Hiển thị các bài đăng có nhãn KỶ NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KỶ NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Hoàng Cơ Định - Kỷ Niệm Về Một Người Anh Trong Thời Niên Thiếu



Hoàng Cơ Định - Kỷ Niệm Về Một Người Anh Trong Thời Niên Thiếu



Hôm nay là đầu tháng 3. Cứ vào dịp này mỗi năm tôi lại nhớ lại kỷ niệm 30 năm về trước, tới ngày 8/3/1982: Ngày Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam công bố Cương Lãnh.

Cả tuần lễ trước, chúng tôi bồn chồn chờ đợi, không biết công việc sẽ diễn tiến ra sao. Ngày Công Bố Cương Lãnh đó đã đem lại nhiều thay đổi trong đồi sống chúng tôi... Với ông Hoàng Cơ Minh, kể từ ngày đó ông không còn đơn thuần là một người Việt tỵ nạn, một cựu Tướng Lãnh trong quân lực VNCH. Có một điều không đổi là ông vẫn tiếp tục là "Anh Minh" của tôi như bao năm trước…

Hôm nay tôi xin kể lại với quý bạn "Kỷ Niệm về một người Anh trong thời niên thiếu".
Hoàng Cơ Định
***


Anh Hoàng Cơ Minh hơn tôi 5 tuổi, anh sinh ngày 20 tháng 6 năm 1935 tại Hà nội, Bắc Việt. Những kỷ niệm thời thơ ấu tôi đã có với anh là hồi tản cư trong chiến tranh chống Pháp.
Gia đình tôi hồi đó tản cư lên tận Việt Bắc, sau vì không chịu được bệnh tật nơi vùng rừng núi và không có nguồn sinh kế nên đã phải tìm về nhà cũ tại Hà Nội lúc đó trong vùng do quân đội Pháp kiểm soát. Vì việc vượt tuyến từ vùng Việt Minh qua vùng Pháp chiếm đóng có nhiều rủi ro, nguy hiểm nên gia đình tôi đã chia làm 2, một nửa theo thân mẫu tôi về Hà nội trước, nửa kia tạm ở lại hậu phương (danh từ gọi chung vùng Việt Minh kiểm soát vào thời bấy giờ). Với thân phụ chúng tôi, anh Hoàng Cơ Minh và tôi ở trong số nửa ở lại này.

Với 4 anh chị em, bà chị lớn 17, anh Minh 12, tôi 7 tuổi và một chú em lên 5, anh Minh và tôi trở nên đôi bạn thiết đi đâu cũng có nhau, hay đúng hơn, anh đi đâu chơi tôi cũng lẽo đẽo theo. Thú vui lớn nhất của chúng tôi là lội xuống ao xúc cá, đây vừa là trò chơi vừa là nhu cầu vì anh em tôi có nuôi một con cò, cần đi kiếm đồ ăn cho cò... Tôi theo anh Minh lội xuống các ao, hồ trong vùng, khẽ lùa chiếc rổ dưới lớp bèo rồi từ từ nhấc lên... Cứ như vậy trong nửa buổi hai anh em, cũng bắt được một vốc tay cá và tôm tép núp dưới lớp bèo. Có lần chúng tôi bắt được một chú rắn nước, anh Minh nhanh nhẹn chộp lấy cổ con rắn và hôm đó chú Cò của chúng tôi được thưởng thức một món ăn khó nuốt và lạ miệng.
Anh Minh là người rất bạo, anh có thể cầm thẳng mấy con sâu mà không ghê tay, nhưng hình ảnh anh ngày hôm đó nắm cổ con rắn với cái đuôi quằn quại đã tạo cho tôi rất nhiều ấn tượng... Với sự chênh lệch tuổi tác là 5 tuổi, anh Minh thường phải “hạ mình” để có thể vui chơi những trò vừa với lứa tuổi của tôi như chua me, cỏ gà. Mô tả trò chơi cỏ gà hơi khó, giải thích làm sao chơi chua me dễ hơn. Chua me là loài thảo thân mềm với một chiếc lá duy nhất có 4 cánh, nhác trông như một cành sen thu nhỏ. Lõi của thân cây chua me là một sợi giống như sợi chỉ. Sau khi bóc đi phần ngoài, thì chỉ còn lại chiếc lá tâm điểm gắn vào “sợi chỉ”. Hai bên giao đấu mỗi bên cầm 1 sợi chua me và ngoắc 2 chiếc lá vào với nhau rồi kéo, bên nào “đứt chỉ” là thua. Anh Minh chịu khó kiếm được những cây chua me lớn và già, tôi luôn luôn thua, cho tới hôm tôi nẩy ra ý gian lấy một sợi chỉ thật buộc vào một lá chua me và giựt đứt đầu 3 “chiến tướng” của anh. Khám phá ra, anh rất giận tát cho tôi một bạt tai nên thân, và tôi nhớ đó là lần duy nhất tôi bị anh đánh đòn trong suốt thời thơ ấu.

Tôi cũng học được ở anh Minh trò chơi phức tạp hơn là làm thuốc pháo. Phía sau đình làng có 1 bức tường, trên mặt tường xuất hiện một lớp bột trắng chỉ cần cạo nhẹ là hứng lấy được. Bột này trộn lẫn với than cây tán nhỏ sẽ có thể dùng làm thuốc pháo. Lúc đầu anh Minh giữ bí mật không cho tôi biết lấy thứ “bột trắng” này từ đâu, sau vì tôi quan sát thấy bột trắng đó có lẫn vôi quét tường nên bạ tường nhà ai cũng cạo ra xem có làm được thuốc pháo không, anh thấy tội nên đã chỉ cho tôi bức tường bí mật và bí quyết của anh (không biết là học được từ sư phụ nào). Sở thích của tôi về môn hóa học phần nào cũng bắt nguồn từ đó. Sau này tôi mới biết chất bột trắng chính là chất salpêtre thường thấy trên tường chuồng ngựa do nước tiểu ngựa bị phân hủy mà thành. Còn chất salpêtre anh em tôi cạo được tại sau đình làng thì không có nguồn gốc từ ngựa mà từ… mấy bác nông phu !

