Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN XUÂN NGHĨA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN XUÂN NGHĨA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Kinh tế Việt Nam và ông Nguyễn Tấn Dũng


Kinh tế Việt Nam và ông Nguyễn Tấn Dũng



2016-01-27


Nghe hoặc Tải xuống Phần âm thanh Tải xuống âm thanh





Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại đại hội đảng 12 hôm 21/1/2016
AFP photo                  




Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa 12 sẽ kết thúc ngày 28 này sau khi vừa bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới với các cơ chế tối cao ở trên như Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư và Tổng bí thư đảng. Trong mấy tháng liền, việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội đã gây chú ý vỉ yếu tố nhân sự lãnh đạo.

Trong số bốn người lãnh đạo cao cấp nhất có vai trò của Thủ tướng, tập trung vào khả năng, lập trường và thành tích của ông Nguyễn Tấn Dũng sau hai nhiệm kỳ cầm đầu Hội đồng Chính phủ. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về thành tích đó qua phần phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Kính Hòa: Xin kính chào ông Nghĩa. Được biết ông không mấy theo dõi diễn biến hậu trường của việc tổ chức Đại hội đảng vừa qua tại Hà Nội. Nhưng Đại hội năm nay lại có nhiều khác biệt so với trước đây vì một yếu tố nhân sự là ông Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị đứng hàng thứ ba sau Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, sẽ ra đi hay ở lại vối trách nhiệm cao hơn. Những đồn đại dồn dập và đầy mâu thuẫn trong mấy tuần liền cho thấy là có tranh đoạt quyền lực trong nội bộ về thành tích của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau 10 năm cầm đầu Hội đồng Chính phủ. Thưa ông Nghĩa, dù ông không thích nêu ý kiến về chọn lựa nhân sự của Đại hội đảng, Diễn đàn Kinh tế vẫn muốn hỏi ông một câu về kinh tế, là kinh tế Việt Nam ra sao khi có hoặc khi không có ông Nguyễn Tấn Dũng trong vị trí lãnh đạo?


“Lãnh đạo là tiên liệu, đảng Cộng sản
Việt Nam không biết tiên liệu.”
- ông Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi sẽ làm một số thính giả và độc giả của chúng ta thất vọng vì lạc đề nói chuyện Đài Loan trước khi trả lời câu hỏi của anh Kính Hòa!


Đi trước Việt Nam hai chục năm theo chiến lược phát triển kinh tế thị trường dưới chế độ độc đảng khá độc tài và lại nằm dưới tầm đạn của Trung Quốc mà tôi sẽ gọi là Trung Cộng cho chính xác, Đài Loan là một phép lạ kinh tế đích thực, với nhiều thành tựu về phẩm chất xã hội, tổ chức và kỹ thuật rất đáng theo dõi để học hỏi. Dù an ninh là một ưu tiên sinh tử, Đài Loan cũng tự chuyển hóa từ chế độ độc đảng có tinh thần xã hội chủ nghĩa của ông Tưởng Kinh Quốc qua chế độ dân chủ và đúng 20 năm trước, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa mà người Tầu được trực tiếp đi bầu theo thể thức phổ thông đầu phiếu để chọn lựa người lãnh đạo là Tổng thống. Năm đó là 1996 và Trung Cộng đã bắn hỏa tiễn qua đầu dân Đài Loan để uy hiếp.


Nhưng việc dân chủ hóa vẫn thành và sau bốn năm cầm quyền của Tổng thống Lý Đăng Huy thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng từ lục địa lưu vong qua vào năm 1949, năm 2000 người dân đã bầu lên Tổng thống Trần Thủy Biển thuộc đảng đối lập là đảng Dân chủ Tiến bộ, hay Dân Tiến. Qua hai nhiệm kỳ Dân Tiến, Đài Loạn lại có Tổng thống thuộc Quốc Dân Đảng là ông Mã Anh Cửu. Mươi ngày trước, người dân Đài Loan lại đi bầu Tổng thống và Quốc hội, lần này đảng Dân Tiến trở lại cầm quyền sau 10 năm đối lập, với bà Thái Anh Văn sẽ là Tổng thống và một cơ chế Lập pháp do đảng Dân Tiến chiếm đa số áp đảo.


Kính Hòa: Xin cảm tạ ông Nghĩa đã rất ngắn gọn trình bày về hoàn cảnh Đài Loan. Hiển nhiên là ông có ý so sánh, nhưng với mục tiêu gì?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi sở dĩ nhìn ra khỏi Việt Nam và nhắc đến Đài Loan, chứ không nói thêm về Nam Hàn, vì mình có thể rút tỉa nhiều bài học. Con trai của ông Tưởng Giới Thạch là Tưởng Kinh Quốc đã được đào tạo tại Liên Xô và có tinh thần xã hội chủ nghĩa, là chú trọng đến an sinh và công bằng xã hội dù theo kinh tế thị trường với một đảng độc tài và thủ cựu.
Vậy mà chính quyền Tưởng Kinh Quốc dần dần cải cách về chính trị, để trên thành quả kinh tế chói lọi mà cho người dân thêm quyền chọn người lãnh đạo và trực tiếp phê phán Chính phủ. Kết quả là Quốc Dân Đảng phải cạnh tranh với đối lập để tranh thủ lòng dân, có lúc cầm quyền, có lúc phải ngồi ghế đối lập rồi lại trở về vai trò lãnh đạo. Đài Loan đã tự chuyển hóa như vậy 20 năm trước, khi Đông Á bị khủng hoảng tài chính và kinh tế năm 1997-1998.


