Úc cũng tiến hành chiến dịch tuần tra và tự do hàng hải tại Biển Đông. Tờ báo này đã cảnh báo là quyết định của Morrison sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ kinh tế giữa Úc và Trung Quốc. Tân Hoa Xã, tờ báo được xem là phản ánh tiếng nói của Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng cho rằng Úc vẫn con mang tư tưởng chiến tranh lạnh lỗi thời khi cứu xét đầu tư từ Trung Quốc.

Có lẽ Úc đã học được một bài học sau vụ Lãnh Thổ Bắc Úc cho Landbridge - một công ty Trung Quốc thuê cảng Darwin 99 năm với giá 506 triệu Úc kim. Hoa Kỳ rất ngạc nhiên và chính Tổng Thống Obama đã bực mình than phiền trực tiếp với Thủ Tướng Malcolm Turnbull về việc này. Rồi đây sẽ có khoảng 2,500 lính thủy quân lục chiến của Mỹ mỗi lần ra vào cảng Darwin phải chào "hello" với nhân viên (hoặc lính tình báo???) của Trung Quốc. Sau sự việc này, chính phủ đã bổ nhiệm ông David Irvine, cựu giám đốc của cơ quan tình báo ASIO vào Ủy Ban Giám Sát Đầu Tư Ngoại Quốc. Có lẽ nhờ vào kinh nghiệm của Irvine nên Morrison mới đi đến quyết định một cách dễ dàng và tự tin như vậy.

Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc bỏ ra nhiều tiền đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nhiều quốc gia trên thế giới mà chính sách này nằm trong chiến lược Con Đường Tơ Lụa Hàng Hải để xây dựng giấc mơ Trung Hoa vĩ đại của Tập Cận Bình. Ngoài cảng Darwin thì Trung Quốc cũng đã bỏ nhiều tiền đầu tư vào cảng Hambantota của Pakistan, cảng Gwadar của Pakistan để nắn gân Ấn độ và cảng Djibouti ở Châu Phi để đối trọng với hải quân Mỹ. Mục tiêu chính là để bảo đảm an ninh kinh tế và năng lượng cho Trung Quốc nhưng cũng để kiểm soát "huyệt đạo" của đối tác. Khi có xung đột, Trung Quốc chỉ cần đánh vào huyết mạch kinh tế là các cơ sở hạ tầng gồm có hệ thống truyền tin, giao thông và năng lượng, là có thể khống chế được đối thủ.

Úc cũng như một số quốc gia khác đang phải đối diện với một tình trạng mâu thuẫn chưa từng có trong lịch sử. Đó là vừa xây dựng và phát triển quan hệ đối tác thương mại nhưng vừa phải canh chừng Trung Quốc như là một mối đe dọa an ninh quốc gia trường kỳ. Thách đố lớn nhất là chuẩn bị cho ngày Trung Quốc trở mặt hoặc khai hỏa trên Biển Đông. Nếu không thận trọng thì sẽ có ngày Úc cũng như những quốc gia khác trong đó có Việt Nam có thể bị điểm tử huyệt mà chết không kịp ngáp.

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu



Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu







Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại lễ khai mạc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế lần thứ 6





Tổng thống Mỹ Barack Obama mới qua Việt Nam và được hàng trăm ngàn dân Việt chờ đợi bên đường hoan nghênh nhiệt liệt. Chính quyền cộng sản cố tiếp đón ông Obama theo cách hờ hững, kém long trọng hơn cuộc tiếp rước Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mấy tháng trước.

Sau đó, khi dân Việt Nam đi biểu tình đòi bảo vệ môi trường sống, đả đảo công ty Formosa và các nhà thầu Trung Cộng, họ còn bị đàn áp mạnh mẽ. Việt Cộng cố bày tỏ lòng trung thành với các đồng chí anh em, nhưng Trung Cộng có hung hăng hơn đối với Mỹ để răn đe đàn em bốn tốt và 16 chữ vàng hay không? Nhiều dấu hiệu cho thấy họ đã đấu dịu.