Có một việc anh Minh rất giỏi là bắt cua, cua đồng anh bắt về không những đủ để nấu riêu cả nhà cùng ăn, mà còn dư để chị tôi ướp muối làm “nước mắm cua” nữa. Tôi không dám bắt chước vì chỉ lo đó là hang rắn, mà có gặp cua cũng sợ bị cua cắp…

Cuộc sống an nhàn và nên thơ của chúng tôi kéo dài cho tới khi chiến tranh lan tới làng Đa Lộc nơi chúng tôi tản cư. Lính Tây tới, mấy tự vệ xã nhanh chân trốn hết, buổi tối Tây rút đi họ lại cầm loa ra đình làng khoe thành tích đuổi giặc... Nhưng hôm sau, cảnh tượng những ngôi nhà tranh với đụn rơm kế bên bị cháy đen và tiếng khóc thảm thiết của những gia đình có người thân bị bắn chết đã khiến cho thân phụ tôi quyết định phải tìm đường về Hà Nội sớm. Tôi không còn nhớ rõ chi tiết nhưng vẫn còn ghi lại hình ảnh chúng tôi di chuyển băng đồng vào nửa đêm, lâu lâu lại thấy vài tia đạn lửa bay như đom đóm, tới sáng thì tới đồn kiểm soát của Tây và gia đình chúng tôi cùng vô số dân hồi cư khác ngồi thành hàng đoàn để được khám xét trước khi cho di chuyển vào vùng Tây kiểm soát, từ đây, chúng tôi đi bộ thêm khoảng nửa ngày thì về tới Hà Nội, gia đình chúng tôi được đoàn tụ sau hơn một năm tản cư lên mạn ngược. Sau chuyến tản cư này, gia đình tôi tuy không có ai mang thương tích vì chiến tranh nhưng ai cũng bị sốt rét, chị lớn của tôi bị nặng hơn cả, về tới Hà Nội cả năm sau còn bị ngọng. Còn tôi thì ghẻ lở cùng mình, nhiều tháng sau nhờ có nước máy Hà nội và xà bông, thay vì nước ao ở vùng quê, nên mới dần dần hết.

Tại Hà Nội tôi học trường Nguyễn Du, phố Hàng Vôi gần nhà, anh Minh và anh Long học tại trường Chu Văn An ở phố Hàng Cót. Về tới Hà Nội anh Minh không còn thân với tôi nữa, phần lớn thì giờ anh chơi với anh Long, chỉ cách anh 1 tuổi, thay vì thằng em thua anh những 5 tuổi, trẻ nhỏ chênh nhau 5 tuổi là nhiều lắm. Cũng tại Hà Nội, từ vị trí bạn, anh Minh trở thành thầy giáo của tôi, có lẽ là "phụ giáo" thì đúng hơn vì anh chuyên dạy tôi tập viết và đọc rồi kể truyện Tàu cho tôi nghe. Anh Minh rất kiên nhẫn và chìu "học trò", để khuyến khích tôi chịu khó tập viết, anh bỏ công lấy lông ngỗng vót thành ngòi bút để tôi thấy viết chữ cũng như một trò chơi. Vì tôi đánh vần còn chậm nhưng lại thích truyện Tầu, anh Minh "hy sinh" đọc trước rồi kể lại cho tôi nghe, anh kể truyện hấp dẫn và có trí nhớ rất tốt, tôi đã không mất công đọc mà còn tha hồ quay lại coi chi tiết các đoạn cũ ...Ngoài vai trò Thầy Giáo, anh Minh và anh Long hồi đó cũng đóng vai "thần hộ mạng" cho tôi. Do phần nào ảnh hưởng của truyện Tầu, hồi nhỏ chúng tôi có xu hướng hay đánh nhau với trẻ lối xóm, nhất là khi tôi được đi giữa anh Long và anh Minh thì không còn biết sợ ai nữa, có nhiều lúc hai anh bị lôi vào vòng chiến chỉ vì chú em anh hùng rơm. Tính hiếu chiến của tôi chỉ bớt đi sau một lần ba anh em chúng tôi thất bại khi bầy kế nhử "địch" ra đánh. Hai anh nấp ở đầu đường, còn tôi thì một mình tới trước nhà đối phương khiêu khích để nhử cho thằng bé đó ra ngoài, nó "trúng kế" nên chạy ra đánh tôi một trận nên thân, xô té xuống cống rồi chạy trở lại vào trong nhà. Khi 2 anh chạy tới tiếp cứu thì trận đánh đã kết thúc, chỉ còn dìu chú em quần áo lấm bùn bê bết, vừa đi vừa khóc trên đường về nhà. Từ đó tôi cũng bớt dám khiêu khích mọi người vì đã trải qua kinh nghiệm là không có sự bảo vệ nào là toàn hảo cả.

