Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô nhân Dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô nhân Dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

Ngô Nhân Dụng - Bắc Kinh lo, Hà Nội sợ



Ngô Nhân Dụng - Bắc Kinh lo, Hà Nội sợ






5 thẩm phán giải quyết vụ kiện của Philippines Ảnh: RAPPER





Trước ngày Tòa Trọng Tài Quốc Tế công bố quyết định về vụ Biển Đông, Cộng Sản Trung Quốc đã vận động ngoại giao, biểu diễn vũ lực, đồng thời chỉ trích Mỹ can thiệp. Trung Cộng còn khoe đã được nhiều quốc gia ủng hộ, nhưng sự thật hoàn toàn trái ngược. Tất cả chứng tỏ giới lãnh đạo Bắc Kinh đang lo sợ dư luận thế giới.

Ông Đới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) cựu phó thủ tướng Trung Quốc đặc trách ngoại giao qua thăm Mỹ một tuần trước ngày Tòa Trọng Tài tuyên án. Khi còn tại chức, Đới Bỉnh Quốc từng nói rằng Trung Quốc không bao giờ có tham vọng bá quyền trong suốt lịch sử; một lời dối trá trắng trợn. Hiện đang làm viện trưởng đại học Tế Nam, Đới Bỉnh Quốc đã lập lại, ở một viện nghiên cứu tại Washington, rằng Bắc Kinh không chấp nhận thẩm quyền của Tòa Trọng Tài xử vụ Biển Đông do Philippines kiện. Ông ta lại mạnh miệng mô tả phán quyết của án quốc tế ở Hòa Lan chỉ là “một mảnh giấy vô giá trị.”

Đới Bỉnh Quốc còn khẳng định, “dù chính phủ Mỹ có gửi 10 hàng không mẫu hạm tới Nam Hải,” Trung Cộng cũng không sợ! Và ông đe dọa: “Mỹ sẽ vô tình bị lôi vào cuộc tranh chấp và sẽ phải trả một giá đắt vô lường!” Cùng thời gian đó, tờ Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) của Cộng Sản Trung Quốc lại đăng một bài quan điểm kêu gọi cả nước phải sẵn sàng biện pháp quân sự. Nhưng chính tờ báo này lại thú nhận rằng, về mặt quân sự, “Dù Trung Quốc không đủ sức đương đầu với Mỹ trong ngắn hạn, chúng ta sẽ bắt nước Mỹ phải trả một giá rất đắt nếu đem quân can thiệp.” Ngắn hạn là bao lâu? Chắc khoảng 20 đến 30 năm! Hoàn Cầu Thời Báo kích thích tự ái chủng tộc của độc giả bằng lời đe dọa: “Những ai nghĩ rằng Trung Quốc sẽ cam chịu nuốt viên thuốc đắng nhục nhã này là họ quá ngây thơ!”

Cộng Sản Trung Quốc đang tự mâu thuẫn. Nếu họ bất chấp Tòa Trọng Tài, coi bản phán quyết vô giá trị, thì tại sao họ phải lên tiếng trước, yêu cầu Mỹ đừng can thiệp? Tại sao họ lại đưa hải quân ra tập trận ở ngay vùng quần đảo Hoàng Sa, một tuần lễ trước ngày phán quyết, để hăm dọa và chặn trước phản ứng của các nước Đông Nam Á? Hơn nữa, tại sao trong tuần trước họ vẫn ồn ào khoe rằng lập trường của mình đã được 60 quốc gia trên thế giới ủng hộ?

Thái độ hung hăng phản đối cùng chiến dịch đe dọa và tấn công ngoại giao chỉ chứng tỏ rằng Bắc Kinh thực sự đang lo sợ. Lo lắng phản ứng của thế giới sẽ ra sao, không thể tính trước được, cho nên sinh hoảng hốt. Như một người tâm thần bất định, Bắc Kinh đã hành động bất nhất, nói những lời tự mâu thuẫn, rồi ăn gian nói dối, nhưng không đánh lừa được ai.

Trước khi tòa tuyên án vào Thứ Ba tới ở Den Hagg (The Hague trong tiếng Anh, La Haye tiếng Pháp), suốt mấy tháng Trung Cộng luôn luôn tự mâu thuẫn với chính mình. Một mặt họ khẳng định không tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng Tài; lấy cớ Công Ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) không có giá trị đối với vấn đề chủ quyền ở Biển Đông. Trong khi đó, lúc cần tranh cãi với Nhật Bản về quần đảo Okinotori, thì Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh lại viện dẫn UNCLOS để phản đối Nhật!

Ai cũng biết dù Tòa Trọng Tài phán ra sao, bản án cũng không có một cơ quan quốc tế nào bắt buộc được ai phải thi hành, như ở các tòa án thường có cảnh sát thi hành án lệnh. Nếu tòa phán có lợi cho Philippines thì chính phủ Philippines cũng không thể đem quân đánh đuổi các tầu hải giám của Trung Cộng. Cho nên mối lo sợ của Bắc Kinh không có lý do cụ thể, tất cả chỉ là sợ hãi dư luận. Họ sợ những chiến dịch tuyên truyền mồm năm miệng mười của họ để mị hoặc thế giới sẽ trôi tuột ra biển hết!

Mục tiêu của Trung Cộng là chiếm trọn vùng biển đảo trong vòng chữ U “Cửu Đoạn Tuyến.” Họ vừa xâm lấn các nước Đông Nam Á, vừa quả quyết “không có tham vọng đế quốc” như Đới Bỉnh Quốc từng rêu rao! Một bản phán quyết đứng về phía Philippines sẽ khiến bộ máy tuyên truyền khó ăn nói. Trước tình trạng đáng lo đó, họ bắt đầu ăn nói thất thường! Giống như một anh Chí Phèo đang khoa chân múa tay đe dọa, “Tao không sợ! Tao bất chấp nó nói gì thì nói!” Cùng lúc đó, Chí Phèo ta vẫn chạy tới từng nhà năn nỉ, “Đồng ý với ngộ không? Ủng hộ tớ không nào? Cả làng đã nhất trí với ngộ rồi nghe!”

Cảnh hoảng hốt phơi bầy rõ nhất khi Bắc Kinh khoe khoang đã có 60 quốc gia ủng hộ lập trường của họ, tức là bác bỏ thẩm quyền Tòa Trọng Tài. Trong con số 60 đó họ kể tên những nước Nga, Ấn Độ, Ba Lan, Sudan, Pakistan, Belarus, vân vân.

Nhưng cho tới nay, chỉ mới có tám trong số 60 nước được nêu tên chịu tuyên bố nhất trí với Trung Cộng: Afghanistan, Gambia, Kenya, Niger, Sudan, Togo, Vanuatu và Lesotho. Trong tám nước này, Afghanistan (Á Châu) và Lesotho (Phi Châu) là hai nước không hề có biển, cũng chẳng làm ăn gì với vùng Biển Đông nước ta. Gambia, Kenya, Niger và Sudan đều ở châu Phi, riêng Gambia thì mới được hối lộ để bỏ Đài Loan theo Bắc Kinh. Còn Vanuatu là một đảo quốc tít mù khơi trong Thái Bình Dương.

Một số nước được nêu danh đã công khai cải chính: Fiji, Ba Lan, Slovenia, Bosnia & Herzegovina. Đa số, 45 nước còn lại thì lờ đi, không hề xác nhận ủng hộ Trung Cộng; hoặc chỉ tuyên bố đồng ý với Bắc Kinh trên một vấn đề khác. Thí dụ, chính phủ Nga đồng ý với Trung Cộng là không nên quốc tế hóa cuộc tranh chấp trong vùng Biển Đông. Đáng ngạc nhiên hơn cả là nhiều nước nhỏ, đã được viện trợ và đầu tư rất nhiều nhưng cũng không theo Trung Cộng. Từ Tháng Tư, Trung Cộng đã loan báo được ba nước ASEAN là Lào, Cambodia và Brunei ủng hộ. Tới nay cả ba nước vẫn không nói một lời nào. Phát ngôn viên chính phủ Camphuchia còn cải chính bản tin nói Cambodia và Tàu đã ký kết một thỏa ước.