Ngày Thứ Hai, 6 Tháng Sáu, 2016, tại Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình mới công khai bày tỏ ý kiến về mối bang giao Trung Quốc với Mỹ: “Điều cơ bản là hai nước phải giữ vững các nguyên tắc, là không xung đột hay đối đầu với nhau; kính trọng lẫn nhau, và hợp tác để cả hai cùng thắng lợi.” Tập Cận Bình tỏ ý muốn hai chính phủ phải tiếp tục đối thoại để nuôi dưỡng lòng tin tưởng và cộng tác với nhau.


Lời tuyên bố trên được đưa ra trong ngày khai mạc cuộc họp “Đối Thoại Chiến Lược Và Kinh Tế Mỹ-Trung” (US-China Strategic and Economic Dialogue, SED) lần thứ tám. Cuộc họp định kỳ này được Chủ Tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào và tổng thống Obama khởi đầu từ năm 2009. Năm nay, trong số hàng trăm viên chức cấp bộ trưởng tham dự, phía Trung Cộng có Ủy Viên Quốc Vụ Viện Dương Thiết Trì, Phó Thủ Tướng Vương Dương, và Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Chu Tiểu Xuyên và Tạ Chấn Hoa (Xi Zhenhua, 谢振华), phụ trách vấn đề khí hậu thay đổi; với các bộ trưởng hoặc thứ trưởng tài chánh, thương mại, giáo dục, canh nông, khoa học kỹ thuật, và văn hóa. Phía Mỹ có Ngoại Trưởng John Kerry và Bộ Trưởng Tài Chánh Jacob Lew. Trong hai ngày họp mặt, các bài thuyết trình tập trung vào các vấn đề kinh tế, thương mại, hợp tác khoa học và vấn đề khí hậu biến đổi, vân vân.


Nhưng trong cuộc gặp gỡ bàn những vấn đề kinh tế và chiến lược này, các mối bất đồng được nêu ra đều nhỏ. Mỹ muốn Trung Cộng giảm bớt việc sản cuất thép và nhôm vì các doanh nghiệp nhà nước dù lỗ vốn vẫn tiếp tục xuất cảng hàng dưới giá thành tràn gập thị trường thế giới. Trung Cộng muốn cuộc thảo luận về Hiệp Ước Đầu Tư Song Phương tiến nhanh hơn, và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ thông báo trước các quyết định về lãi suất vì nếu lãi suất ở Mỹ tăng lên thì đồng nhân dân tệ sẽ mất giá. Bên cạnh các đề tài trên, chủ đề gay go nhất, dù không được ghi trong ghị trình, vẫn là quan điểm xung khắc giữa Mỹ và Trung Cộng trong vùng Biển Đông nước ta.

Chính phủ Mỹ đã yêu cầu Trung Cộng phải tuân theo bản quyết định mà Tòa Trọng Tài Thường Trực Thế Giới sắp công bố, theo đơn kiện của chính phủ Philippines; mà Bắc Kinh đã báo trước sẽ không công nhận. Đồng thời Mỹ lên tiếng chỉ trích Trung Cộng đang gây thêm căng thẳng tại Biển Đông với các hành động biến các tảng đá ngầm thành căn cứ quân sự trong vùng biển đang còn tranh chấp. Đáp lại, Trung Cộng tố ngược rằng chính nước Mỹ đang gia tăng các hoạt động quân sự trong vùng!


Đối với các xung đột hiển nhiên đó, ông Tập Cận Bình đã nói rõ Trung Cộng không muốn đối đầu với Mỹ. Ngôn ngữ ông ta dùng rất ôn hòa, coi tình trạng “bất đồng ý kiến trên các vấn đề nhạy cảm” là hiện tượng dĩ nhiên phải diễn ra vì lịch sử, văn hóa hai nước khác nhau. Ông ta không nói gì về những lần phi cơ Mỹ và Trung Cộng nghênh nhau trên trời cũng như tàu chiến hai nước bám nhau ngoài biển! Ngược lại, ông giảng giải, “Không có lý do nào phải sợ các quan điểm bất đồng, điều quan trọng nhất là chúng ta không giữ một thái độ kình chống trên các điểm bất đồng đó.”