Sau 2 năm sống tại Hà Nội, anh Minh, anh Long và tôi được theo học lớp chữ Nho tại Đền Ngọc Sơn vào mỗi sáng Chủ Nhật do Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức, lớp học đủ mọi lứa tuổi được giảng dậy bởi một Nhà Nho uyên bác là cụ Tử An Trần Lê Nhân, tác gỉa tập Cổ Học Tinh Hoa. Lối dậy học của cụ Tử An rất khoa học và dễ hiểu, nhưng một chi tiết khác đặc biệt về cụ mà tôi nhớ mãi là cụ cho các học trò tự quyết định lúc nào thì hết giờ ra chơi để trở lại lớp học, vì vậy mà chúng tôi có những giờ chơi kéo dài cả tiếng mỗi tuần để chạy chơi quanh Đền. Lúc này tôi không còn là cậu bé ngờ nghệch từ quê ra tỉnh nữa và đã trở nên khá tinh khôn. Đám học trò nhỏ chúng tôi chia làm 2 phe chơi nấp bắn nhau, lớn nhất là anh Minh, tôi tuy nhỏ nhưng Trời cho khéo tay hơn cả, nên đã làm súng cung cấp cho cả 2 phe, khẩu súng tốt nhất bao giờ cũng dành cho anh Minh. Tôi không ngờ hơn 30 năm sau tôi cũng được giao một trách nhiệm gần như vậy đối với đoàn quân Đông Tiến…

Vào tháng 7/1954 gia đình chúng tôi di cư từ Bắc vào Nam, anh Minh di chuyển với Đoàn Sinh Viên Đại Học Hà Nội. Vào tới Miền Nam một thời gian ngắn, anh giã từ đời sống sinh viên để nhập ngũ binh chủng Hải Quân, tôi ít gặp anh nhưng mỗi lần anh về phép cùng các bạn là niềm vui cho cả gia đình. Anh Hoàng Cơ Minh là mẫu mực người con hiếu thảo trong gia đình, hơn thế nữa, anh có lối biểu lộ tình cảm rất tự nhiên và chân thành, thân mẫu tôi rất thương anh, có thể nói là thương nhất nhà cũng không quá. Cả gia đình không ai ganh tỵ với anh vì chẳng ai... làm được như anh. Chúng tôi vẫn gọi đùa anh là ông "Lão Lai", một nhân vật trong sách Nhị Thập Tứ Hiếu, vào tuổi 70 còn nhẩy múa để làm trò vui cho Cha Mẹ. Không những với thân mẫu chúng tôi, ngay cả người giúp việc trong nhà cũng thích nấu ăn cho anh. Có món gì vừa miệng là anh trầm trồ khen ngợi, ăn thêm tới 2, 3 chén cơm, khiến người làm bếp cũng thấy bõ công và... mát ruột.

Vào khoảng năm 1956, anh Hoàng Cơ Minh đang tham dự hành quân tại Cà Mau thì được kêu đột ngột về Sài gòn, gia đình rất vui nhưng cũng ưu lo vì lực lượng quan trọng của Bình Xuyên rút từ Sài gòn Chợ lớn vẫn đang chiếm cứ vùng Rừng Sát, đe dọa thủy lộ dẫn vào cảng Sài gòn. Ai cũng đoán sớm muộn cũng sẽ có đụng độ quan trọng. Đoàn giang thuyền của anh Minh vừa về tới vùng Bình Lợi thì vài thủy thủ đi phép không biết vì phạm lỗi gì đã bị đồn cảnh sát tại Thị Nghè bắt giam. Anh Minh đã giải quyết vấn đề theo cách của một ông Thiếu Úy trẻ vừa trở về từ tiền tuyến, anh đã mang một đơn vị tới vây đồn cảnh sát đòi thả ngay các thuộc cấp đang bị nhốt tù với một lý do rất đơn giản: Chỉ có quân cảnh mới được quyền bắt nhốt lính, cảnh sát không có quyền đó. Lập luận này đã được hậu thuẫn bằng một toán lính vừa từ mặt trận về vũ khí đằng đằng nên cảnh sát đành nhượng bộ. Anh Minh rất hài lòng vì kết qủa “không tốn một viên đạn” và thủy thủ đoàn của anh đã không thiếu một ai khi ngày hôm sau đoàn tầu được lệnh tiến vào Rừng Sát tham gia chiến dịch Hoàng Diệu.

Tuy nhiên, luật vẫn là luật, sau chiến thắng Rừng Sát gần một năm, câu chuyện vây đồn cảnh sát Thị Nghè tưởng đã hoàn toàn là quá khứ, nhưng không, anh Minh đã bị triệu tập tới Toà Án và bị… tống giam ngay hôm đó vì tội “phá rối trị an” trước đó một năm. Anh không hề bị tạm giữ tại một quận cảnh sát nào đó mà bị giam vào khám Chí Hoà. Câu chuyện xẩy ra như sét đánh ngang tai, chưa bao giờ tôi thấy thân mẫu của tôi đau buồn đến như vậy. Các bạn trong Hải Quân của anh Minh hồi đó đều còn ít tuổi và không có kinh nghiệm giao thiệp với guồng máy tư pháp nên chúng tôi không biết nhờ cậy vào ai. Đến bây giờ nghĩ lại tôi không hiểu tại sao trong thời gian mới bị giam, trong gia đình không ai nghĩ tới việc liên lạc nhờ Luật Sư Hoàng Cơ Thụy là ông anh con Mẹ Già của tôi. Mãi sau này, khi ra Toà xử án, lúc đó Luật Sư Thụy mới chính thức phụ trách bào chữa. Vậy mà khi hay tin này, có người bà con còn lật đật tới khuyên không nên, vì vào thời gian đó anh Hoàng Cơ Thụy đã bị coi là một chính khách đối lập với chính quyền Ngô Đình Diệm, sợ rằng anh Minh sẽ bị án tù nặng vì lập trường chính trị của anh Thụy. Theo lời yêu cầu của anh Minh, gia đình không ai tham dự phiên toà, ngoại trừ tôi đến để quan sát. Anh Minh xuất hiện trước Tòa trong y phục đại lễ Hải Quân, thái độ kính cẩn nhưng không sợ sệt. Phiên tòa đã diễn ra một cách ôn hoà, công tố viện không kết án gay gắt và anh Thụy hôm đó đã bào chữa rất hùng hồn. Cuối cùng Tòa đã tuyên án tương đối nhẹ, anh Minh được trả tự do ngay vì thời gian tạm giam đã lâu hơn bản án.