Chính phủ Ấn Độ hoàn toàn không ủng hộ lập trường của Trung Cộng, như Bắc Kinh từng khoe. Tháng Ba vừa qua, nhật báo Manila Times đã loan tin Đại Sứ Ấn Độ Shri Lalduhthlana Ralte tuyên bố chính phủ ông hoàn toàn ủng hộ Công Ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc và dùng hệ thống trọng tài để giải quyết các xung đột. Ông còn khuyến cáo các nước phải tôn trọng luật lệ quốc tế trong các cuộc tranh chấp.

Đối nghịch với tám nước đứng ra ủng hộ Trung Cộng, 40 nước khác công khai chống, trong đó có 28 nước trong Liên Hiệp Châu Âu. Họ kêu gọi Trung Quốc và Philippines hãy tôn trọng và tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng Tài. Họ minh xác rằng quyết định của tòa có tính cách bắt buộc chứ không phải chỉ là lời khuyến cáo. Tất cả bẩy nước kinh tế lớn nhất, nhóm G-7 nằm trong số này. Nghĩa là cả thế giới loài người văn minh, tiến bộ muốn Trung Cộng phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Tháng trước, bộ ngoại giao Trung Cộng khoe có 40 quốc gia đồng ý lập trường của họ. Một tuần sau, họ tăng lên thành số 47, trong tuần lễ tiếp theo, đã vọt lên thành 60. Chiến dịch tuyên truyền leo thang này thất bại, chỉ gây phản ứng ngược. Nếu không bị Trung Cộng nêu đích danh thì những nước ở xa xôi như Ba Lan, Slovenia, Bosnia & Herzegovina không cần công khai lên tiếng bác bỏ lý luận của Bắc Kinh. Ngay một nước nhỏ vẫn được Bắc Kinh mua chuộc như Cambodia cũng vì bị ép ghi tên vào danh sách mà phải đính chính. Trên hết, những cuộc leo thang bằng miệng trên cuối cùng lộ nguyên hình là bịa đặt, gian dối! Nếu Trung Cộng muốn chinh phục cảm tình và tạo ảnh hưởng trong thế giới, họ đã thất bại thê thảm. Có nhà bình luận Tây phương còn viện dẫn cả Tôn Tử để chứng minh rằng từ hơn 2000 năm trước Hán tộc vẫn quen “đi đánh nhau thì cứ dối trá” (binh bất yếm trá). Người ta còn nêu thí dụ sử gia Ngư Hoạn (Yu Huan, Zb) từ thế kỷ thứ ba đã khẳng định Phật Thích Ca chính là Lão Tử từ Tàu đi sang Tây vực, cho nên đạo Phật chính là hậu thân của đạo Lão! Ngày nay, những lời quả quyết của Trung Cộng về chủ quyền ở Biển Đông cũng theo truyền thống dối trá đó!

Sở dĩ Trung Cộng lo hoảng trước về phán quyết của Tòa Trọng Tài là vì, nếu Philippines thắng, hậu quả sẽ không thể đoán trước được. Trước hết, một phán quyết bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc trên những bãi đá và hòn đảo của Phi sẽ mở cửa cho Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước khác thi thố hải quân, xác định quyền lưu thông tự do trong vùng Biển Đông. Họ sẽ không ngần ngại tạo thêm áp lực, dựa trên luật pháp quốc tế.

Thứ hai, những nước khác đang bị Trung Cộng lấn áp sẽ mạnh dạn hơn khi đối đầu với Bắc Kinh; nhiều nước sẽ đệ đơn kiện về các vụ tranh chấp khác. Indonesia đã bầy tỏ thái độ cứng rắn. Malaysia đang noi theo. Chỉ còn có Việt Nam là Trung Cộng có thể đã nắm được đầu thôi.

Điều đáng buồn cho cả dân tộc Việt Nam là chính quyền cộng sản sẵn sàng để cho Bắc Kinh nắm đầu. Trong bài phát biểu ngày 1 tháng 7 năm 2016, phát ngôn viên Ngoại Giao Lê Hải Bình đã nói lập lờ nước đôi. Thứ nhất, Cộng Sản Việt Nam kêu gọi Tòa Trọng Tài hãy đưa ra một phán quyết “công bình và khách quan.” Một tòa án uy tín lâu đời như vậy, đâu cần ai khuyên nhủ họ phải “công bình và khách quan?” Kêu gọi như vậy là một cách kín đáo ủng hộ những lời xuyên tạc của Bắc Kinh, nói rằng tòa án quốc tế này chỉ là một công cụ của chính phủ Mỹ và Philippines trong âm mưu cô lập hóa Trung Cộng!

Thứ hai, bản tuyên bố của chính quyền cộng sản ở Hà Nội không hề nói một lời nào yêu cầu hai nước Philippines và Trung Quốc phải tôn trọng và tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc tế. Đây là một né tránh có tính cách chiến lược, hoàn toàn đứng về phía Cộng Sản Trung Quốc!

Tháng trước, mục này đã bàn về mục đích chuyến đi Hà Nội của Dương Thiết Trì, người kế nhiệm Đới Bỉnh Quốc. Họ Dương muốn chuyển thông điệp nào cho đảng Cộng Sản Việt Nam? Chắc chắn các đòi hỏi của họ đều liên can đến phán quyết sắp ra của Tòa Trọng Tài. Trung Cộng muốn gì? Chỉ cần dạy bảo Nguyễn Phú Trọng hai điều: Một, phải tỏ ý nghi ngờ Tòa Trọng Tài thiên vị. Hai, hãy coi phán quyết của tòa không có giá trị nào hết, ai muốn theo thì theo!

Nguyễn Phú Trọng đã làm đúng những yêu cầu của Dương Thiết Trì! Trong lịch sử nước ta chưa có một chính quyền nào ở Hà Nội sợ Bắc Kinh đến như vậy!

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu



Ngô Nhân Dụng - Tập Cận Bình đấu dịu







Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại lễ khai mạc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế lần thứ 6





Tổng thống Mỹ Barack Obama mới qua Việt Nam và được hàng trăm ngàn dân Việt chờ đợi bên đường hoan nghênh nhiệt liệt. Chính quyền cộng sản cố tiếp đón ông Obama theo cách hờ hững, kém long trọng hơn cuộc tiếp rước Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mấy tháng trước.

Sau đó, khi dân Việt Nam đi biểu tình đòi bảo vệ môi trường sống, đả đảo công ty Formosa và các nhà thầu Trung Cộng, họ còn bị đàn áp mạnh mẽ. Việt Cộng cố bày tỏ lòng trung thành với các đồng chí anh em, nhưng Trung Cộng có hung hăng hơn đối với Mỹ để răn đe đàn em bốn tốt và 16 chữ vàng hay không? Nhiều dấu hiệu cho thấy họ đã đấu dịu.


Ngày Thứ Hai, 6 Tháng Sáu, 2016, tại Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình mới công khai bày tỏ ý kiến về mối bang giao Trung Quốc với Mỹ: “Điều cơ bản là hai nước phải giữ vững các nguyên tắc, là không xung đột hay đối đầu với nhau; kính trọng lẫn nhau, và hợp tác để cả hai cùng thắng lợi.” Tập Cận Bình tỏ ý muốn hai chính phủ phải tiếp tục đối thoại để nuôi dưỡng lòng tin tưởng và cộng tác với nhau.