Tập Cận Bình giải thích thêm: “Nhiều điểm bất đồng có thể được giải quyết với những nỗ lực của hai bên khi cả hai đều cố gắng giải quyết.” Hơn nữa, “Những vấn đề chưa thể giải quyết được bây giờ thì hai bên nên nhìn nhận vị thế thực tế của nhau và giải quyết theo hướng xây dựng.” Tập Cận Bình dùng những hình ảnh hoa mỹ hơn, đề nghị Vùng Á Châu-Thái Bình Dương phải là một “đia bàn lớn bao dung lẫn nhau để hợp tác” (inclusive big ­platform for cooperation) chứ không phải là “một vùng cho các quốc gia thi thố đối đầu” (“arena for countries to leverage”)!


Mọi người có thể hiểu rằng Cộng Sản Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ, vì quân lực của họ chưa sẵn sàng. Nhưng lý do quan trọng nhất là nền kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ nếu xung đột vũ lực xẩy ra khiến hàng hóa không thể xuất cảng và tuyệt đường tiếp tế nguyên liệu và nhiên liệu. Khi hàng trăm triệu công nhân Trung Hoa theo nhau mất việc làm thì chỉ một năm hay nửa năm sau dân lục địa sẽ nổi loạn. Một hành động đấu dịu hiển nhiên là từ ba tuần qua các tàu hải giám của Trung Cộng đã ngưng không quấy nhiễu, để cho các thuyến đánh cá Phi Luật Tân được tự do hoạt động trong vùng biển hai bên đang tranh chấp.


Trước thái độ hòa hoãn của Tập Cận Bình, Ngoại Trưởng John Kerry đã khẳng định: “Lập trường của chúng tôi là các phe không được giải quyết những bất đồng (trong vùng Biển Đông) bằng những hành động đơn phương. Phải giải quyết bằng luật pháp, qua ngoại giao và thương thảo. Nước Mỹ kêu gọi các quốc gia hãy đi tìm các giải pháp ngoại giao, đặt nền tảng trên tiêu chuẩn quốc tế về tinh thần tôn trọng luật pháp.” Lời tuyên bố đó nhấn mạnh thêm ý kiến yêu cầu Trung Cộng phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Thế giới; và lên án việc Trung Cộng xây cất các phi tường và căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo.


Trước đó một ngày, trong cuộc hội họp Shangri-La tại Singapore, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter đã cảnh cáo Trung Cộng đang dựng lên một “Trường Thành Cô Lập” bằng các hành động quân sự hóa vùng Biển Đông. Để đáp lại, phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng, tướng Tôn Kiến Quốc (Sun Jianguo, 孙建国) chỉ phản ứng bằng một lời đe dọa ngầm chứa mối lo sợ bị các nước tẩy chay, khi ông ta nói rằng mọi âm mưu cô lập hóa Trung Quốc sẽ thất bại.


Ngay tại hội nghị Shangri-La, người ta đã thấy dấu hiệu Trung Cộng đang bị cô lập hơn, khi nước Pháp bắt đầu bầy tỏ thái độ về các xung đột tại Biển Đông. Chủ Nhật vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp Jean-Yves Le Drian đã nhắc tới và nhấn mạnh một luận điểm mà chính phủ Mỹ vẫn dùng làm căn bản chính sách của họ. Ông Le Drian kêu gọi hải quân các nước Châu Âu hãy thực hiện các cuộc hải hành “thường xuyên và biểu lộ rõ ràng” (regulier et visible) để chứng tỏ họ hiện diện trong vùng này. Mục đích của hành động đó là chứng tỏ các nước Châu Âu tuân thủ, tôn trọng luật pháp về biển và quyền tự do hàng hải. Ông Le Drian nêu những ý kiến cụ thể: “Nếu hôm nay mà luật biển không được tôn trọng tại vùng Nam Hải, thì ngày mai sẽ đến lượt các vùng biển Bắc Cực và Địa Trung Hải cũng như các nơi khác bị đe dọa.” Hai vùng biển được nêu tên trong câu này rõ ràng ám chỉ các hành động quân sự của chính phủ Nga tại biển Baltic và bở biển Syria.