Việc bị “bỏ tù” của anh Minh không phải là điều hoàn toàn không hay, trong khám Chí Hoà anh đã có dịp làm quen với nhiều chính khách nổi tiếng cũng bị bắt giam cùng thời như các ông Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường… và còn có thì giờ viết hồi ký của anh về trận đánh Bình Xuyên trong Rừng Sát và học thi đậu một chứng chỉ Luật năm đó. Anh cũng có nhiều kỷ niệm trong tù kể hoài không hết. Mỗi khi có mặt Mẹ tôi mà nói chuyện “hồi anh Minh ở tù” hay “hồi anh Minh bị nhốt trong Chí Hoà” là cụ rất khó chịu, bạn bè và anh em thường nói trại ra là “hồi anh Minh đi nghỉ mát” để khỏi làm cụ chướng tai…
 
Vào năm 1960, anh Minh và tôi chia tay nhau một thời gian dài, anh Minh qua Monterey, California tu nghiệp còn tôi thì được học bổng đi Pháp. Thời gian tôi du học bên Pháp không được sống gần anh Hoàng Cơ Minh, nhưng vẫn còn nhớ hộp thuốc lá pipe 79 anh gửi làm quà cho tôi từ bên Mỹ, anh còn hẹn sẽ tiếp tế đều đặn cho tôi khiến tôi phải dứt khoát từ chối để anh khỏi mất công quá đáng, vì thuốc lá này bên Pháp tuy khá đắt nhưng cũng có cách mua được. Một điều đặc biệt ở anh Minh và sau này cả ở chị Bích Vân, hiền thê của anh, là cả hai anh chị đều rất thảo, cá nhân tôi đã từng nhận được những món quà hậu hĩnh từ anh chị khi mà đồng lương của họ chẳng là bao nhiêu. Các con tôi đều rất vui thích mỗi khi nhận tiền mở hàng đầu năm của bác Minh, vì nó thường nhiều bằng 3 lần từ bất cứ đâu tới…

Tôi từ Pháp về nước vào năm 1968, sau biến cố Tết Mậu Thân, lúc đó anh Minh đã lập gia đình, cả 3 anh em (anh Minh, Hoàng Cơ Trường và tôi) đều ở chung dưới mái nhà của Mẹ tôi ở đường Phan Kế Bính. Mới đặt chân tới Sài gòn được 2 tuần thì là trận Tổng Công Kích đợt 2, địa điểm giao tranh chỉ cách nhà cỡ 1 Km. Hôm đó Hoàng Cơ Trường trực trong bệnh viện, tôi ngồi cạnh anh Minh nghe các loại súng nổ, mỗi lần hỏi anh tiếng súng đó là của phe ta hay Việt cộng, anh thường trả lời… của Việt cộng khiến tôi cảm thấy cồn cào trong dạ. Tôi đã mất thói quen nghe tiếng súng từ 8 năm qua, nhất là tiếng súng của địch chỉ cách đó không xa.

Về Việt Nam được hơn 1 năm, tôi bắt đầu có những thảo luận dài với anh Minh và chú Trường về thời cuộc. Tuy hoạt động trong ngành khoa học, nhưng liên tục từ năm 1963 tôi có tham dự các sinh hoạt chính trị của sinh viên và đồng bào tại Pháp. Tôi ở trong một nhóm chống cộng, nhưng lại không ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ theo “tiêu chuẩn Quốc Gia” thời bấy giờ nên đối với đồng bào trong nước thì có vẻ… “thiên tả”. Cũng may tôi sống chung mái nhà với một Trung Tá Hải Quân và một Trung Úy Y Sĩ Thủy Quân Lục Chiến nên không bị loại ngộ nhận đó và chỉ một thời gian ngắn sau, 3 anh em chúng tôi cùng lập ra một tổ chức chính trị không công khai và cũng chưa có cơ chế, tên là “Lực Lượng Quần Chúng Việt Nam Tự Giải Phóng”. Gs Trần Tuấn Nhậm, nay đã mất, là một đồng chí của chúng tôi. Anh Nhậm còn rành về nghề in, anh mua chữ bằng chì và đã dậy chúng tôi sắp chữ để in bản Cương Lãnh. Sau 30/4/1975 anh em phân tán mỗi người một nơi và không còn tiếp tục hợp tác, một trong những người trong tổ chức hồi đó nay được biết tới nhiều là Bs Nguyễn Đan Quế.

Tôi trở lại làm việc và gần gũi mật thiết với anh Hoàng Cơ Minh vào năm 1979 khi được anh giao cho trách nhiệm nghiên cứu thực hiện một hệ thống phát thanh đặt tại vùng biên giới Thái Lào đủ công suất để nghe được ở trong nước. Tôi không phải là một chuyên gia về điện tử, nhưng vẫn được anh Minh tín nhiệm vì... chẳng biết nhờ ai, vả lại anh căn cứ vào thành tích hồi nhỏ tôi có ráp được một máy thâu thanh 1 đèn (vào đầu thập niên 50 radio còn chạy bằng đèn), anh bảo "Nhỏ mà làm được máy thâu thanh thì lớn làm được máy phát thanh". Tôi đã đáp lại được lòng tín nhiệm của anh sau 3 năm nghiên cứu, hệ thống phát thanh của đài Việt Nam Kháng Chiến do tôi thực hiện đã chính thức hoạt động vào ngày 27/12/1983. Trong suốt thời gian Đài hoạt động, chúng tôi không dám đề cập gì tới thành quả kỹ thuật này vì luật của Thái cấm không cho phát thanh trên lãnh thổ của họ và địch có thể phá hệ thống phát thanh dễ dàng. Tôi cũng còn nhớ vào lúc Đài sắp hoạt động thì một nhân vật chống cộng nổi tiếng thời bấy giờ có chỉ trích Mặt Trận rất nặng lời là vì ông ta thấy Mặt Trận đã không lo làm sao có được phương tiện phát thanh. Ông ấy không biết rằng, tướng Hoàng Cơ Minh đã nghĩ tới và tìm cách giải quyết vấn đề này từ 3 năm trước, và khi ông ta lên tiếng phê bình thì các phương tiện trang bị đã có tại chỗ.