Trong 10 năm cầm quyền vừa qua của Mã Anh Cửu dưới sự lãnh đạo của Quốc Dân Đảng, Đài Loan đã đi theo chủ trương khắng khít hợp tác với Bắc Kinh, nhưng tình hình kinh tế và nhất là xã hội lại sa sút nên dân chúng đã ào ạt bầu cho đảng đối lập để tìm con đường ra khỏi bóng rợp của Bắc Kinh. Bài học ở đây là người dân có lợi nhất, họ thực sự làm chủ tương lai và vận mệnh và các đảng chính trị thay nhau cầm quyền phải quan tâm đến lòng dân.


Việt Nam chưa được vậy dù chẳng gặp hoàn cảnh nguy nan về an ninh của Đài Loan. Trách nhiệm là ở đảng Cộng sản Việt Nam, khi cầm quyền liên tục từ 40 năm qua mà làm xứ sở tụt hậu, chẳng khi nào bắt kịp Đài Loan hay Nam Hàn tại Đông Bắc Á và nay vẫn còn thua kém các nước Đông Nam Á. Đại hội đảng vừa qua đã gây thất vọng, cho thấy đảng này không xứng đáng cầm quyền và nên tự chuyển hóa để khỏi tự tiêu vong như nhiều đảng độc tài khác.




000_Hkg10249291-400
Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và các thành viên Bộ Chính trị bước xuống bỏ phiếu tại Đại hội đảng toàn quốc tại Hà Nội hôm 26/1/2016. AFP photo




Kính Hòa: Thưa là ông thất vọng nhất ở những điểm gì?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ngoài chuyện tranh đoạt quyền lực rất đáng chê trách, tôi thất vọng ở tầm nhìn của giới lãnh đạo. Mười năm trước, Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại Quốc tế WTO và bước vào một thời kỳ hội nhập mới, còn có lợi hơn Đài Loan là một nước bị Trung Cộng cô lập về ngoại giao. Vậy mà Việt Nam không tự chuẩn bị cho việc hội nhập đó sau 15 năm đàm phán và bị khủng hoảng trong các năm 2007-2008 nhồi trong nạn Tổng suy trầm toàn cầu 2008-2009. Lãnh đạo là tiên liệu, đảng Cộng sản Việt Nam không biết tiên liệu.


Chuyện thứ hai là Việt Nam cũng vừa trải qua bảy năm đàm phán để hội nhập ở cấp cao hơn, đó là thành đối tác của Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP, vừa được thông qua ngày năm Tháng 10. Sau Hội nghị Trung ương chuẩn bị cho Đại hội XII người ta mới hiểu là Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã trực tiếp chỉ đạo và kiểm soát từng bước đàm phán việc hội nhập lớn lao này vào môi trường kinh doanh mở rộng của TPP, của Liên hiệp Âu châu và khối ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á, với rất nhiều triển vọng mà cũng có nhiều thách đố về cạnh tranh.


Chỉ đạo và kiểm soát việc thương thuyết ra sao, theo các tiêu chuẩn nào và tại sao? Người dân không được biết về mấy điều then chốt ấy, lại càng khó biết Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi cam kết với quốc tế như thế nào khi mà Nhà nước và Quốc hội vẫn nằm dưới hệ thống quyền lực mơ hồ và mờ ám của đảng ở đằng sau? Đã vậy, những chỉ thị của lãnh đạo đảng lại đi ngược với những cam kết về kinh tế, xã hội và luật pháp với quốc tế khi khẩu hiệu “định hướng xã hội chủ nghĩa” và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước vẫn có giá trị như mệnh lệnh tối cao về kinh tế.


Những nghi vấn chính đáng ấy cho thấy đảng Cộng sản Việt Nam cứ xoay trong chân không, chẳng hề chịu trách nhiệm trước quốc dân và nhờ vậy đảng viên lại có thêm đặc quyền đặc lợi khi được đảng đưa vào vị trí điều hành bộ máy nhà nước. Thành tích tham nhũng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng là hậu quả tất nhiên, dù rằng ông ta có khả năng vượt mọi kỷ lục.


Kính Hòa: Nói về thành tích, câu hỏi được nêu ra là viễn ảnh kinh tế Việt Nam nếu có hay không có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì ra sao?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Khi tường thuật trận đấu đá đằng sau Đại hội đảng ở Hà Nội, báo chí quốc tế đã sai lầm trong cách đánh giá Nguyễn Tấn Dũng là có tinh thần cải cách, thân Mỹ và có ma lực lôi cuốn quần chúng. Họ có cái nhìn phiến diện vì không hiểu là đảng viên cao cấp mà được đảng đưa vào vị trí điều hành bộ máy nhà nước rồi tiếp cận với kinh tế và quốc tế đều phải có ngôn ngữ văn minh và phổ biến của thị trường nên được hiểu lầm là muốn cải cách.


Thứ hai, sau khi lên làm Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có nhiều chọn lựa tai hại cho kinh tế Việt Nam qua sự hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước mô phỏng từ Trung Cộng chứ chẳng phải là các “chaebols” của tư doanh Nam Hàn, với hậu quả là vay thả giàn và vỡ nợ hàng loạt từ năm 2008. Chuyện nợ xấu đang đe dọa kinh tế Việt Nam cũng từ đó mà ra.