Ông Le Drian cảnh báo, “Nếu chúng ta muốn ngăn ngừa mối nguy hiểm khi xung đột xảy ra, chúng ta phải bảo vệ quyền tự do hàng hải này, và chính chúng ta phải đứng ra bảo vệ,” ngầm nói rằng các nước Châu Âu không thể để cho một mình nước Mỹ đóng vai trò cảnh sát trên mặt biển!


Khi chính phủ Pháp nhập trận vào vùng biển Đông Nam Á, họ cũng chứng tỏ các nước khác ở Châu Âu không còn thờ ơ trước các hành động hung hãn của Trung Cộng. Một ngày sau khi ông Le Drian nói mạnh, chúng ta đã thấy phản ứng của Tập Cận Bình là đấu dịu.



Tuesday, June 7, 2016



Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Phép thử của chiến lược tái cân bằng



Việt Nam giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Phép thử của chiến lược tái cân bằng



Tác giả: Ngô Di Lân
Người dịch: Trần Văn Minh
16-10-2015


Ngô Di Lân là ứng viên tiến sĩ Chính trị tại Đại học Brandeis, nơi ông tập trung vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và quan hệ Mỹ-Trung. Ông cũng là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.



Hai chuyến thăm vào tháng tới của lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc sẽ thử nghiệm khả năng tái cân bằng của Hà Nội.