Trong thời gian anh Minh hoạt động tại Đông Nam Á, tôi thường là người lo đón anh mỗi khi anh trở qua Hoa Kỳ, lần nào anh cũng đau nặng vì chứng sốt rét. Cứ mỗi lần như vậy là hai ông “bạn già” của anh là Bác Sĩ Võ Tư Nhượng và Giáo Sư Nguyễn Tư Mô lại lặn lội lái xe 5 tiếng đồng hồ từ Nam Cali lên thăm anh. Dường như Bác Sĩ Nhượng có tiếng cười trị bá bệnh, khi có mặt Bác Sĩ thì anh Minh khoẻ mạnh hoàn toàn, nhưng tiễn Bác Sĩ Nhượng và Giáo Sư Mô ra về rồi là… chứng nào tật nấy, chỉ khổ cho “y tá” Hoàng Cơ Định. Tôi làm thêm việc y tá để lo sức khoẻ cho anh, nói là "lo" nhưng ngoài chuyện chuyền nước biển cũng chỉ quanh quẩn bóp đầu cho anh bớt nhức. Nhiều khi tôi cầm gọn trong bàn tay vầng trán nóng và dấp mồ hôi của anh mà lòng ưu lo khôn xiết, tôi biết tôi đang nắm trong tay nguồn nghị lực vô bờ, là trí tuệ dẫn dắt cả công cuộc đấu tranh mà bệnh hoạn có thể cướp đi bất cứ lúc nào! Những lúc đó tôi lại ao ước được trở lại 40 năm trước, hai anh em cùng đi trên các bờ ruộng của làng Đa Lộc. Anh Minh không có thói quen dắt tay hay khoác vai khi hai anh em cùng đi với nhau, anh thường "dắt" tôi bằng một bàn tay rất lớn đặt lên gáy và nắm gọn cổ chú em. Bằng cách đó tôi buộc phải đi nhanh bằng anh, mà nếu có vấp cũng chẳng có thể té.

Sau khi biến cố Nam Lào xảy ra vào cuối năm 1987, chúng tôi làm mọi cách để tìm kiếm tin tức của anh và các chiến hữu trong đoàn quân Đông Tiến. Mỗi lần ghé Washington DC tôi thường đến thăm 2 người bạn cũ của anh là các ông Richard Armitage và James Kelly, cả hai đều có vị trí quan trọng trong hành pháp Hoa Kỳ và hy vọng có thể giúp trong những liên hệ với Thái Lan. Gia đình ông Kelly là bảo trợ của gia đình anh Minh khi mới tới Mỹ, hai bên thân và quý nhau như bà con trong họ. Armitage là bạn cũ của anh Minh từ Việt Nam, hai người cùng có vai trò quan trọng trong việc triệt thoái đoàn tầu của Hải Quân rời khỏi Việt Nam vào tháng 4/1975. Richard Armitage là một nhân vật đặc biệt trong chính trường, nói tiếng Việt hoạt bát và có tên tiếng Việt là Phú. Anh Minh có kể lại cho tôi một mẩu đối thoại trong lần gặp anh Phú, lúc anh Minh sắp qua Thái Lan thảo luận để lập khu chiến:

- Ông Phú! Ông đi đâu mà lâu lắm tôi không gặp ông?

- Thì làm sao tôi dám gặp ông khi trong tay tôi chẳng có gì để tặng ông!

- Thế trong tay ông hôm nay có cái gì đây?

- Trong tay tôi vẫn chẳng có gì cả, nhưng tôi vẫn gặp ông vì điều ông cần ở tôi thì… ông đã có rồi!

Sau này, một lần trong chuyến công tác, trên đường về tôi có ghé Nhật Bản, ngồi quanh các chiến hữu, chúng tôi ôn lại kỷ niệm về anh, những kỷ niệm thời mới thành lập Mặt Trận. Một chiến hữu kỳ cựu có nhắc tới căn gác trọ năm xưa khi anh em trong tổ chức Người Việt Tự Do gặp Tướng Quân Hoàng Cơ Minh lần đầu tiên… Đột nhiên tôi có ý tưởng muốn viếng thăm căn gác đó dầu nhiều anh em cho rằng khu đó nay đã giải tỏa hay nếu còn thì người khác đang mướn, mình cũng chẳng vào được bên trong. Hôm sau tôi ra bến xe lửa sớm, cùng đi có chiến hữu Lý Thái Hùng, để tìm về nơi đã khai sinh ra Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam. Điều ngạc nhiên là khi tới nơi, cảnh vật vẫn như xưa, may mắn là căn phòng còn bỏ trống chưa có ai thuê, ông chủ căn phố còn nhận ra chiến hữu Lý Thái Hùng và mời cứ tự nhiên vào thăm… Chiến hữu Hùng không dấu được cảm động khi bước chân lên chiếc cầu thang nhỏ dẫn lên lầu. Anh nói: Tôi vẫn nhìn thấy hình ảnh Thầy đứng đón tôi ở cuối cầu thang trên kia… Tôi xin phép chiến hữu Hùng để được đứng đúng vào vị trí đó chụp một tấm hình kỷ niệm :

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Ls Lưu Tường Quang- Kỷ Niệm 60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Bài học gì cho Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày nay?



Ls Lưu Tường Quang- Kỷ Niệm 60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Bài học gì cho Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày nay?