Lời tuyên bố trên được đưa ra trong ngày khai mạc cuộc họp “Đối Thoại Chiến Lược Và Kinh Tế Mỹ-Trung” (US-China Strategic and Economic Dialogue, SED) lần thứ tám. Cuộc họp định kỳ này được Chủ Tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào và tổng thống Obama khởi đầu từ năm 2009. Năm nay, trong số hàng trăm viên chức cấp bộ trưởng tham dự, phía Trung Cộng có Ủy Viên Quốc Vụ Viện Dương Thiết Trì, Phó Thủ Tướng Vương Dương, và Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Chu Tiểu Xuyên và Tạ Chấn Hoa (Xi Zhenhua, 谢振华), phụ trách vấn đề khí hậu thay đổi; với các bộ trưởng hoặc thứ trưởng tài chánh, thương mại, giáo dục, canh nông, khoa học kỹ thuật, và văn hóa. Phía Mỹ có Ngoại Trưởng John Kerry và Bộ Trưởng Tài Chánh Jacob Lew. Trong hai ngày họp mặt, các bài thuyết trình tập trung vào các vấn đề kinh tế, thương mại, hợp tác khoa học và vấn đề khí hậu biến đổi, vân vân.


Nhưng trong cuộc gặp gỡ bàn những vấn đề kinh tế và chiến lược này, các mối bất đồng được nêu ra đều nhỏ. Mỹ muốn Trung Cộng giảm bớt việc sản cuất thép và nhôm vì các doanh nghiệp nhà nước dù lỗ vốn vẫn tiếp tục xuất cảng hàng dưới giá thành tràn gập thị trường thế giới. Trung Cộng muốn cuộc thảo luận về Hiệp Ước Đầu Tư Song Phương tiến nhanh hơn, và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ thông báo trước các quyết định về lãi suất vì nếu lãi suất ở Mỹ tăng lên thì đồng nhân dân tệ sẽ mất giá. Bên cạnh các đề tài trên, chủ đề gay go nhất, dù không được ghi trong ghị trình, vẫn là quan điểm xung khắc giữa Mỹ và Trung Cộng trong vùng Biển Đông nước ta.

Chính phủ Mỹ đã yêu cầu Trung Cộng phải tuân theo bản quyết định mà Tòa Trọng Tài Thường Trực Thế Giới sắp công bố, theo đơn kiện của chính phủ Philippines; mà Bắc Kinh đã báo trước sẽ không công nhận. Đồng thời Mỹ lên tiếng chỉ trích Trung Cộng đang gây thêm căng thẳng tại Biển Đông với các hành động biến các tảng đá ngầm thành căn cứ quân sự trong vùng biển đang còn tranh chấp. Đáp lại, Trung Cộng tố ngược rằng chính nước Mỹ đang gia tăng các hoạt động quân sự trong vùng!


Đối với các xung đột hiển nhiên đó, ông Tập Cận Bình đã nói rõ Trung Cộng không muốn đối đầu với Mỹ. Ngôn ngữ ông ta dùng rất ôn hòa, coi tình trạng “bất đồng ý kiến trên các vấn đề nhạy cảm” là hiện tượng dĩ nhiên phải diễn ra vì lịch sử, văn hóa hai nước khác nhau. Ông ta không nói gì về những lần phi cơ Mỹ và Trung Cộng nghênh nhau trên trời cũng như tàu chiến hai nước bám nhau ngoài biển! Ngược lại, ông giảng giải, “Không có lý do nào phải sợ các quan điểm bất đồng, điều quan trọng nhất là chúng ta không giữ một thái độ kình chống trên các điểm bất đồng đó.”


Tập Cận Bình giải thích thêm: “Nhiều điểm bất đồng có thể được giải quyết với những nỗ lực của hai bên khi cả hai đều cố gắng giải quyết.” Hơn nữa, “Những vấn đề chưa thể giải quyết được bây giờ thì hai bên nên nhìn nhận vị thế thực tế của nhau và giải quyết theo hướng xây dựng.” Tập Cận Bình dùng những hình ảnh hoa mỹ hơn, đề nghị Vùng Á Châu-Thái Bình Dương phải là một “đia bàn lớn bao dung lẫn nhau để hợp tác” (inclusive big ­platform for cooperation) chứ không phải là “một vùng cho các quốc gia thi thố đối đầu” (“arena for countries to leverage”)!


Mọi người có thể hiểu rằng Cộng Sản Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ, vì quân lực của họ chưa sẵn sàng. Nhưng lý do quan trọng nhất là nền kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ nếu xung đột vũ lực xẩy ra khiến hàng hóa không thể xuất cảng và tuyệt đường tiếp tế nguyên liệu và nhiên liệu. Khi hàng trăm triệu công nhân Trung Hoa theo nhau mất việc làm thì chỉ một năm hay nửa năm sau dân lục địa sẽ nổi loạn. Một hành động đấu dịu hiển nhiên là từ ba tuần qua các tàu hải giám của Trung Cộng đã ngưng không quấy nhiễu, để cho các thuyến đánh cá Phi Luật Tân được tự do hoạt động trong vùng biển hai bên đang tranh chấp.


Trước thái độ hòa hoãn của Tập Cận Bình, Ngoại Trưởng John Kerry đã khẳng định: “Lập trường của chúng tôi là các phe không được giải quyết những bất đồng (trong vùng Biển Đông) bằng những hành động đơn phương. Phải giải quyết bằng luật pháp, qua ngoại giao và thương thảo. Nước Mỹ kêu gọi các quốc gia hãy đi tìm các giải pháp ngoại giao, đặt nền tảng trên tiêu chuẩn quốc tế về tinh thần tôn trọng luật pháp.” Lời tuyên bố đó nhấn mạnh thêm ý kiến yêu cầu Trung Cộng phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Thế giới; và lên án việc Trung Cộng xây cất các phi tường và căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo.


Trước đó một ngày, trong cuộc hội họp Shangri-La tại Singapore, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter đã cảnh cáo Trung Cộng đang dựng lên một “Trường Thành Cô Lập” bằng các hành động quân sự hóa vùng Biển Đông. Để đáp lại, phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng, tướng Tôn Kiến Quốc (Sun Jianguo, 孙建国) chỉ phản ứng bằng một lời đe dọa ngầm chứa mối lo sợ bị các nước tẩy chay, khi ông ta nói rằng mọi âm mưu cô lập hóa Trung Quốc sẽ thất bại.


Ngay tại hội nghị Shangri-La, người ta đã thấy dấu hiệu Trung Cộng đang bị cô lập hơn, khi nước Pháp bắt đầu bầy tỏ thái độ về các xung đột tại Biển Đông. Chủ Nhật vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp Jean-Yves Le Drian đã nhắc tới và nhấn mạnh một luận điểm mà chính phủ Mỹ vẫn dùng làm căn bản chính sách của họ. Ông Le Drian kêu gọi hải quân các nước Châu Âu hãy thực hiện các cuộc hải hành “thường xuyên và biểu lộ rõ ràng” (regulier et visible) để chứng tỏ họ hiện diện trong vùng này. Mục đích của hành động đó là chứng tỏ các nước Châu Âu tuân thủ, tôn trọng luật pháp về biển và quyền tự do hàng hải. Ông Le Drian nêu những ý kiến cụ thể: “Nếu hôm nay mà luật biển không được tôn trọng tại vùng Nam Hải, thì ngày mai sẽ đến lượt các vùng biển Bắc Cực và Địa Trung Hải cũng như các nơi khác bị đe dọa.” Hai vùng biển được nêu tên trong câu này rõ ràng ám chỉ các hành động quân sự của chính phủ Nga tại biển Baltic và bở biển Syria.

Ông Le Drian cảnh báo, “Nếu chúng ta muốn ngăn ngừa mối nguy hiểm khi xung đột xảy ra, chúng ta phải bảo vệ quyền tự do hàng hải này, và chính chúng ta phải đứng ra bảo vệ,” ngầm nói rằng các nước Châu Âu không thể để cho một mình nước Mỹ đóng vai trò cảnh sát trên mặt biển!


Khi chính phủ Pháp nhập trận vào vùng biển Đông Nam Á, họ cũng chứng tỏ các nước khác ở Châu Âu không còn thờ ơ trước các hành động hung hãn của Trung Cộng. Một ngày sau khi ông Le Drian nói mạnh, chúng ta đã thấy phản ứng của Tập Cận Bình là đấu dịu.