Thứ ba, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chấp thuận cho các dự án tai hại của Trung Cộng tại những khu vực sản xuất và vùng chiến lược của lãnh thổ Việt Nam nên gây nguy hiểm cho an ninh tổ quốc. Kinh tế Việt Nam trôi vào vị trí vệ tinh của Trung Cộng là dưới triều Nguyễn Tấn Dũng chứ không phải là dưới thời ông Phan Văn Khải. Sau đấy, cũng nhờ đặc quyền trong khu vực kinh tế nhà nước mà ông Nguyễn Tấn Dũng có thể mở ra cơ hội kinh doanh cho tay chân và thân tộc để có một mạng lưới cấu kết của các nhóm lợi ích riêng, ngụy danh là tư nhân, trong khi bót nghẹt tư doanh và chẳng giúp gì cho sức cạnh tranh của Việt Nam. Thứ năm, nạn đàn áp dân chủ và bách hại những ai phê phán hành động bành trướng xâm lược của Trung Cộng đã lên tới cao điểm vào thời cầm quyền của ông Dũng. Bảo rằng ông ta có lập trường cứng rắn với Bắc Kinh là nói chuyện sừng thỏ lông rùa!


Nói cho công bằng, Thủ tướng Dũng giữ tinh thần chia chác sòng phẳng với anh em nên mạng lưới quyền lực và tiền tài của ông có mở rộng hơn là của các đảng viên phụ trách về tổ chức và lý luận của đảng. Cái gọi là ma lực lôi cuốn hay “charisma” mà báo chí quốc tế nói đến thật ra rổn rảng hơi đồng. Nếu Việt Nam còn có một Thủ tướng như vậy thì chẳng thể hội nhập vào thế giới văn minh được.


Kính Hòa: Chúng ta bước qua kịch bản kia, là nếu không còn ông Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu Hội đồng Chính phủ thì kinh tế Việt Nam sẽ ra sao?


“Nói cho công bằng, Thủ tướng Dũng giữ
tinh thần chia chác sòng phẳng với anh em
nên mạng lưới quyền lực và tiền tài của ông
có mở rộng hơn là của các đảng viên phụ
trách về tổ chức và lý luận của đảng.”
- ông Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi khởi đầu với trường hợp Đài Loan thì xin kết thúc với Đài Loan. Sau hai nhiệm kỳ Tổng thống, ông Trần Thủy Biển của đảng Dân Tiến đã bị điều tra về tội tham nhũng và nay phải chấp nhận công lý của một chế độ dân chủ pháp trị, có nhà nước pháp quyền chứ không phải đảng quyền. Có khi ông Dũng sẽ may mắn hơn ông Trần Thủy Biển nhờ đảng Cộng sản vẫn còn cầm quyền. Nhưng tài sản của ông và gia đình đang nằm tại Hoa Kỳ lại thuộc về hệ thống pháp luật khác nên ta có thể nhớ đến tiền lệ là số phận và tiền tài của Tổng thống độc tài Ferdinand Marcos của Phi Luật Tân cách nay đúng 30 năm.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Nguyễn Xuân Nghĩa - Chúng ta tiếp tục là nạn nhân của truyền thông Mỹ



Nguyễn Xuân Nghĩa - Chúng ta tiếp tục là nạn nhân của truyền thông Mỹ


Friday, November 6, 2015 5:45:17 PM  



LTS - Để thực hiện cuốn phim “Terror in Little Saigon,” nhóm phóng viên A.C. Thompson đã mở cuộc điều tra kéo dài hai năm, mong tìm thủ phạm đã giết chết một loạt nhà báo gốc Việt, và làm sáng tỏ nghi vấn cho là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (Mặt Trận) là tổ chức đứng sau những cái chết này.





Ông Nguyễn Xuân Nghĩa trong buổi phỏng vấn với nhóm phóng viên của Frontline khi họ thực hiện phim “Terror in Little Saigon.”




Trong thời gian điều tra, nhóm làm phim tìm đọc và phân tích hàng ngàn trang tài liệu, gồm: “Silenced: The Unsolved Murders of Immigrant Journalists in the United States,” do Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (CPJ) xuất bản năm 1994, công văn của CIA, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, hồ sơ di trú Hoa Kỳ, và quan trọng nhất là hồ sơ cuộc điều tra kéo dài 15 năm của FBI. Đoàn làm phim cũng đi đến hàng chục thành phố ở Mỹ, bay qua Việt Nam và Thái Lan, thực hiện 140 cuộc phỏng vấn, trong đó có hàng chục cựu thám tử và nhân viên tình báo, thân nhân những ký giả bị giết, và nhiều người bị ám sát nhưng thoát chết, chưa bao giờ cho ai phỏng vấn.


Tại Đông Nam Á, nhóm làm phim phỏng vấn cựu lãnh đạo tình báo Thái Lan, Prasong Soonsiri, và Chavalit Yongchaiyudh, cựu Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoàng Gia Thái Lan, kiêm Thủ Tướng Thái Lan, và gặp năm cựu thành viên thuộc nhóm du kích chống Cộng Sản Lào, và một thành viên từng tham gia chiến khu của Mặt Trận. Trong thành phần lãnh đạo của Mặt Trận, A.C. Thompson cho biết đã phỏng vấn ba người mà ông gọi sáng lập viên, trong đó có kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, người duy nhất xuất hiện trong phim.


Ngoài “Terror in Little Saigon,” kết quả cuộc điều tra còn được đúc kết trong một tài liệu dài 72 trang đi kèm, có tên “Terror in Little Saigon, an Old War comes to a New Country,” do phóng viên A.C. Thompson biên soạn, do trang mạng Frontline công bố hôm 3 tháng 11, trước khi phim được trình chiếu buổi tối cùng ngày.