Sông Bến Hải - Cầu Hiền Lương - Giới tuyến 17



“... Trên 60 năm qua, Việt Nam Thống Nhất hoặc Việt Nam chia đôi đều đã là nạn nhân của ván bài chính trị đại cường. Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ tiếp tục vướng mắc trong chính trị nước lớn, nếu Hà Nội tiếp tục gắn bó trong mối quan hệ đặc biệt và bất bình đẳng với Bắc Kinh như được diễn đạt dưới chiêu bài 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong thế giới đa cực ngày nay, quyền lợi lâu dài của tổ quốc Việt Nam là bang giao độc lập và bình đẳng với tất cả các cường quốc…”


***


Bài viết đánh dấu 60 năm Hiệp Định Genève được soạn thảo với một hi vọng nho nhỏ là chúng ta có thể học được kinh nghiệm của quá khứ đau buồn mà đất nước Việt Nam thân yêu đã phải trải qua. Hiệp Định này và hậu quả của nó đã được trình bày từ nhiều quan điểm khác nhau, kể cả tài liệu khá đầy đủ của Bộ Quốc Phòng Mỹ, The Pentagon Papers (1971).

Từ năm 2004, một số tài liệu do Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến giúp chúng ta hiểu thêm về quan điểm và mục tiêu chiến lược của hai cường quốc cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc, trong vấn đề Việt Nam (Đông Dương) và thân phận của Việt Minh/Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) trong quan hệ với hai đồng minh bảo trợ.

Tài liệu Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh xác nhận điều mà chúng ta đã suy diễn là VNDCCH - cũng như Quốc Gia Việt Nam/Việt Nam Cộng Hòa (QGVN/VNCH) - đã bị chi phối quá nhiều bởi chính trị đại cường và do đó đã không theo đuổi được chính sách độc lập.

Bài viết này phần lớn nhìn vào sách lược của Bắc Kinh tại Hội Nghị Genève trong nỗ lực củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc như là một đại cường đang bước chân vào diễn đàn quốc tế. Có thể nói, đây là sách lược mà Bắc Kinh theo đuổi liên tục trong 60 năm qua, kể cả trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Việt Nam hiện nay.

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Hoa Sim ngày 17-2 - In Remembrance of the Border War


Hoa Sim ngày 17-2 - In Remembrance of the Border War



(Bản tiếng Anh ở phía dưới. Scroll down for the English translation.)

Trịnh Hữu Long - Phạm Đoan Trang



Nếu em lên biên giới
Em sẽ gặp bạt ngàn hoa...
Hoa sim, giữa đồi nắng gió, tím như ai chờ mong
Sắc hoa sim yêu thương trong lòng nguời lính trẻ
Chờ ai nên tím ngát bồi hồi
giữa biên cương...

Những ca từ đẹp đẽ và lãng mạn này của tác phẩm “Hoa sim biên giới” đã được nhạc sĩ Minh Quang sáng tác dựa trên cảm hứng từ chuyến công tác ở biên giới phía Bắc năm 1979 và hoàn chỉnh năm 1984, giữa thời kỳ căng thẳng trong quan hệ Việt Nam - Trung Hoa. Không lâu trước chuyến công tác của ông, ngày 17-2-1979, những tiếng súng đầu tiên đã vang lên trên bầu trời biên giới phía Bắc Việt Nam, báo hiệu sự trở lại của những đoàn quân xâm lược Trung Hoa, 190 năm sau thất bại của họ trước quân đội Tây Sơn ở Đống Đa - Ngọc Hồi.


HOA SIM BIÊN GIỚI 

Nhạc: Minh Quang - Thơ: Đặng Ái -

Trình bày: Việt Hương




Nửa triệu binh sĩ, dân công thuộc 9 quân đoàn chủ lực của quân đội Trung Quốc và nhiều lực lượng quân sự khác đã được Trung Quốc huy động.

5 giờ sáng ngày 17-2-1979, họ đồng loạt tấn công chúng ta trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh kéo dài một tháng này, họ đã tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, có lúc chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, giết hại 10.000 dân thường và phá hoại gần như hoàn toàn mùa màng cùng nhà cửa, gia súc của người dân biên giới.

Cũng trong một tháng khốc liệt đó, có ít nhất 10.000 người lính Việt Nam đã nằm xuống trên những ngọn đồi, mạch suối, chiến hào, cùng hàng vạn người khác bị thương. Họ đã ngoan cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi Tổ quốc, đẩy lùi những đoàn quân xâm lược vào ngày 18-3. Ngày nay, bạn có thể tìm thấy bia mộ của họ ở khắp các nghĩa trang các tỉnh biên giới phía Bắc, hài cốt của nhiều người còn chưa được quy tập, thậm chí còn chưa bao giờ được tìm thấy. Họ vĩnh viễn hóa thân mình vào đất quê hương, vì hình hài xứ sở.

Vì nhiều lý do, họ đã không được tưởng nhớ một cách xứng đáng trong suốt hơn 30 năm qua. Giới trẻ ngày nay thậm chí hầu như không còn khái niệm về năm 1979 và những người lính, có khi cũng trẻ như họ, đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không được phép để họ bị lãng quên cùng với những ký ức rời rạc của người già.

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Blogger Hà Nội thả bong bóng kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền


Blogger Hà Nội thả bong bóng kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền




15h chiều nay, 8/12/2013, theo lời mời của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, một số blogger thành viên Mạng Lưới đã sẵn sàng cho các hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền 10/12, tại Công viên Thống Nhất (Hà Nội) và mũi tàu Công viên 23/9 (Sài Gòn).

Ở Hà Nội, các blogger trẻ tuổi tập trung ở Công viên để thổi những chiếc bong bóng màu xanh lá cây, với dòng chữ “Quyền con người của chúng ta phải được tôn trọng”. Các bạn cho biết, theo dự định ban đầu, họ sẽ mặc áo phông trắng viền xanh với logo của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, song do áo đã bị lực lượng an ninh tại trạm cảnh sát ga Hà Nội thu giữ không lý do từ hôm trước, cho nên việc mặc áo T-shirt cổ động cho nhân quyền đành bị hủy bỏ. Tuy vậy các hoạt động thổi bong bóng và tài liệu về nhân quyền vẫn sẽ được tiến hành như kế hoạch.