Tuesday, June 7, 2016



Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Ngô Nhân Dụng - Chế độ Cộng Sản hấp hối



Ngô Nhân Dụng - Chế độ Cộng Sản hấp hối




Co VC rach nat.jpg




Ba tuần sau khi dân Hà Tĩnh thấy những con cá chết giạt vào bờ biển, trước cảnh lúng túng, trống đánh xuôi kèn thổi ngược của chính quyền Cộng Sản, nhật báo Người Việt đăng tin: “Vụ cá chết: Hệ thống công quyền Việt Nam như 'sắp chết.'”
Nhà báo ở nước ngoài tỏ thái độ thận trọng nên dùng chữ “như sắp chết.” Nhiều người Việt trong nước thì thấy đó là sự thật chứ không còn “như” gì nữa: chế độ Cộng Sản là con bệnh bắt đầu hấp hối.
Một bệnh nhân trước khi chết tâm hồn khó được bình an, lời nói bất nhất và hành vi vụng về, lúng túng, thường vì suốt đời đã sống không lương hảo. Trong một tháng qua, guồng máy chính quyền Cộng Sản biểu hiện đầy đủ các triệu chứng hấp hối đó.
Nhà nước Cộng Sản để gần ba tuần lễ trôi qua trước khi có một hành động hay lời nói nào chứng tỏ họ... đang cai trị 90 triệu con người! Trong một quốc gia bình thường, khi nghe tin cá chết hàng loạt giạt vào bờ biển, thì các cơ quan phụ trách về ngư nghiệp, về môi trường sống, về kinh tế, xã hội, chỉ trong một, hai ngày đều có phản ứng ngay. Ở Việt Nam, thì khác.
Ðầu tiên, khi xuất hiện, các quan chức chỉ nói những điều hoàn toàn vô ích: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã long trọng tuyên bố rằng thảm họa cá chết trắng biển “chỉ có một nguyên nhân,” là do “tác động của các độc tố thải ra từ hoạt động của con người.” Ðiều này thì cả nước ai cũng biết rồi! Những con cá chết đều vì độc tố, chứ chúng đâu có tự sát hàng loạt? Chỉ có con người thải độc tố, biển cả muôn đời có bao giờ giết cá hàng loạt như vậy đâu? Tuyên bố như các ông thì cũng không khác gì nói rằng “con cá chết vì nó không còn sống!” Những câu hỏi chính ai cũng thắc mắc, là “độc tố nào?” và “hoạt động của người nào?” thì không được nêu ra, cũng không ai trả lời. Ðó là tác phong một bộ trong chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Ðến khi bộ thứ nhì xuất hiện lên tiếng giải thích thì dân được nhìn thấy cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
Bộ thứ nhì ra mắt công chúng nói ngược lại, bác bỏ “nguyên nhân duy nhất” trên! Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường giải thích, “nguyên nhân của việc cá chết hàng loạt ở vùng duyên hải miền Trung là do tảo nở hoa, tức là hiện tượng ‘thủy triều đỏ.’” Nghĩa là không có độc tố nào làm cá chết! Cũng không phải con người tạo ra, biển mới có tội! Giới chức trách nhiệm trong Hiệp Hội Nghề Cá Việt Nam vội vã cải chính ngay giả thuyết thủy triều đỏ. Họ nói rằng “từ ngày cá bắt đầu chết cho đến nay, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy vùng biển dọc các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế có thủy triều đỏ.” Những dấu hiệu khi có thủy triều đỏ mà người trần mắt thịt nào cũng thấy được là: rong rêu (tảo) mầu đỏ trôi trên mặt biển. Nhưng không ai thấy. Tức là ông thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường nói láo. Nói láo trắng trợn, bất chấp hàng triệu đôi mắt của hàng triệu con người sống bên bờ biển bốn tỉnh miền Trung!
Người ta sẽ nói: Ðảng Cộng Sản vốn dĩ chuyên dối trá, lừa gạt người dân, hành động nói láo lần này không có gì mới lạ. Ðúng là họ quen nói láo xưa nay, nói láo lần nữa cũng do thói quen tự nhiên. Nhưng xưa nay họ nói láo rất tài, nói trắng thành đen, đen ra trắng mà nói khéo đến nỗi một nửa dân cả nước bị lừa. Chỉ có một điều mới, khá lạ, là sao lần này họ nói láo ngu ngốc và vụng về đến thế? Nói đến hiện tượng thủy triều đỏ vì rong biển sinh sôi bành trướng thì đứa trẻ lên tám cũng biết rằng nói xong người khác có thể kiểm chứng ngay, không cách nào giấu giếm được! Tại sao một viên thứ trưởng lại dại dột nói đại ra như vậy? Ông ta chỉ là một bộ phận trong cái cơ thể đang hấp hối, là đảng Cộng Sản Việt Nam, cái cơ thể đó không kiểm soát được cái lưỡi nữa rồi.
Cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược hiện ra cả tại cấp địa phương, tức là những người gần gũi với tai họa và các nạn nhân của tai họa. Một số cơ quan thấy cá chết hàng loạt đã khuyến cáo chính quyền các địa phương ngăn chặn không để dân ăn cá hay mua bán cá, dù cá còn sống. Ðiều này dễ hiểu, không phải chỉ có những con cá chết mới nhiễm độc, tất cả các sinh vật trong vùng Biển Chết Chóc này đều nhiễm độc, ăn vào người ta sẽ bị nhiễm độc!
Nhưng cùng lúc đó có nhiều quan chức khác lại khuyên dân cứ ăn cá, không sợ chết! Họ còn khuyên dân tiếp tục tắm biển, sau khi một thợ lặn chết bất ngờ và năm thợ lặn khác vào bệnh viện cấp cứu, với các dấu hiệu cho thấy họ đều bị nhiễm độc. Trên đảo Hòn Gió, tỉnh Quảng Bình, cách nhà máy thép của tập đoàn Formosa, nơi khởi đầu của thảm họa cá chết khoảng 20 hải lý, chim cũng chết hàng loạt. Những con chim này chắc đã ăn cá, ăn tôm trong vùng Biển Chết Chóc, dù đó là tôm cá còn sống!
Mấy ông lớn địa phương còn biểu diễn đi tắm biển, đi ăn cá, để lòng dân bớt hoang mang! Trông thấy cảnh đó, toàn dân Việt Nam chỉ muốn mời tất cả quý quan trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng đến tắm biển ở Hà Tĩnh, Quảng Bình suốt một tháng trời, để dân được yên lòng hơn! Có lẽ tất cả các đại biểu trong quốc hội bù nhìn cũng nên theo các quan trên đi tắm và ăn cá, thì lòng dân càng vui hơn nữa. Ðặc biệt là trong cả tháng qua không thấy một đại biểu nào hó hé nói một câu, kể cả các đại biểu của người dân Hà Tĩnh, Quảng Bình!
Việc nói năng dành cho quý vị quan chức đảng và nhà nước! Người dân được chứng kiến thêm nhiều hoạt cảnh ông nói gà bà nói vịt. Ngay sau khi một ngư dân phát giác “đường ống khổng lồ” dài 1.5 cây số, đường kính hơn một mét, dẫn nước thải từ Formosa Hà Tĩnh thuộc khu kinh tế Vũng Áng ra biển, một thứ trưởng Bộ Tài Nguyên-Môi Trường tuyên bố ông không hề thấy bất ngờ về sự hiện diện của ống cống khổng lồ này, vì chính Bộ này đã cấp giấy phép cho công ty Formosa Hà Tĩnh.
Ðến khi cảnh cá chết hàng loạt diễn ra, Bộ Trưởng Trần Hồng Hà của Bộ Tài Nguyên-Môi Trường nói ngược lại: Bộ ông không cho phép Formosa đặt ống dẫn nước thải ở đáy biển! Ý ông thanh minh: cho đặt ống cống, nhưng phải đặt ở trên mặt biển! Thế rồi ông Trần Hồng Hà yêu cầu Formosa phải nâng ống dẫn nước thải lên khỏi mặt nước! Nói mà không hề suy nghĩ! Ống cống ở trên mặt nước chỉ dài cây số rưỡi, khi đổ nước thải ra thì nó đổ vào đâu? Nước thải chảy xuống biển rồi nó cứ thế chạy thẳng... sang Tàu, hay là nó vẫn quanh quẩn trong biển Việt Nam? Chưa kể, bây giờ nâng ống cống lên, những cái cột chống đỡ nó sẽ làm cho ngư dân bị cản trở, hết đường qua lại, kiếm sống!
Hoạt cảnh bi hài nhất là cuộc họp báo của Bộ Tài Nguyên-Môi Trường ba tuần lễ sau khi phát hiện ra tai họa này. Họ kêu báo chí đến họp, để nghe giải thích nguyên nhân gây tai họa cá chết.
Trưa ngày 27 tháng 4, gần 150 phóng viên kéo đến chờ nghe. Nhưng các nhà báo chưng hửng, vì cuộc họp báo bị hủy bỏ! Nghe người ta chửi đã đời rồi các quan bèn nói lại: Họp báo chỉ hoãn tới bảy giờ tối! Các nhà báo quay lại họp. Ðến tám giờ tối, một ông thứ trưởng bước vào phòng họp, ông giải thích một điều ai cũng biết rồi như đã kể trên: Cá chết vì chất độc do người tạo ra! Bộ Tài Nguyên-Môi Trường còn xác định họ chưa tìm thấy bằng chứng nước thải từ Formosa khiến nước biển nhiễm độc! Hóa ra, cuộc họp báo chỉ cốt “giải oan” cho Formosa! Ðọc xong hai trang giấy, mất tất cả bảy phút, ông thứ trưởng vội vàng rút lui, không cho ai hỏi một câu nào! Sau đó ông còn đe dọa một phóng viên rằng không được nói những câu “gây tổn hại cho đất nước của mình!” Họa chăng gây tổn hại cho đảng ông và đồng chí anh em Trung Cộng của đảng!
Một con bệnh đang hấp hối tâm hồn thường hoảng loạn, nếu trong cuộc đời đã làm những việc trái với đạo lý, thất đức, ngược với lương tâm. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lộ ra những triệu chứng bất thường đó. Những cuộc biểu tình của hàng ngàn dân Việt từ ngày 28 tháng 4, tại làng biển Cảnh Dương tỉnh Quảng Bình, rồi từ Hà Nội vào đến Sài Gòn trong ngày 1 tháng 5, 2016, là những dấu hiệu cho thấy cơn hấp hối này sắp chấm dứt, con bệnh không thoát khỏi lưỡi hái của tử thần!


Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Ngô Nhân Dụng - Việt Nam đang là sông Như Nguyệt



Ngô Nhân Dụng - Việt Nam đang là sông Như Nguyệt






Nam Quoc Son Ha 2.jpg





Giáo Sư Kawaguchi hỏi tôi có đọc tin Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry đến thăm đài kỷ niệm ở Hiroshima chưa? Ðây là tin thời sự duy nhất được ông nhắc tới trong cả bữa cơm tối ở Tokyo. Báo, đài ở Nhật rất chú ý đến hành động tượng trưng này. Quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới do máy bay Mỹ thả xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, 200 ngàn người Nhật chết. Nhiều sử gia nhận xét rằng nếu không bị hai trái bom nguyên tử thì nước Nhật chắc không đầu hàng sớm. Chiến tranh sẽ tiếp diễn hàng năm nữa, hàng triệu người Nhật và quân Mỹ sẽ chết. Quân Nhật sẽ còn chiếm đóng Trung Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, Malaysia, vân vân, và hàng triệu người dân các nước đó có thể sẽ chết oan vì bom đạn, vì đói và bệnh dịch.


Khi đứng trước những đài kỷ niệm ở Hiroshima, tôi cũng thầm cảm ơn các nạn nhân ở đó, mỗi người chết thay cho mươi người khác, trong đó chắc có tôi. Dân Hiroshima không được chọn; cái chết bất ngờ tự trên trời rớt xuống. Trái bom nổ cách mặt đất mấy trăm mét, cây cầu Tương Sinh bay tung lên như chiếc lá, người ta còn ghi trên tấm bia. Người ra lệnh thả bom và viên phi công thi hành cũng không biết những người chết là ai. Chiến tranh là một nghiệp báo chung, loài người lôi kéo nhau vào trong cái guồng máy chém giết, người này chết để cho người khác sống. Người Nhật và người Mỹ còn đang nhìn lại và suy nghĩ về cái nghiệp họ cùng trải qua.

Trong lịch sử loài người, nhiều cuộc chiến tranh được chấm dứt, hoặc có thể tránh được nếu người ta dám hành động một cách quyết liệt. Tôi kể lại cho Giáo Sư Kawaguchi và cháu Aki Tanaka nghe về cuộc xâm lăng của quân nhà Tống, vào đời nhà Lý ở Việt Nam. Mấy trăm ngàn quân Tống kéo sang, vua, tướng, và quân, dân Việt Nam nhất định kháng cự. Quân Ðại Việt lập đồn phòng thủ, quân hai bên gờm nhau hai trên hai bờ sông Như Nguyệt. Cuối cùng, quân Tống phải rút về sau vài trận đụng độ, vì lính của họ mắc bệnh chết nhiều quá. Nếu vua Lý Nhân Tông và Lý Thường Kiệt run sợ, thì chắc quân Tống đã chiếm được nước ta rồi.

Trong suốt lịch sử nước ta, người Việt đã kháng cự được âm mưu đồng hóa và các cuộc xâm lăng của vua quan Trung Quốc nhờ dân ta sống ở phương Nam, người Hán phương Bắc không chịu được thời tiết, khí hậu; họ bó tay trước sức tấn công của các loài vi khuẩn và bệnh tật mới lạ. Thiên nhiên là đồng minh lớn nhất của dân tộc mình, giới lãnh đạo người Việt biết như vậy. Và họ luôn luôn sử dụng sức hỗ trợ của các đồng minh đó. Vì nhìn trên bản đồ, dân tộc Việt thấy chỉ có một cường quốc duy nhất “ở trên đầu” mình. Nước Ðại Việt cô đơn hoàn toàn, chung quanh không có một quốc gia nào đủ sức giúp mình chống lại các đạo quân Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ngược lại, các ông vua nhà Nguyên, nhà Thanh còn tìm cách liên kết với các vua chúa Chiêm Thành, Chân Lạp để cô lập dân Việt.

Trong thế kỷ 21 này, người Việt Nam không thể nương tựa vào các “đồng minh cũ” được nữa. Nếu xâm lăng Việt Nam, quân Trung Quốc có thể vượt qua các chướng ngại như “lam sơn, chướng khí” và các loài vi khuẩn.

Nhưng ngược lại, dân tộc Việt bây giờ cũng không còn một mình phải chống chọi với tất cả sức nặng của hơn một tỷ người Trung Hoa nữa. Tất cả thế giới liên hệ với nhau trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, rút dây thì động rừng, khu rừng lan rộng khắp mặt địa cầu.

Vì vậy, trong Hội Nghị G-7 của bảy cường quốc kinh tế, ngoại trưởng cả bảy nước đã lên tiếng cảnh cáo Trung Cộng về vấn đề an toàn tại Biển Ðông. Bản tuyên bố chung G-7 viết: “Chúng tôi mạnh mẽ phản đối bất cứ hành động đe dọa, ức hiếp hay khiêu khích đơn phương nào có thể thay đổi nguyên trạng và làm tình hình căng thẳng hơn.”

Những hành động đe dọa, ức hiếp, khiêu khích nhắm vào nước nào, ngoài Việt Nam, Philippines, Indonesia và Malaysia? Bản văn còn nói cụ thể, rõ ràng hơn, kêu gọi “tất cả các nước” ngưng những hành động “bồi đắp đảo nhân tạo,... xây dựng tiền đồn và sử dụng chúng cho các mục đích quân sự,...” Nói “tất cả các nước” nhưng ai cũng hiểu bảy vị ngoại trưởng nhắm vào chính quyền Cộng Sản Trung Quốc.