Một đoạn trong tài liệu 72 trang này viết, (trích): “Ông Nguyễn Xuân Nghĩa xưa kia là thành viên của Mặt Trận, và giờ đây ông nói về thập niên đó trong tư thế bào chữa pha lẫn niềm ân hận...”


“...Trong loạt phỏng vấn với ProPublica và Frontline, ông Nghĩa đưa ra những nhận định thay đổi về Mặt Trận. Thoạt đầu, ông cả quyết rằng tổ chức này tuyệt đối không dính líu gì đến những vụ ám sát các nhà báo hay ai khác ở Mỹ.”


“Trong những lần trò chuyện sau, khi phải đối mặt với những bằng chứng về bạo lực của Mặt Trận, ông đổi giọng. Trong một cuộc phỏng vấn có thu hình, ông Nghĩa nói rằng ‘rất có thể’ là các thành viên Mặt Trận đứng đằng sau vụ ám sát ký giả (Nguyễn) Đạm Phong và có thể đã gây ra những tội ác khác.”


“Trong Mặt Trận, ông Nghĩa thừa nhận, có một nhóm rất hung bạo, và khi người quay phim tắt máy, ông Nghĩa thú nhận đã tham gia một buổi họp của Mặt Trận, trong đó các thành viên thảo luận việc ám sát biên tập viên của một nhật báo nổi tiếng ở Quận Cam. Ông Nghĩa nói, ông đã thuyết phục được chiến hữu của mình đừng giết người đó.”


“Đó là một chương đen tối trong cuộc đời tôi,” ông Nghĩa nói.” (hết trích)


Thường thì tập tài liệu đi kèm cuốn phim được dùng để giải thích thêm những gì các nhân vật phát biểu trong phim, để làm rõ hơn câu chuyện, vì thời lượng của phim rất giới hạn. Nhưng trong trường hợp này, phần tường thuật về những gì kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa nói và phần phát biểu của ông trong phim “Terror in Little Saigon” rất tương phản. Trong phim, ông Nghĩa gọi việc “nói người trong Mặt Trận ám sát các nhà báo là 'phi lý' (nonsense) và khi mọi người cứ nói về những chuyện đại loại như vậy, nó tạo một ấn tượng rất xấu cho cộng đồng của chúng tôi,” trong khi đó, theo tường thuật (trong tài liệu 72 trang) nêu trên của A.C. Thompson, thì “ông Nghĩa thú nhận đã tham gia một buổi họp của Mặt Trận, trong đó các thành viên thảo luận việc ám sát biên tập viên của một nhật báo nổi tiếng ở Quận Cam.”


Để làm sáng tỏ mâu thuẫn này, người viết đã có cuộc phỏng vấn với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, đã từng là vụ trưởng Vụ Tuyên Vận của Mặt Trận. Dưới đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn.


***


Hà Giang (NV): Xin ông cho biết những gì được viết trong tài liệu “Terror in Little Saigon, an Old War comes to a New Country” về những cuộc phỏng vấn ông, trên trang mạng Frontline, công bố hôm 3 tháng 11, có trung thực không?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Một nhảm nhí của truyền thông Mỹ (US Media bull***) xuyên tạc và không trung thực!


NV: Ông có thể giải thích rõ, xuyên tạc và không trung thực như thế nào?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Họ phỏng vấn tôi tất cả bốn tiếng đồng hồ qua ba lần. Kết quả là họ chỉ lấy được một phút trong phim với lời dẫn giải trước đó trên bản quảng cáo cố tình tạo hiểu lầm. Trước khi có cuốn phim, họ phổ biến một bài quảng cáo dài 12 ngàn chữ trong 72 trang cùng một số hình ảnh có chọn lọc với ác ý, trong đó đoạn văn viết về việc tôi trả lời phỏng vấn là hoàn toàn bịa đặt, vừa thiếu đạo đức vừa thiếu chuyên nghiệp.


NV: Xin hỏi lại cho rõ, ông có nói với nhóm làm phim A.C. Thompson, khi họ ngừng quay phim, rằng “ông đã tham gia một buổi họp của Mặt Trận, trong đó các thành viên thảo luận việc ám sát biên tập viên của một nhật báo nổi tiếng ở Quận Cam.” như họ tường thuật trong tài liệu “Terror in Little Saigon, an Old War comes to a New Country” không?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi không hề nói câu đã tham gia một buổi họp của Mặt Trận, trong đó các thành viên thảo luận việc ám sát biên tập viên của một nhật báo nổi tiếng ở Quận Cam, cả trong khi quay phim lẫn lúc không quay phim.


NV: Tại sao lại có sự kiện như vậy và tại sao họ phải gặp ông đến những ba lần để phỏng vấn?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Sở dĩ tôi nói họ thiếu đạo đức và thiếu chuyên nghiệp là khi gặp tôi lần đầu, A.C. Thompson nói là muốn làm một cuốn phim về cộng đồng Việt Nam sau 40 năm và PBS sẽ phát hình vào Tháng Chín, 2015. Sau dăm phút nói chuyện, tôi nhận ra là A.C. Thompson không hề muốn hỏi gì về sinh hoạt cộng đồng mình, mà muốn hỏi tôi về nghi vấn Mặt Trận giết những nhà báo. Tôi quạt ngược và nêu nhiều nghi vấn, vì sao họ không điều tra tìm hiểu những chuyện khác, như ai trong Chính quyền JFKennedy quyết định về số phận của Tổng Thống Diệm? Ai thật sự giết Kennedy hay Mục Sư Martin Luther King? Còn vụ thảm sát Mậu Thân 1968 thì sao?