Một lần nữa, khả năng tái cân bằng ngoại giao của Việt Nam sẽ được thử nghiệm vào tháng 11 này, khi các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ tiếp đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama trong thời gian chỉ cách nhau vài ngày. Đây sẽ là chuyến đi đầu tiên của ông Obama tới Việt Nam, trong khi chuyến đi của ông Tập cũng sẽ là chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc đầu tiên kể từ năm 2005. Do Việt Nam cam kết duy trì mối quan hệ thân mật với cả hai cường quốc, ngay cả trong bối cảnh ngày càng căng thẳng xung quanh các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, tháng 11 này sẽ chứng tỏ một khoảnh khắc tinh tế và có tính quyết định về khả năng ứng phó với các cường quốc của Việt Nam.
Quan hệ Mỹ-Việt đã trở nên nồng ấm đáng kể trong vài năm qua, với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cao cấp hai nước, đạt tới đỉnh điểm trong chuyến thăm chưa từng có của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ vào tháng 7 vừa qua. Kết quả là bản Tuyên bố lịch sử Tầm nhìn chung Mỹ-Việt, trong đó đề ra một khuôn khổ quan trọng để quan hệ Mỹ-Việt có thể tiếp tục phát triển trong dài hạn. Trong bối cảnh này, chuyến đi của ông Obama tới Hà Nội sẽ chỉ củng cố và làm sâu sắc mối quan hệ hơn nữa.
Tuy nhiên, lần này rõ ràng ông Obama không tới Hà Nội để thúc đẩy Hiệp đinh Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi các bên đàm phán đã đạt được thỏa thuận và Quốc hội Việt Nam gần như chắc chắn sẽ phê chuẩn hiệp định TPP. Vào thời điểm khi Trung Quốc đang cấp tốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và Hoa Kỳ vừa công bố kế hoạch tuần tra hàng hải trong vùng lãnh hải của các đảo này, dường như chắc chắn rằng Trung Quốc và tranh chấp lãnh thổ Biển Đông sẽ nổi bật trong các cuộc đàm phán tại Hà Nội.
Mặc dù lạc quan, giới thân Mỹ ở Hà Nội có lẽ sẽ phải thất vọng vì khó có khả năng chuyến thăm của ông Obama sẽ dẫn đến bất kỳ thỏa thuận mang tính “bước ngoặt” nào. Lại càng thiếu thực tế hơn để mong đợi một “liên minh” nào đó giữa Hà Nội và Washington được hình thành trong chuyến đi này, ngay cả trong lúc Trung Quốc đang gia tăng nỗ lực mang tính quyết đoán để tạo ra một “sự đã rồi” ở Biển Đông. Sau cùng, không rõ liệu một liên minh công khai như vậy sẽ mang lại lợi ích cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam hay không, vì điều này chắc chắn sẽ chọc giận Trung Quốc và do đó làm cho tình hình mất ổn định thêm. Hơn nữa, Mỹ có vẻ miễn cưỡng trong việc chính thức cam kết liên minh với bất kỳ quốc gia nào mà họ cho là “không thể kiểm soát chính trị” được, như mới đây đã bác bỏ đề xuất hiệp ước phòng thủ chung của các quốc gia vùng Vịnh. Việt Nam chắc chắn không thuộc thể loại các nước trong “phạm vi ảnh hưởng” của Mỹ.
Từ quan điểm của Hà Nội, “ngả sang một bên” sẽ có thể loại trừ khả năng linh hoạt ngoại giao. Bên cạnh đó, trong mọi trường hợp, một liên minh có lẽ không phải là một bảo đảm an ninh bọc thép để đối phó với Trung Quốc, như liên minh trước đây của Việt Nam với Liên Xô đã cho thấy. Tuy nhiên, là điều hợp lý để cho rằng chuyến đi của ông Obama sẽ tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước một cách đáng kể, thậm chí có thể dẫn đến việc gỡ bỏ thêm nữa lệnh cấm bán vũ khí sát thương (đã được nới lỏng) cho Việt Nam. Hơn nữa, ông Obama có thể dùng dịp này để thu hút sự ủng hộ ngoại giao cho kế hoạch tuần tra quyết đoán hơn trong khi lôi kéo Việt Nam xa khỏi quỹ đạo của Trung Quốc. Nếu có ít nhất một số trong những muc tiêu này trở thành hiện thực, chuyến đi của ông ít nhất cũng làm gia tăng vị thế của Mỹ ở châu Á, trong khi giúp cho Hà Nội có một thế đứng mạnh mẽ hơn để thương lượng tay đôi với Bắc Kinh.
Không giống như chuyến đi được dự liệu ​​của ông Obama tới Việt Nam, chuyến đi của ông Tập xảy ra vào thời điểm xáo trộn trong quan hệ Việt-Trung. Quan hệ đã trở nên xấu đi phần nào trong những năm gần đây khi Trung Quốc trở nên hung hăng hơn trong việc khẳng định quyền kiểm soát các hòn đảo ở Biển Đông. Trong vài năm qua, ông Tập có lẽ đã thay đổi hiện trạng ở Biển Đông nhiều hơn những người tiền nhiệm của ông trong hai thập niên qua. Nổi bật nhất, vào tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã triển khai giàn khoan dầu Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) trước sự sự phản đối mãnh liệt của cả chính quyền và người dân Việt Nam.
Trong khi Trung Quốc đơn phương rút giàn khoan dầu sau hai tháng, cuộc khủng hoảng ngoại giao đã làm suy yếu lòng tin chiến lược giữa hai chính quyền và gây ra một cuộc tranh luận nội bộ nghiêm trọng trong giới thượng lưu ở Hà Nội. Kể từ đó, Trung Quốc chỉ gia tăng nỗ lực xây dựng đảo, với đường băng được phát hiện trên một số đảo mà cuối cùng có thể được sử dụng để tuyên bố và / hoặc áp đặt một vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên toàn bộ Biển Đông trong một tương lai gần. Những hành động này đã cho Việt Nam thấy rằng Trung Quốc không thành thật tuân thủ các thỏa thuận mà họ đã ký kết như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Với tất cả sự việc này, có vẻ như ông Tập sẽ tới Hà Nội với một sứ mệnh gần như bất khả thi: bằng cách nào đó đưa người láng giềng nhỏ hơn trở về vị trí cũ và “xóa đi làm lại” mối quan hệ với Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rất rõ rằng Việt Nam sẽ không chỉ đơn giản biến thành Nhật Bản hay Philippines một sớm một chiều. Nhưng về lâu dài, với những gì đang diễn ra ở Biển Đông, không ai có thể dự đoán Việt Nam sẽ gần gũi như thế nào với cánh đi với Mỹ. Và rất khó cho bất kỳ chủ tịch Trung Quốc nào tại thời điểm này có thể thuyết phục Hà Nội một cách nghiêm túc rằng Trung Quốc chỉ đơn thuần bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông và rằng Hà Nội nên đồng hành với Bắc Kinh. Do đó không ai mong đợi bất kỳ sự “quay đầu” nào trong chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc sau chuyến đi của ông Tập.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chuyến đi của ông Tập vẫn có thể sửa chữa mối quan hệ Việt-Trung trong giới hạn nào đó và có thể điều hướng sự chú ý của Việt Nam ra khỏi các tranh chấp lãnh thổ hiện nay để tập trung vào các cơ hội hợp tác giữa hai nước. Trong chiều hướng đó, sẽ không là điều bất ngờ nếu Bắc Kinh cung cấp một số giao dịch kinh tế và khoản vay ưu đãi cho Hà Nội trong chuyến đi của ông Tập. Sau cùng, phần thưởng kinh tế như thế luôn được hoan nghênh và sẽ thúc giục Việt Nam ít ra cũng đừng tiến gần hơn về phía Mỹ trong ngắn hạn và tiếp tục chiến lược “đu dây” hiện nay.