Thủ Tướng Nhật Shinzō Abe và ngoại trưởng Fumio Kishida đã thành công khi đòi ghi vấn đề Biển Ðông nước ta vào nghị trình cuộc họp G-7 năm nay. Bắc Kinh đã công khai phản đối việc bảy nước đem vấn đề này ra thảo luận. Trong cuộc họp tại thành phố Lubeck, nước Ðức năm 2015, bảy quốc gia chỉ nhắc tới quy tắc “tự do hàng hải” mà không ám chỉ đến các hành động “đe dọa, ức hiếp, khiêu khích” của Trung Cộng ở Ðông Nam Á. Năm ngoái, các nước Châu Âu vẫn còn dè dặt không muốn dính líu tới các xung đột ở vùng biển xa xôi này. Nhưng năm nay hai ông Abe và Kishida đã cương quyết không lùi bước, và sau cùng họ thành công. Mỹ, Nhật Bản và các nước Châu Âu đã “leo thang” thêm một bước bằng hành động cảnh cáo mới nhắm thẳng vào chính quyền Trung Cộng.

Các nước Châu Âu đã chấp nhận tiến một bước mạnh hơn vì những hành động vi phạm luật biển quốc tế của Trung Cộng, hiển nhiên âm mưu quân sự hóa vùng “lưỡi bò” của họ. Họ còn được cả Mỹ lẫn Nhật Bản thúc đẩy, bằng hành động. Mỹ đã kêu gọi các nước khác tăng cường việc tuần thám ở Biển Ðông. Nhật Bản công khai hỗ trợ các nước Ðông Nam Á bảo vệ chủ quyền trên biển.

Nguyên nhân chính khiến các cường quốc dấn thân mạnh hơn vào trong khu vực đầy xung đột này là kinh tế.

Trung Cộng không phải là một đe dọa quân sự đối với các cường quốc G-7. Nhưng nếu Trung Cộng kiềm chế được các nước Ðông Nam Á và đóng vai “bá chủ” trong vùng biển này, thì kinh tế cả Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ, và Châu Âu cũng lệ thuộc vào chính sách của Bắc Kinh. Trên thế giới ngày nay, không một nước nào, kể cả các quốc gia “nhỏ” như Singapore, Malaysia, Indonesia, chấp nhận để một cường quốc xưng hùng xưng bá kiểm soát quyền giao thương và quyền sống của nước mình.

Năm 1941, chính quyền quân phiệt Nhật Bản quyết định bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ tại Cảng Trân Châu sau khi hải quân Anh, Mỹ phong tỏa vùng biển Ðông Nam Á, ngăn đường tiếp tế nguyên liệu và dầu lửa, kinh tế Nhật bị tắc nghẽn. Muốn tránh một cuộc chiến tranh Châu Á trong thế kỷ 21, muốn tránh không xảy ra những vụ Hiroshima mới, cả thế giới phải góp tay ngăn chặn ý định xưng hùng xưng bá bằng Ðường Lưỡi Bò, Ðường Chữ U, hay “Cửu Ðoạn Tuyến” của đảng Cộng Sản Trung Hoa.

Cuộc xâm lược của Trung Cộng diễn ra với chiến lược “cắt giò” (salami slicing) từng khúc một, hoặc nói như Tướng Trương Thiệu Trung (Zhang Zhaozhong, 張召忠), đó là chiến lược “lột cải bắp” chầm chậm từng lá cải một. Nước Việt Nam bất hạnh trở thành khúc giò đầu tiên Bắc Kinh đã và đang tiếp tục cắt. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã “dọn cỗ” sẵn cho Trung Cộng kể từ khi mời các cố vấn Hồng Quân qua chỉ đạo chiến tranh, từ đó càng ngày càng lệ thuộc. Chính sách ngoại giao “kết bạn đồng chí” sai lầm từ năm 1950 đã đặt dân tộc vào tình trạng đau đớn ngày nay.

Quân nhà Tống trước đây 10 thế kỷ chỉ tấn công nước Ðại Việt. Ngày nay Trung Cộng muốn chiếm cả vùng biển Ðông Nam Á để mở “Con đường Tơ Lụa trên biển” sang tới Châu Âu. Năm ngoái, Trung Cộng đã được phép lập một căn cứ quân sự ở Djibouti, cựu thuộc địa Pháp ở bờ biển bán đảo Á Rập. Ấn Ðộ, các nước Trung Ðông, và cả Châu Âu phải lo canh phòng. Tham vọng của các hoàng đế đỏ có giới hạn nào không?

Nước Việt Nam bây giờ đang trở thành con sông Như Nguyệt cho cả vùng Ðông Nam Á và cho cả thế giới. Dân tộc Việt phải đóng vai Lý Thường Kiệt. Các cường quốc cần ngăn không cho quân xâm lăng tiến qua con sông Như Nguyệt này, bóc lá cải Việt Nam rồi bóc thêm những lá cải khác! Hội Nghị G-7 đã công nhận sự thật đó. Phong trào “NO U” của dân Việt đang được cả thế giới ủng hộ. Ðây là lúc dân Việt Nam phải hành động cương quyết, mạnh mẽ hơn. Không thể chỉ tiếp tục phản đối suông nữa! Năm 2014 chính quyền Hà Nội đã phản đối vụ Hải Dương 981 hơn 40 lần, cuối cùng đâu vẫn đó! Hiện nay chúng ta không cần các loài vi trùng, vi khuẩn giúp “ngăn đường giặc Hán,” vì chúng ta có cả thế giới đứng sau lưng. Thắng trong trận sông Như Nguyệt của thế kỷ 21 này, loài người sẽ tránh được một cuộc chiến tranh thế giới mới và những vụ Hiroshima khác.

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

Ngô Nhân Dụng - Mua lại nước Việt Nam



Ngô Nhân Dụng - Mua lại nước Việt Nam





luong-tro-cap-thoi-viec.jpg



Trong Hồ Sơ Panama có người nào họ Nguyễn không? Hoặc họ Trần, hay họ Lê, họ Phùng cũng được. Nhiều người chắc sẽ thất vọng nếu trong số 140 nhân vật được nêu tên trong hồ sơ này không có người Việt nào cả. Và tất nhiên cũng có một số người vui mừng.


Người vui mừng có lý do. Thứ nhất là họ không thấy tên mình. Có tên trong bảng vàng đó không danh giá chút nào. Tất cả các tên tuổi được nêu ra trong danh sách đều giầu sụ nhưng nguồn gốc tài sản thì không biết ở đâu ra. Nghĩa là khả nghi: Người ta sẽ hỏi, đây là tiền ăn trộm ăn cướp, ăn hối lộ hay buôn lậu? Tại sao ông Vladimir Putin có hai tỷ đô la Mỹ? Có tỷ phú nào đó hâm mộ ông, mỗi năm đến Tết lại xách một túi tiền đến tặng ông chăng? Tiền đâu mà ông em vợ Tập Cận Bình lại làm chủ những công ty ở ngoại quốc trị giá hàng trăm triệu đô la? Nhiều đảng viên Cộng Sản Việt Nam chắc cũng mừng nếu thấy không có đồng chí lãnh tụ nào của họ dính trong hồ sơ mới bị tiết lộ từ công ty cố vấn pháp luật Mossack Fonseca tại Panama. Vì rút dây động rừng, thằng trên dính cấp trên thì thằng dưới sẽ dính, cấp thấp hơn.