Kết quả lần đó, có lẽ không đạt “mục đích yêu cầu,” nói theo người Hà Nội!


NV: Rồi sao nữa, thưa ông?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì vậy, lần thứ hai, vào Tháng Chín, A.C. lại muốn xin gặp tôi và lần này nói là thực sự muốn hỏi về việc Mặt Trận. Tôi đồng ý và nghĩ mình không có gì phải giấu. Tôi nói nhiều về cơ cấu của tổ chức khi tôi còn ở trong Mặt Trận, về việc ông Phạm Văn Liễu lo cơ cấu hải ngoại, và ông Hoàng Cơ Minh lo chiến khu. Tôi đã mất cả giờ để giải thích vai trò của Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại là Phạm Văn Liễu, với đơn vị K9 trong Mặt Trận, mà A.C. Thompson không hề dùng tới, không hề nhắc đến tên của ông Liễu. Tôi cũng nói nhiều về ông Hoàng Cơ Minh, mà A.C. Thompson cũng không hề dùng đến, vì những điều tôi nói không hợp với mục đích cuốn phim của ông ta.


NV: Ông đã nói những điều gì về ông Hoàng Cơ Minh mà họ không dùng?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Về con người ông Minh và điều ông nhấn mạnh “hết chiến tranh và quân đội rồi, không được nghĩ theo kiểu chiến tranh và vũ trang, mà phải nghĩ đến đấu tranh.” Tôi còn chia sẻ đoạn đối thoại khi gặp ông Minh lần đầu trong đời, và yêu cầu họ, nếu trích dẫn thì hãy trích đoạn này: “Tôi hỏi ông Minh vào năm 1984: Ông có tin rằng việc ông làm sẽ thành công không và năm năm nữa thì ông ở đâu, làm gì? Ông Minh trả lời: ‘Tôi không nghĩ là tôi sẽ thấy Việt Nam thoát khỏi chế độ Cộng Sản trong cuộc đời của tôi. Nhưng thà tôi chết như một tên thảo khấu trong rừng còn hơn sống kiếp người mất nước, tị nạn tha hương ở quê người. Và đây là câu đáp đã gây ‘nghiệp’ cho tôi: Thế thì không cần nói có 10,000 người trong chiến khu, mà chỉ có ba người, tôi cũng đi theo ông tới cùng.’”


NV: Trong lần phỏng vấn thứ ba, ông thảo luận gì với họ?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Nói thêm cho rõ. Lần gặp thứ hai, ngày 11 Tháng Chín, họ đề nghị phỏng vấn tôi “incognito” hay “anonymous” - che mặt và đổi giọng nói - tôi cũng đồng ý và nói y như trước về ông Minh, ông Liễu, về Hoa Kỳ, trước mặt cả ba người! Sau đó một ngày, A.C. Thompson nói là cấp trên cho là không đạt yêu cầu (!) nên hoãn chuyến bay để ở lại phỏng vấn tôi lần ba, với đầy đủ hình ảnh, vào 13 Tháng Chín. Tôi cũng đồng ý và vẫn trả lời rõ ràng. Họ không xài được hai lần sau, chỉ phổ biến hình ảnh và lời nói của tôi trong lần phỏng vấn đầu tiên, khi thu hình trong nhà tôi ngay sau Tết Ất Mùi, vào cuối Tháng Giêng. Họ không hài lòng vì tôi không làm nhân chứng gian nên nhục mạ tôi!

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

Đòn Tiền Tệ Của Trung Quốc: Việt Nam làm sao chống đỡ?



Đòn Tiền Tệ Của Trung Quốc: Việt Nam làm sao chống đỡ?




Trọng Nghĩa - Nguyễn-Xuân Nghĩa RFI Ngày 150817
Tạp Chí Việt Nam  





Đòn tiền tệ của Trung Quốc: Việt Nam làm sao chống đỡ ?
* Un employé d'une succursale de la Banque agricole de Chine compte des billets de 100 dollars et de 100 yuans, à Qionghai, le 12 novembre 2012.REUTERS/China Daily *




Liên tiếp trong ba ngày từ 11/08/2015, Trung Quốc đã mặc nhiên phá giá đồng yuan (nhân dân tệ) của họ, cho dù Ngân hàng trung ương Trung Quốc luôn phủ nhận điều đó. Hành động của Trung Quốc đã tác động mạnh đến tiền tệ các nước khác, đặc biệt là các quốc gia bị lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Trung Quốc. Việt Nam nằm trong diện các quốc gia này.

Chỉ một hôm sau khi Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã lập tức tung ra một biện pháp chống đỡ : cho mở rộng biên độ tỷ giá đồng nội tệ Việt Nam so với đồng đô la Mỹ từ 1% lên thành 2%, một biện pháp tạm thời nhằm giảm áp lực đến từ Trung Quốc.

Ngày 14/08, Chính phủ Việt Nam cũng đã họp bàn về tác hại của sự kiện Trung Quốc phá giá đồng tiền của họ và kế sách đối phó.

Trong những ngày qua, giới chuyên gia kinh tế trong nước đã không ngớt phân tích về ảnh hưởng của việc đồng nhân dân tệ Trung Quốc giảm giá đối với kinh tế Việt Nam, và các ý kiến nói chung đều rất bi quan, cho rằng Việt Nam sẽ phải chịu tác hại rất lớn vì đã để cho mình bị lệ thuộc Trung Quốc quá nặng về mặt kinh tế.