Đến tham dự cùng các blogger trẻ, có cả Tiến sĩ Nguyễn Quang A – một sáng lập viên Diễn đàn Xã hội Dân sự – và một số thành viên của Câu lạc bộ Bóng đá No-U Hà Nội.

Thấy các bạn thổi bóng và phát tài liệu, nhiều người đến chơi công viên, đặc biệt là thanh thiếu niên và trẻ em, đã cùng tham gia. Các em nhỏ vui vẻ xin bóng, em nào cũng thích thú với trái bóng màu xanh biếc.

Điều đáng nói là ngay từ trước khi các blogger đến, trong Công viên đã có rất nhiều an ninh mặc thường phục và dân phòng, và khi bóng thổi xong được trao cho các em nhỏ, những nhân viên công quyền này đã dùng que nhọn chọc bóng cho thủng. Đồng thời, họ cũng đe dọa sẽ bắt tất cả các blogger “thổi bóng trái phép” ở công viên, và xé tài liệu nhân quyền được phát (!).

Từ 16h15, các nhân viên công quyền đã giằng co, xô đẩy và đánh hai người có tên là Lê Đức Hiền và Phạm Minh Vũ. Một dân phòng giật lấy chiếc ba-lô của một trong hai blogger này và bỏ chạy...

Ảnh: Blogger Binh Nhì (Nguyễn Tiến Nam)



Nha Trang: Blogger kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền


Nha Trang: Blogger kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền






Mạng Lưới Blogger Việt Nam - Buổi sáng thứ bảy, 7/12, một số blogger ở Nha Trang đã có hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền năm nay theo cách của riêng mình: Chia sẻ và phân phát tài liệu về nhân quyền cho người dân.

Từ 8h30 sáng, một nhóm blogger, trong đó có Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh), Khổng Hy Thiêm, Võ Trường Thiện, Việt Man (Phạm Văn Hải), đã ra đường, hướng đến Công viên bờ biển Trần Phú, đường Lê Lợi và đường Yersin, trong màu áo của Mạng Lưới Blogger Việt Nam: áo phông trắng hoặc đen, viền xanh lá cây, với logo màu nâu của Mạng lưới.



Các blogger phân phát ba tài liệu: một bài viết ngắn nêu khái niệm cơ bản về nhân quyền, toàn văn Công ước Chống Tra tấn của LHQ (mà Việt Nam vừa tham gia ký kết), và một bài viết diễn giải về Công ước này.

Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc tên đầy đủ là “Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử Tàn nhẫn, Vô nhân đạo, Làm Mất Phẩm giá” (tiếng Anh: United Nations Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment, viết tắt UNCAT) là một trong các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực, dưới sự duyệt xét lại của Liên Hiệp Quốc, nhằm mục đích phòng chống tra tấn trên toàn thế giới.

Công ước này đòi các nước phải có biện pháp hữu hiệu để phòng chống tra tấn trong nước mình, và nghiêm cấm các nước trả lại người về đất nước của họ nếu có lý do để tin rằng (ở đó) họ sẽ bị tra tấn.

Trong tài liệu ngắn phân phát cho người dân, Mạng Lưới Blogger Việt Nam cũng nêu rõ: “Ngày 07/11/2013, Việt Nam đã tham gia ký kết Công ước chống Tra tấn tại trụ sở chính của LHQ ở thành phố New York (Mỹ). Việt Nam dự kiến phê chuẩn Công ước này vào năm 2014. Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam chưa có luật nào định nghĩa rõ ràng những hành động nào là tra tấn.

Hiện nay, nhiều cơ quan công quyền ở Việt Nam (công an-cảnh sát, quản giáo, v.v.) vẫn tiến hành các biện pháp tra tấn nghi phạm khi lấy cung, và áp dụng các hình thức trừng phạt đối với người bị tạm giam và tù nhân, như: cùm chân, biệt giam, không đảm bảo điều kiện vệ sinh tại nơi giam giữ, v.v.

Do đó, với tư cách một nước thành viên ký kết Công ước Chống Tra tấn, Việt Nam cần sớm phê chuẩn Công ước, đồng thời, hoàn thiện luật pháp, đưa ra định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về hành vi tra tấn, cũng như quy định các chế tài cho tội này”.

Khi được hỏi về vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn bị điều tra viên tra tấn, bức cung, phải chấp nhận ngồi tù oan 10 năm, một vài người qua đường nói họ không đọc báo nên không hay biết gì. Tuy nhiên, người dân đón nhận các tài liệu một cách sôi nổi và đọc chăm chú, có người còn hỏi: “Tài liệu quý, tại sao các bạn không bổ sung thêm câu 'Xem xong xin vui lòng chuyền tay cho người khác'?”.

Một số khác có ý kiến: “Mỗi người nên có một bản tài liệu này để hiểu được phần nào”, “Dân mình không hiểu gì nên cứ bị bắt chẹt”, “Mấy tài liệu rất tốt. Vì cái này là để giúp đỡ cho tất cả mọi người, cho nên tất cả cần phải đọc”...

Các blogger cũng phát tài liệu cả trên xe buýt, trong nhà sách, đặc biệt Nhà sách Ponagar còn nhận 10 bộ tài liệu để phát cho khách hàng. Nhiều bạn trẻ hưởng ứng rất vui vẻ.