Rất nhiều người sẽ thất vọng khi không thấy tên Việt Nam nào dính, trong khi ai cũng biết bọn tham quan đã vơ vét hàng triệu, hàng tỷ đô la nhờ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Ai cũng muốn vạch mặt chỉ tên bọn chúng! Nhưng nếu nước Việt Nam không có ai góp mặt trong danh sách Panama này thì cũng dễ hiểu: Nước mình còn nghèo. Trong một nước nghèo thì ngay đến phường trộm cắp cũng nghèo, các cô gái giang hồ cũng nghèo hơn người ta. Bọn “cướp ngày là quan” cũng khó tích tụ được tài sản hàng tỷ Mỹ kim nếu mỗi trận đánh lớn như Vinashin nếu ăn cắp được bạc tỷ thì cũng phải chia trên chia dưới, anh ăn nhiều nhất cũng chỉ nuốt được mấy trăm triệu. Chưa đủ giầu để thuê công ty Mossack Fonseca rửa tiền giúp.

Hãy coi cả nước Tàu, dân đông hơn 10 lần nước mình, đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn được Cộng Sản Việt tôn làm thầy, thế mà cũng chưa có đến 10 tên Trung Hoa trong danh sách 140 người. Nhưng nhìn vào các tên tuổi đó người ta cũng thấy một đặc tính, là các lãnh tụ Cộng Sản không những chỉ ăn cướp để lo cho đời mình mà còn lo cho con, cho cháu, chắt và anh chị em nữa. Trong danh sách ngoài tên của em vợ Tập Cận Bình ra, còn có tên cô con gái của Lý Bằng, viên cựu thủ tướng đã tàn sát sinh viên và công nhân tại Thiên An Môn năm 1989; còn tên một cháu nội hay cháu ngoại của Giả Khánh Anh, một thành viên thường vụ Bộ Chính Trị Trung Cộng.

Ðúng là một truyền thống Á Ðông: Một người làm quan cả họ được nhờ!

Các lãnh tụ Cộng Sản cố bám lấy quyền hành là để bảo vệ các quyền lợi cho gia đình, tới đời con, đời cháu còn được hưởng. Những tay ăn trên ngồi trốc này muốn đảng Cộng Sản tiếp tục nắm quyền, ít nhất trong đời họ, để bảo vệ tài sản “đời cha gian khổ củng cố đời con.”

Nhưng còn các đảng viên Cộng Sản cấp thấp, không có khả năng ăn hối lộ hàng triệu Mỹ kim, họ có thấy cần bảo vệ độc quyền cai trị của đảng hay không?

Một độc giả Người Việt gần đây mới viết thư nhắc tới mối lo lắng của nhiều đảng viên lớn tuổi trong đảng Cộng Sản Việt Nam: Họ lo lắng về cái sổ lương hưu. Suốt đời họ phục vụ đảng, nghĩ rằng họ đang phục vụ đất nước. Ðến tuổi già, họ chỉ trông cậy vào sổ lương hưu. Bọn tham quan còn có những nguồn lợi mánh mung được; để của tới đời con, đời cháu còn dư dả. Nhưng các đảng viên bình thường thì chỉ có sổ lương hưu. Họ lo sẽ không còn được lãnh lương hưu nếu chế độ Cộng Sản sụp đổ. Vì vậy, dù chán ngấy cái chế độ độc ác đang lụn bại, nếu nó cứ tiếp tục cai trị, ít nhất cho đến khi họ qua đời, thì họ an tâm hơn. Họ không dám đấu tranh thay đổi chế độ.

Nhiều đảng viên Cộng Sản khác còn mang nỗi lo lắng lớn hơn quý vị lão thành về hưu kể trên. Không những lo mất tài sản, tiền bạc, nhiều người còn lo mạng sống, lo cả cho con cháu! Con cái rồi không biết mình làm được nghề ngỗng gì ngoài cái nghề đảng viên, nghề cấp ủy cha truyền con nối.

Cho nên dù biết thế giới này sẽ không còn chế độ Cộng Sản nào nữa, nhiều đảng viên bình thường vẫn cố bảo vệ cho nó sống càng lâu càng tốt, trong khi chính họ tìm đường hạ cánh an toàn. Khẩu hiệu “Ðảng còn thì mình còn” không phải chỉ đúng trong giới công an.

Vì vậy, bây giờ là lúc nên nhắc lại một đề nghị đã được đưa ra tại Ba Lan trong thập niên 1980: Mua lại đất nước đang bị đảng Cộng Sản chiếm làm vật sở hữu. Chúng tôi đã nhắc tới đề nghị này trong cuốn Ðổi Mới Kinh Tế, ký tên Vương Hữu Bột, in năm 1989 trước khi bức tường Berlin sụp đổ. Trong thập niên 1980, người Ba Lan đã nảy ra sáng kiến này: Mặc cả với đảng Cộng Sản để mua lại nước Ba Lan. Trả giá nào thì hai bên có thể thuận mua, vừa bán?

Các giáo sư kinh tế học hồi đó đã tính toán, theo phương pháp thuần túy nghề nghiệp của họ: So sánh phí tổn với lợi ích. Làm cách mạng lật đổ chế độ sẽ tốn kém rất nhiều, cả mạng người lẫn tài sản bị phá hủy. Nếu các lãnh tụ Cộng Sản đồng ý trả lại nước Ba Lan cho người dân tự quyết định chọn người quản trị, thì sẽ tránh được những phí tổn đó. Nhưng đổi lại, họ sẽ nhận được cái gì? Nói cách khác, cái giá mà dân Ba Lan phải trả để cho các lãnh tụ Cộng Sản rời khỏi chính quyền là bao nhiêu? Nếu cái giá đó thấy rất thấp so với phí tổn nếu làm cách mạng, thì nên mua!

Công cuộc chuyển giao quyền hành ở Ba Lan từ năm 1989 không phải là kết quả của một cuộc thương lượng theo kế hoạch “mua lại” kể trên, nhưng có thể cũng chịu ảnh hưởng của ý kiến này.








Trước khi bàn đến giá cả trong cuộc mua lại nước Việt Nam từ tay đảng Cộng Sản, phải giải thích tại sao chính các đảng viên Cộng Sản, cả những lãnh tụ đang hốt bạc và sắp hốt bạc, lại có thể đồng ý tham dự cuộc mặc cả mua bán này.

Chúng tôi xin phân tích theo lối kinh tế học, do thói quen nghề nghiệp. Bất cứ ai, khi phải lựa chọn nhiều con đường kinh doanh, cũng muốn chọn đường nào ít rủi ro nhất. Phải đem so sánh lợi nhuận có thể đạt được cùng một lúc với những may rủi sẽ phải chấp nhận.

Ðối với các đảng viên Cộng Sản đang có cơ hội khai thác doanh lợi nhờ đảng nắm quyền, thì có hai con đường trước mắt họ: Một là cố bám lấy quyền hành của đảng. Hai là chuyển nhượng quyền cho dân Việt Nam tự cai trị lấy. Còn nắm quyền tức là còn thu lợi, lợi rất lớn. Nhưng cũng rất nhiều rủi ro. Một mối lo là không biết lúc nào đảng có thể tan rã, mất chính quyền vì dân uất ức, rồi đảo chính, rồi cách mạng. Rủi ro cụ thể hơn nữa là chế độ Cộng Sản vẫn còn nhưng mình và phe cánh mình mất quyền. Vụ này cũng không biết lúc nào xẩy ra.

Ðang làm chủ tịch nước, đang làm thủ tướng, làm bộ trưởng, vụ trưởng, đùng một cái chúng nó bảo mình xuống, cho đứa khác lên ngồi! Bao nhiêu ông thầy bói không ông nào báo trước cho cái biến cố bất ngờ đó!

Không những mất cơ hội làm giầu, tài sản có thể mất nếu chúng nó giở trò chống tham nhũng ra truy tầm nguồn gốc tài sản của mình, mạng mình cũng có thể mất nữa. Một lãnh tụ Cộng Sản dùng chính sách thuê bọn côn đồ đánh người, cũng không biết đến lúc nào sẽ có đứa nó cũng thuê côn đồ đánh vợ mình, con mình!