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay sang Hoa Kỳ?



Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay sang Hoa Kỳ?



Cập nhật: 07.07.2015 03:57





Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.




Một chuyên gia về Việt Nam đã đặt câu hỏi “Có phải Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay trục sang Hoa Kỳ?” trong một bài viết đăng trên báo The Diplomat hôm 6/7, giữa lúc Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng khởi sự chuyến công du chính thức tới thăm Washington.


Giáo sư Carl Thayer trích các nguồn tin ngoại giao nói rằng Việt Nam đã dồn nỗ lực vận động để vượt qua được một số khó khăn về nghi thức, Hà Nội kiên trì vận động để dược Tổng Thống Barack Obama đón tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại Tòa Bạch Ốc, trong khi với tư cách Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Trọng không có người “tương nhiệm” trong hệ thống chính trị Mỹ.


Theo các nguồn tin ngoại giao, Tổng Bí thư Trọng sẽ được Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đón tiếp tại Tòa Bạch Ốc, sau đó Tổng thống Obama sẽ tham gia các cuộc thảo luận. Có tin cho biết ông Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ gặp bà Hillary Clinton, nhân vật có triển vọng nhất có thể được đề cử làm ứng viên của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sắp tới.


Giáo sư Thayer nhận định rằng cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Trọng và Tổng thống Obama có ý nghĩa đặc biệt, và bất cứ sự đồng thuận nào mà hai ông đạt được trong lần gặp gỡ này sẽ đặt nền móng cho quan hệ Mỹ-Việt giữa lúc hai nước trải qua một giai đoạn chuyển tiếp chính trị, với thay đổi nhân sự ở cấp lãnh đạo cao nhất.


Năm 2013, Tổng thống Obama và vị tương nhiệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Hiệp định Đối tác Toàn diện. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng. Đây sẽ là văn kiện chủ yếu làm khung cho các quan hệ song phương, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, thông qua chiến lược trong 5 năm tới.


Trong khi đó Việt Nam coi cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Barack Obama và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng như một động thái công nhận vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, và chuyến đi sẽ dọn đường cho các chuyến công du của các nhân vật lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong tương lai.


Báo Washington Post hôm 3 tháng 7 đăng bài góp ý của Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Hoàng Bình Quân, nói rằng chuyến công du Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng “là tín hiệu cho thấy sự tôn trọng của Mỹ đối với lựa chọn về thể chế chính trị của Việt Nam."


Về vấn đề này, một nhà đấu tranh để dân chủ hoá Việt Nam đang sống lưu vong tại Hoa Kỳ, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, nhận định:


“Chúng ta không nên quên rằng trong hai lần Tổng thống Mỹ tiếp nhân vật cao cấp nhất Việt Nam, lần Tổng thống Bush tiếp ông Nguyễn Minh Triết, và lần này Tổng thống Obama tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, thì chúng ta đều thấy là chính quyền Mỹ đã tiếp các nhà hoạt động chính trị bất đồng chính kiến. Lần này thì Hội đồng An ninh Quốc gia đã tiếp đại diện của ba tổ chức chính trị, trong đó có một tổ chức chính trị mà người sáng lập và lãnh đạo hiện có mặt tại Sài Gòn (Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, người sáng lập Tập họp vì nền Dân chủ ở Việt Nam). Thành ra Mỹ đã gửi đi một thông điệp có hai nội dung. Một nội dung là công nhận Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam, và một nội dung thứ hai là ủng hộ những tiếng nói đối lập. Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới đây thì chắc chắn Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiện việc ủng hộ này, và tôi nghĩ rằng đây là một cánh cửa mở ra cho lực lượng đối lập chính trị hoạt động trong thời gian tới ở Việt Nam.”