Nhập siêu với Trung Quốc lớn thêm, cạnh tranh thêm khốc liệt


Lo ngại đầu tiên là khoảng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc vốn đã rất lớn, nay lại có khả năng tăng thêm, với nguy cơ hàng Trung Quốc, được giá rẻ hơn nâng đỡ, sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam.

Bên cạnh đó, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sẽ mất sức cạnh tranh so với hàng Trung Quốc trên các thị trường quốc tế. Báo chí Việt Nam trong những ngày qua đã trích dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích một cách tượng hình như sau:

«Nếu ngày xưa Trung Quốc bán cho ta 100 đồng thì nay, giá chỉ còn 95 đồng. Ngược lại, hàng Việt Nam bán vào Trung Quốc ngày xưa là 100 thì giờ giá là 105. Khi đó, đương nhiên hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ khó hơn, do bất lợi về giá».

Tình trạng tương tự cũng sẽ diễn ra trên các thị trường quốc tế. Một ví dụ cụ thể, được Tiến Sĩ Thành nêu lên là trường hợp tôm hay hàng quần áo đang xuất khẩu vào Mỹ. Nếu trước đây, hàng Việt Nam và Trung Quốc đều như nhau ở mức 100 chẳng hạn, nhưng nay, hàng Trung Quốc sẽ chỉ là 95, còn hàng Việt Nam vẫn là 100.

Điều này sẽ rất bất lợi khi hàng Việt cạnh tranh trực tiếp hàng Trung Quốc giá rẻ hơn trên thị trường quốc tế, nhất là khi hàng Trung Quốc tương đồng với hàng Việt Nam.


Bắc Kinh phá giá đồng yuan: "Cơ hội cho Việt Nam tỉnh giấc"


Ngón đòn tiền tệ của Trung Quốc tai hại đến mức nào đối với Việt Nam, và Việt Nam có thể làm gì để ứng phó? Trả lời phỏng vấn của RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ trước hết đã vạch trần thủ đoạn của Bắc Kinh, đã khởi động một cuộc chiến tranh tiền tệ bằng cách phá giá đồng nhân dân tệ, nhưng luôn lớn tiếng cho rằng họ không hề phá giá, và sở dĩ đồng tiền Trung Quốc hạ giá, đó là do cơ chế thị trường!

Về phản ứng tức thời của Việt Nam trước động thái của Trung Quốc, mở rộng biên độ tỷ giá đồng nội tệ Việt Nam, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng đó là một biện pháp tích cực, nhưng chưa đủ, cần phải kèm theo một chiến lược lâu dài là dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc về mặt kinh tế. Một trong những biện pháp là quyết tâm gia nhập khối kinh tế Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Đối với chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa, việc Trung Quốc khơi mào một cuộc chiến tiền tệ, là một cơ hội giúp Việt Nam tỉnh giấc.

Sau đây mời quý vị nghe phân tích của chuyên gia Nguyên Xuân Nghĩa về tác hại của việc đồng nhân dân tệ Trung Quốc bị phá giá đối với Việt Nam:


Phỏng vấn chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa 17/08/2015 nghe


1- Ảo thuật Trung Quốc: Thế nào là phá giá?


Bắc Kinh vẫn duy trì chế độ kiểm soát hối đoái, là dân không được giữ ngoại tệ, có xuất cảng mà thu về ngoại tệ thì phải bán cho nhà nước theo hối suất do nhà nước quy định. Thứ hai, họ neo giá đồng Nguyên (Yuan) - mà họ gọi với cái tên xảo là “Nhân dân tệ” hay Renminbi - vào đồng đô la Mỹ và ấn định hối suất trao đổi. Họ thường ấn định thấp để thu đô la về mà trả ra ít tiền hơn cho nhà sản xuất.

Đấy là một khía cạnh của hiện tượng mà giới kinh tế gọi là “bóc lột tài chánh”, répression financière, vì người dân thắt lưng buộc bụng bán hàng cho rẻ khi thu về ngoại tệ thì nạp nhà nước và được trả với giá bèo. Hậu quả của chánh sách này là hàng rẻ của Trung Quốc tràn ngập khắp nơi và thực tế là cạnh tranh bất chính, nhưng nhà nước có một khối ngoại tệ khổng lồ, lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la.

Bây giờ ta mới đi vào chuyện chuyên môn hơn, là nhìn ra nhiều ngoắt ngoéo khiến Bắc Kinh vẫn cãi là họ đang theo quy luật thị trường chứ không phá giá!

Vì bị thế giới than phiền, từ 2005, Bắc Kinh chậm rãi nâng hối suất qua hai đợt với kết quả là từ tám đồng hai lên sáu đồng hai đã ăn một Mỹ kim. Họ còn vẽ ra một con rắn, cũng là un serpent monétaire, là “biên độ giao dịch” mua vào hay bán ra đô la trong khoảng trên dưới 1% so với hối suất chính thức. Từ Tháng Ba thì họ mở rộng biên độ giao dịch từ 1% lên 2% như Hà Nội vừa làm vào ngày 12 vừa qua (nhưng quyết định ấy của Hà Nội chưa thật sự là phá giá như nhiều người lầm tưởng).

Từ đầu năm nay, thị trường chật hẹp (xê xích 2%) đã có hướng giao dịch với tâm lý là đồng Nguyên mất giá tới mức thấp nhất so với giá chính thức. Hôm Thứ Ba 11, Bắc Kinh đưa ra cách chấm một giá thấp trong biên độ 2% của hôm trước làm giá chính thức được loan báo vào 9:15 sáng hôm sau. Giá hôm 11 đó giảm 1,9% so với giá chính thức hôm trước, tức là họ mặc nhiên phá giá 1,9%.