Cho nên ngay trong hàng ngũ các cán lớn, cán nhỏ, ai cũng muốn tìm xem có con đường nào cho cuộc sống bớt rủi ro hơn. Những lãnh tụ và đảng viên giầu nhất cũng có thể đồng ý đem bán lại chính quyền cho đám dân bị trị, họ chấp nhận hưởng lợi nhuận thấp hơn nếu tránh được hoặc ít nhất bớt được rủi ro.

Những người có tài sản đều muốn sống trong một xã hội có pháp luật, bảo vệ tài sản tư nhân. Tài sản càng lớn thì nhu cầu đó càng cao. Con mình nó còn giữ được chức vụ đấy, vẫn có thể làm ăn được đấy, nhưng có lo bị chúng nó dùng thủ đoạn chặn đầu chặn đuôi, rồi đè con cháu mình xuống tới đất đen hay không? Xã hội Cộng Sản là nơi bất trắc nhất đối với những người có tiền. Chính các đảng viên Cộng Sản khá giả cũng muốn thoát!

Một cách tránh rủi ro thông dụng nhất hiện nay là đi, dậy mà đi... ra nước ngoài. Nhiều lãnh tụ, quan chức Trung Cộng và Việt Cộng đã đưa con cái qua Mỹ qua Úc, Canada sống, chuyển tài sản ra gửi ngân hàng nước ngoài. Nhưng đa số vẫn còn kẹt cứng trong chế độ cộng sản! Nếu có cơ hội thay đổi, chính họ cũng muốn thay đổi, miễn là họ có thể hạ cánh an toàn.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Ngô Nhân Dụng - Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội



Ngô Nhân Dụng - Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội






an cap-Thuy Si.jpg




Khi đọc bản tin hai du khách người Việt bị bắt vì ăn cắp ở mấy đôi kính mát ở Zurich, Thụy Sĩ tôi rất buồn. Ðã tính đi ăn cắp tại sao hai cháu không làm ăn “quy mô lớn xã hội chủ nghĩa” mà lại đi ăn cắp vặt như vậy? Về Hà Nội, “phấn đấu vào đoàn,” rồi “phấn đấu vào đảng” để làm những vố lớn có hơn không? Nếu sau này không được như Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, thì ít nhất cũng theo gót được Nguyễn Xuân Sơn chứ?


Sau Nhật Bản, Thái Lan, Ðài Loan, từ nay lại thêm Thụy Sĩ là nơi người ta phải cảnh giác khi thấy du khách người Việt Nam. Sỉ nhục cho cả dân tộc! Nhưng nghĩ cho cùng, không phải mấy cá nhân phạm pháp gây ra mối nhục này; họ cũng là nạn nhân. Chính phạm là một chế độ ăn cắp từ trên xuống dưới, lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ!

Khi trở về Hà Nội, chắc hai cháu đã nghe tin Nguyễn Xuân Sơn. Mấy bữa trước còn chễm trệ trên ghế chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam), giờ Sơn đang bị truy tố về tội “làm mất” 800 tỷ đồng (tương đương 36 triệu Mỹ kim) của công ty dầu khí, khi còn làm tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ðại Dương (OceanBank).

Nguyễn Xuân Sơn đã làm trong ngành dầu khí từ 30 năm. Ông trở thành tổng giám đốc OceanBank sau khi PetroVietnam góp số vốn lớn vào ngân hàng này, có lúc chiếm hai phần ba vốn góp. Một công ty dầu khí lại đi khai thác ngân hàng, cũng như một công ty hàng hải Vinashin đi làm khách sạn, mua địa ốc, vân vân. Ðó là chính sách kinh tế quốc doanh của Nguyễn Tấn Dũng: Chúng mày làm cái gì ra tiền thì cứ làm! Trong một năm từ 2008 khi Nguyễn Xuân Sơn nhậm chức, số nợ xấu của OceanBank tăng gấp 9 lần, lên hơn 100 tỷ đồng! Ðến năm 2012 thì vọt thành 700 tỷ. Nợ xấu là những món tiền ngân hàng cho vay nhưng khó đòi lại được, để lâu “cứt trâu hóa bùn.”

Thế thì 100 tỷ đồng năm trước, 700 tỷ đồng bạc năm sau, chúng chạy đi đâu cả? Chắc chắn nó vào túi những thằng đứng vay cũng như những thằng cho vay! Cái đứa chấp thuận cho vay còn phải “đóng hụi chết” cho những đứa ngồi trên đầu nó nữa, chứ không ai cho ngồi vào những cái ghế béo bở!

Nhưng mà các đồng tiền ấy nguyên thủy chúng ở đâu mà ra? Như trong vụ này, họ lấy tiền của PetroVietnam đưa qua cho OceanBank. Mà PetroVietnam kiếm được tiền nhờ bán dầu của nước Việt Nam, của dân Việt Nam. Ðồng tiền của dân chạy sang một ngân hàng của nhà nước, rồi từ đó chạy qua túi những đứa đứng vay tiền và cho vay tiền! Những người “phấn đấu vào đảng” mới có cơ hội hóa phép cho các đồng tiền chạy lòng vòng, cuối cùng biến chúng lọt vô túi mình một cách dễ dàng như vậy! Ngân hàng chỉ là cái dây chuyền đem tiền của dân vào túi bọn tham nhũng! Hàng ngàn tỷ đồng tiền mất tích! Mà 90 triệu người Việt Nam không ai thấy gì cả, cho tới khi chúng nó đánh lẫn nhau! Ðó là phép lạ kinh tế thị trường theo định hướng ăn cắp!

Nguyễn Xuân Sơn đã trở về PetroVietnam khi nợ xấu mới lên tới 700 tỷ, rồi leo lên đến chức chủ tịch, chứng tỏ cán bộ tài chánh này đã được cấp trên tán thưởng và tin cậy. Nhưng với những món nợ không đòi lại được cao ngất nghểu thì tất nhiên sau khi Sơn chạy rồi, OceanBank chỉ còn đường xuống dốc. Từ cuối năm ngoái, những người kế nghiệp ông ta ở ngân hàng là Hà Văn Thắm và Nguyễn Minh Thu đã bị bắt, bị truy tố. Mới đây, ngân hàng trung ương gọi là Ngân hàng Nhà nước báo tin đã mua lại tất cả vốn và nợ của OceanBank với giá 0, số không, zero đồng! Tức là tất cả số vốn do PetroVietnam góp vô đó tan thành mưa bụi, thành mây khói. Ðây không phải là lần đầu có chuyện này mây mưa như vậy. Năm tháng trước, Ngân hàng Nhà nước mới “mua lại” Ngân hàng Xây dựng với giá cũng zero đồng - chủ tịch cũ Phạm Công Danh với tổng giám đốc Phan Thành Mai đã bị bắt vào năm ngoái!

Ðọc những tin tức trên, chúng tôi tội nghiệp hai cô chú bị bắt ở Zurich, hay những người ăn trộm chó bị bắt ở Ðài Loan, những cô tiếp viên phi hành xinh đẹp bị cùm ở Nhật Bản! Toàn là những món trộm cắp lặt vặt, không bao giờ tiến lên chủ nghĩa xã hội được! Mà bọn họ tất cả đều là nạn nhân, vì họ chỉ nhiễm độc thói sống bằng cách ăn cắp, thăng quan tiến chức nhờ ăn cắp, trong một xã hội mà bọn cầm đầu từ trên xuống dưới đứa nào cũng phải ăn cắp!

Nhắc lại: Phải ăn cắp! Vì không ăn cắp thì không sống được trong hệ thống “đạo kiếp trị” (kleptocracy) đó. Một người cháu sống ở Hà Nội đã giải thích cho tôi tại sao đường sá ở Việt Nam mới làm năm trước năm sau đã hư: “Khổ lắm bác ơi; nước mình nó khác nước Mỹ! Nếu bác làm đường mà cả mười năm không chỗ nào hư hỏng thì chúng nó làm thế nào kiếm ăn được? Không đứa nào nó cho bác trúng thầu đâu! Mỗi năm chúng nó phải kiếm một món về đường sá, một món về trường học, một món nhờ chỗ này, nhờ chỗ khác chớ?