“Tôi nghĩ rằng cái tình hình Việt Nam đã
bước sang một cái giai đoạn mới và quan
hệ Việt-Mỹ cũng bước sang một giai đoạn
mới. Chúng ta hy vọng rằng Việt Nam sẽ
phải thực hiện cái đổi mới mà quốc tế gọi
là đổi mới Hai, tức là đổi mới về văn hoá
và chính trị, sau cái đổi mới Một về kinh tế”
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt


Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Nguyễn Đình Phùng - Chiến lược dầu hỏa



Nguyễn Đình Phùng - Chiến lược dầu hỏa






image




Trong vòng ba năm nay, những tính toán về thế chiến lược địa dư toàn cầu đã bị một vũ khí chiến lược mới của Hoa Kỳ làm thay đổi hẳn cục diện. Đó là vũ khí dầu hỏa, một thứ vũ khí trước giờ làm Hoa Kỳ khốn đốn và bị lệ thuộc vào những quốc gia không mấy gì thân thiện với Hoa Kỳ nắm giữ như những xứ vùng Trung Đông, Venezuela và Nga. Nhưng thế cờ hiện nay đã bị lật ngược và Hoa Kỳ đã nắm thượng phong để có thể dùng dầu hỏa như một vũ khí chiến lược cho những tính toán mới cho chính trị địa dư toàn cầu.

Điều này xảy ra được hoàn toàn nhờ vào một kỹ thuật mới về đào dầu. Đây là phương cách tân tiến nhất dùng vệ tinh satellite để điều khiển mũi khoan dầu, đào sâu xuống nhiều dặm dưới lòng đất rồi tùy theo vị trí có thể quay ngang và đào bên cạnh gọi là horizontal drilling, tiến tới mục tiêu chính xác có thể chỉ nhỏ như một chiếc bánh xe! Trước kia việc đào dầu thường chỉ dùng những dữ kiện do địa chấn đem lại để tìm mỏ dầu và đào thử hàng chục lần mới được một lần trúng. Những lần đào hụt gọi là dry holes, tốn tiền nhiều và mất nhiều thời giờ để đào trúng mỏ dầu. Với những dữ kiện về địa chất do satellite technology và cách đào ngang horizontal drilling, việc đào hụt gặp dry holes không xảy ra nữa!



image


Nhưng việc sản xuất dầu hiện nay tại Hoa Kỳ thay đổi nhiều hơn cả là do việc lấy dầu từ đá gọi là shale oil. Dưới đáy của những mỏ dầu đã bơm ra gần cạn từ đầu thế kỷ 20 đến giờ, là những mỏ đá shale oil chứa dầu nằm lẫn trong đá. Dầu hỏa nằm trong đá này trước giờ không lấy ra được vì không chảy và không bơm lên được, gọi là dầu chặt, tight oils. Dung lượng của những mỏ dầu nằm trong shale oil còn nhiều hơn những mỏ dầu bơm lên dễ dàng trước kia, nhưng nay đã bơm cạn.

Kỹ thuật mới hiện tại là dùng cách đào như diễn tả trong đoạn trước và đào ngang horizontal drilling để tiến sâu vào những mỏ đá shale oil. Sau đó hàng ngàn gallons nước được bơm thẳng vào những vết nứt của mỏ đá shale oil này với áp suất cực mạnh. Dầu và khí đốt nằm trong đá được hút ra sau khi được nước bơm vào giải tỏa và được bơm thẳng lên trên mặt đất. Kỹ thuật này gọi là hydraulic fracturing, thường gọi tắt là fracking và hiện đang được áp dụng tại ba vùng có mỏ dầu shale oil lớn nhất Hoa Kỳ. Đó là vùng Bakken tại tiểu bang North Dakota, vùng Permian Basin gần Midland, Texas và vùng Eagle Ford tại phía Nam Texas.