Hôm sau, Thứ Tư 12 thì họ lại chọn giá thấp hơn 1,6% và tiếp tục như vậy. Tức là mỗi ngày có thể hạ 2%, trong biên độ hay con rắn ngoằn ngoèo của hôm trước. Tính đến Thứ Năm 13, trong ba ngày họ phá giá gần 4% rồi cho nhích lên chút đỉnh.

Không nói về những khó khăn chồng chất dẫn đến quyết định phá giá thì Bắc Kinh vẫn kiểm soát và thực tế can thiệp vào thị trường hối đoái chứ không thả nổi cho đồng bạc lên xuống theo quy luật cung cầu. Nhưng Bắc Kinh khéo lòe ở việc buông tay cho giá rớt vì chọn giá giao dịch ngày hôm trước làm giá hôm sau và nói rằng giá ấy là của thị trường. Họ mới chỉ nới dây neo một chút như vậy thì chưa thể gọi là giải tỏa được.

Chuyện thứ hai mới lòi ra tính chất gian trá. Vài ngày qua, vào 15 phút cuối ngày giao dịch thì các ngân hàng thương mại của nhà nước được lệnh kín đáo nhảy vào bán đô la khiến đồng Nguyên lên giá chút đỉnh. Mục đich là để làm cơ sở cho Ngân hàng Nhà nước của Bắc Kinh chấm giá chính thức vào hôm sau.

Đấy cũng là nhà nước can thiệp vào thị trường chưa có tự do. Nhìn cách khác thì người dân thấy chiều hôm trước chính quyền Bắc Kinh bật tín hiệu cho thị trường hôm sau, tức là nhà nước vẫn lũng đoạn theo cái hướng đẩy lên hay dìm xuống cho thần dân theo đó mà chơi và tin vào cái lưới đỡ của nhà nước!


2- Việt Nam đỡ đòn


Nói về Việt Nam thì Hà Nội mới chỉ mở rộng biên độ mua bán chứ chưa ấn định một hối suất hay tỷ giá chính thức thấp hơn, nên chưa thể gọi là phá giá. Nhưng quyết định cũng tạo ra hoàn cảnh cho doanh nghiệp lách sâu hơn xuống dưới để phần nào thoát được hiệu ứng phá giá của Bắc Kinh.

Tuy nhiên bi kịch của Việt Nam rộng lớn hơn vậy. Kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc và bị nhập siêu nặng, mua nhiều hơn bán đến 40 tỷ, cả qua ngả chính thức lẫn ngoại ngạch, tiểu ngạch - hay nôm na là buôn lậu - với sự đồng lõa của các chính quyền địa phương trong hệ thống mậu biên. Vì vậy, việc Bắc Kinh phá giá là tai họa trước mắt. Trong việc buôn bán với Tầu, họ xuất cảng rẻ hơn và Việt Nam xuất cảng đắt hơn.

Đã thế, vế bên kia còn thê thảm hơn. Việt Nam cũng mắc nợ quá nhiều và khi Mỹ kim quá rẻ trong các năm Tổng suy trầm thì nhiều người vay bằng đô la với lãi suất hạ để kiếm lời ở nhà. Nay đô la lại lên giá và lãi suất cũng sẽ tăng thì gánh nợ trở thành đắt đỏ và khó trả hơn. Đâm ra, Việt Nam bị đồng Nguyên ghìm xuống đáy và bị đồng Mỹ kim kéo lên trời nên sẽ căng mỏng và rách nát!

Về lâu dài, Hà Nội phải quan niệm lại từ chiến lược đến tổ chức để thoát Tầu và việc gia nhập TPP là một cơ hội. Nhưng người ta không lạc quan về khả năng của lãnh đạo vì họ đã giàng buộc số phận của quốc gia vào các quyết định của Bắc Kinh.


3- Làm sao bây giờ?


Việc Bắc Kinh phá giá và mở ra trận chiến ngoại tệ với các bạn hàng của mình là một cơ hội tỉnh giấc cho Việt Nam. Sau biện pháp chống đỡ mau lẹ là cũng mở rộng biên độ giao dịch, chính quyền Hà Nội nên có những biện pháp và tuyên bố rõ ràng hơn để trấn an dư luận và nghiên cứu kế hoạch “Thoát Tầu” một cách cụ thể, ít ra về mặt kinh tế.

(1) Thứ nhất là nên bít lỗ hổng trong luồng giao dịch với Trung Quốc, như loại tiểu ngạch hay ngoại ngạch mậu biên, thực chất là buôn lậu.

(2) Thứ hai là thiết lập chiến lược kinh doanh hầu Việt Nam ra khỏi tình trạng làm gia công cho Tầu để xuất cảng nguyên nhiên vật liệu của Tầu dưới dạng “hàng chế biến tại Việt Nam”, và như vậy cũng phải tìm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu khác.

(3) Thứ ba, trong chiều hướng đó, cố gắng cải cách để có điều kiện gia nhập hiệp ước TPP trong năm tới. Khi đã gia nhập thì đừng tiếp tục là “con ngựa chiến thành Troie của Trung Quốc”, là mũi nhọn kinh tế để bán hàng của Trung Quốc cho 11 thành viên còn lại là TPP dưới cái nhãn “Made in Vietnam”.