Buổi kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền kết thúc vào khoảng 10h sáng. Các blogger chụp hình với ba ngón tay giơ cao, trên ba ngón viết các chữ M, L, B, nghĩa là Mạng lưới Blogger Việt Nam.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

Tổng giám đốc RFA phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền VN


Tổng giám đốc RFA phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền VN

RFA 09.05.2013




Bà Libby Liu, tổng giám đốc đài Á Châu Tự Do có bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền Việt Nam 11/5 được tổ chức ở Washington DC hôm 9 tháng 5 năm 2013.
Photo: RFA


Bà Libby Liu, tổng giám đốc đài Á Châu Tự Do có bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền Việt Nam 11/5 được tổ chức ở Washington DC hôm 9 tháng 5 năm 2013:


Trước hết, xin cảm ơn Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân đã tổ chức sự kiện ngày hôm nay và cũng xin cảm ơn cộng đồng Việt Nam ở đây cũng như trên toàn nước Mỹ.


Tôi rất vinh dự được có mặt tại đây, tham dự ngày nhân quyền Việt Nam. Nhưng tôi cũng rất buồn trước tình hình nhân quyền tại Việt Nam vào lúc này.


Một nhóm các phóng viên và nhân viên của đài Á Châu Tự do vừa mới trở về từ Việt Nam. Họ đã gặp và trao đổi với nhiều người về những vi phạm quyền tự do trên nhiều mặt mà người Việt Nam đang phải đối mặt hàng ngày, từ quyền sở hữu đất đai, tự do tôn giáo đến nạn buôn người và nô lệ.


Nhưng nếu không có tự do báo chí, sẽ chỉ có một vài kênh nơi các thông tin về những vi phạm này có thể được truyền tới công chúng (chủ yếu là qua internet và truyền thông xã hội).


[¼ người dân đã sử dụng web vào tuần trước. Trang Google.vn là mạng xã hội hàng đầu với hơn 60% người sử dụng.]


Chính phủ Việt Nam biết rất rõ điều này.


Nhưng điều này vẫn làm họ lo sợ, khiến họ phải tìm cách đàn áp các bloggers và những người bất đồng chính kiến trên mạng.


Điều này cũng khiến chính phủ phải sử dụng các phần mềm kiểm duyệt, do thám và giám sát trên internet, tạo ra các hạn chế chính thức đối với việc sử dụng web, và bắt các chủ quán café internet phải báo cáo về những trường hợp mà họ gọi là ‘lạm dụng internet’.


Họ cũng tiến hành các phiên tòa giả dối để đưa ra những bản án, bỏ tù các blogger nhiều năm.


( Không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam là một trong những môi trường tệ hại nhất về báo chí, với 32 cư dân mạng và blogger hiện đang bị cầm tù, RSF đã xếp Việt Nam vào vị trí 172 trong tổng số 179 nước trong một điều tra mới đây về tự do báo chí. Điều này khiến Việt Nam trở thành một trong những kẻ thù internet tệ hại nhất trên thế giới.)


Nhưng hãy để tôi nói với quý vị điều này, Đài Á Châu Tự do luôn có mặt bất cứ khi nào xảy những vụ bắt giữ, án tù nặng nề, trừng phạt khắc nghiệt và những đe dọa.


Không phải chỉ để kể câu chuyện của họ, câu chuyện của những người bị truy bức, những người hiểu được những nguy hiểm của việc đưa thông tin (điều mà chúng tôi đang làm), mà còn để sử dụng các thông tin trong câu chuyện của họ, các hình ảnh, video, thường là cho những tin lớn nhất của chúng tôi.


Nó bao gồm:

- Việc bắt giữ các luật sư nhân quyền, và các nhà hoạt động về quyền con người

- Sự vi phạm quyền đất đai đối với nhà thờ

- Sách nhiễu các lãnh đạo tôn giáo và những người theo đạo

- Tịch thu đất đai của nông dân

- Nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và tất nhiên

- Cả những vụ đàn áp tự do ngôn luận, và bất đồng chính kiến, đặc biệt là trên mạng.


Bà Libby Liu, tổng giám đốc đài Á Châu Tự Do có bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền Việt Nam 11/5 được tổ chức ở Washington DC hôm 9 tháng 5 năm 2013. RFA PHOTO.

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

LŨ TAY SAI BÁN NƯỚC MỞ MẮT RA MÀ COI TÌNH “HỮU HẢO”, “16 CHỮ VÀNG, 4 TỐT” KÌA!... CHÚNG NÓ ĐANG NGỒI TRÊN ĐẦU MẢ BỐ CHÚNG MÀY ĐẤY!...






NHẬT BÁO BA SÀM - Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc & kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam



Đôi lời: Có lẽ đây sẽ là cái tát, câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ rằng phải giữ hòa bình ổn định, tình “hữu hảo”, “16 chữ vàng, 4 tốt” hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp, ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức Lễ tưởng niệm các liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược, cả những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm.

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

JB. NGUYỄN HỮU VINH - CHÚT KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ, NGỤC SĨ NGUYỄN CHÍ THIỆN





JB. NGUYỄN HỮU VINH - CHÚT KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ, NGỤC SĨ NGUYỄN CHÍ THIỆN




Nghe tin ông Nguyễn Chí Thiện từ trần, mình thấy thảng thốt. Vậy là một cuộc đời kết thúc, một con người đã ra đi. Ðơn giản, nhẹ nhàng nhưng đau xót.




J.B Nguyễn Hữu Vinh và “ngục sĩ” Thomas More Nguyễn Chí Thiện, California 6/2011



Một buổi chiều ở Nam California nắng vàng rực rỡ, cái nắng không gắt gao như ở quê mình, bởi không khí vẫn cứ lạnh nếu bạn đứng vào trong bóng râm. Mình đang ngồi ở nhà một người bạn, bỗng một chiếc xe đậu ở cửa, một người đàn ông gầy gò ăn mặc theo lối mùa Ðông, đầu đội mũ phớt bước vào, người đi cùng giới thiệu: “Ðây là anh Nguyễn Chí Thiện.”