Dù sao, việc Bắc Kinh phá giá và thực tế khai chiến với các bạn hàng Á Châu cũng khiến các nước nhìn lại những hứa hẹn hợp tác và thịnh vượng của Trung Quốc về Con Đường Tơ Lụa, Ngân hàng BRICS, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB, v.v….

Nhìn sâu xa hơn thì khi đồng Nguyên mất giá như vậy, các ngoại tệ khác đều bị hiệu ứng nhưng nặng hay nhẹ thì còn tùy vào mối giao dịch thương mại với thị trường Hoa lục.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Nguyễn Xuân Nghĩa - Tốc Váy Nữ Oa



Nguyễn Xuân Nghĩa - Tốc Váy Nữ Oa




Muốn đấu trí với Trung Quốc thì cần trí tuệ - và sự dũng cảm   




* Tâm tầm đều kém, đởm lược đều nông - chỉ có tham vọng là đáng kể *




Ngày xưa, có một bác Tôn đã dạy rằng “Ta đông gấp mười thì vây. Đông gấp năm thì tấn công. Đông gấp đôi thì đánh. Ngang sức thì chia. Ít hơn thì thủ. Yếu hơn thì lặn”. Bác Tôn đây không là con khỉ Tôn Ngộ Không hay Tôn Dật Tiên mà là Tôn Tử. Ông ta là người gốc nước Tề làm quan cho nước Ngô của Hạp Lư vào thời Xuân Thu bên Tầu nên cũng được gọi là Ngô Tôn Tử. Lý luận về binh pháp của ông là một túi khôn cho nhân loại về sau, trong nhiều lãnh vực nằm ngoài quân sự.

Tuần qua, khi đọc Bạch Thư Quốc Phòng của Bắc Kinh, người viết này nhớ đến binh pháp Tôn Tử và… xiêm y đàn bà. Vì miên man nghĩ đến một thiên tài toán học vừa tạ thế hôm 24 trong một tai nạn xe cộ lảng nhách. Đó là John F. Nash Jr.

Sinh năm 1928 tại Hoa Kỳ, Giáo sư Nash là một người điên thật. Ông mắc bệnh “tâm thần phân liệt” và thường nghĩ rằng mình bị ai đó rình mò ám hại. Nhưng khi tỉnh, ông là nhà toán học phi thường, đã đoạt nhiều giải thưởng cao quý nhất về toán và còn lãnh giải Nobel Kinh tế.

Cũng dị! Làm toán mà lãnh Nobel kinh tế? Khách ngồi bên có kẻ tò mò gặng hỏi. “Mà nhà bác này, chuyện ấy ăn nhậu gì tới cuốn Bạch Thư của Trung Quốc hay xiêm áo đàn bà?”

Có chứ! Cứ hay nóng ruột…

***

Chỉ vì từ khi còn trẻ, đang là sinh viên tại Đại học Princeton, ông Nash đã nguệch ngoạc ra một số lý luận có thể làm Tôn Tử giật mình mà viết thêm một thiên trong bộ Binh pháp khét tiếng của ông.

Về sau, một giáo sư kinh tế người Mỹ gốc Hung là John Harsanyi đã khai triển lý luận của Nash với những đóng góp bằng tâm lý học và kinh tế học thành một nhánh quan trọng của “thuyết đấu trí” hay “game theory”. Nói gọn cho dễ hiểu thì khi địch tính thế này thì ta tính thế nào để đánh ít mà được nhiều? Cao điệu hơn cả là khỏi đánh mà cũng được! Thế rồi, Giải Nobel Kinh tế năm 1994 đã lọt vào tay hai giáo sư Nash và Harsanyi cùng kinh tế gia Đức là Reinhard Selten nhờ những đóng góp cho thuyết đấu trí.

Nhưng người ta chú ý nhất đến “mô hình” hay “Trận thế Nash-Harsanyi”.

Để trả lời sự nóng lòng của khách ngồi bên - và độc giả trước mắt -  xin khởi đi từ phạm vi thương thảo kinh tế hay kinh doanh. Nhưng ai chẳng biết rằng mọi việc thương thuyết dù là ngoại giao hay kinh tế, đều bị chi phối bởi chính trị, là yếu tố mà ta không thể xao lãng.

Sở dĩ như vậy, các nước nói chung đều tham gia đàm phán cho việc hợp tác trong môi trường lý tưởng là có pháp quyền, với tinh thần minh bạch tôn trọng các luật lệ và cam kết. Sự thể thực tế thường không được như vậy và càng không hề có với Trung Quốc, một quốc gia mắc hai bệnh tự tôn và tự ti. Tự tôn về văn hóa – Binh pháp Tôn Tử là một thí dụ - mà tự ti về kỹ thuật vì còn quá chậm tiến nếu so với các đối tác hay đối thủ Âu-Mỹ-Nhật.

Nói về truyền thống thì người Việt đã có hơn hai ngàn năm đấu trí để tồn tại và còn giành lại độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc. Phải nói rằng ít có dân tộc nào lại có nhiều kinh nghiệm ứng xử trong một chiều dày văn hóa và lịch sử như vậy. Kinh nghiệm tích lũy đó đã trở thành một phần hồn của dân tộc và là một kho kiến thức của tập thể mà mình nên nhắc lại và giáo dục cho các thế hệ.

Cho nên những gì đang xảy ra từ mấy chục năm nay, từ khi có đảng Cộng sản Việt Nam thành hình trong bóng tối Trung Quốc, chỉ là một giai đoạn ngắn thôi. Đấy là giai đoạn mà đảng và nhà nước ta tự chụp lấy váy của bà Nữ Oa lên đầu.