Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Nguyễn Tuấn - Người Việt xấu xí: "Tấm lòng lớn - cái đầu nhỏ"



Nguyễn Tuấn - Người Việt xấu xí: "Tấm lòng lớn - cái đầu nhỏ"





dau nho-tim lon.jpg
Hình minh họa từ internet



Đọc câu chuyện dưới đây chắc sẽ làm nhiều người trong chúng ta cảm thấy xấu hổ. Hai vợ chồng người Mĩ kì cóp được 58,000 USD để tài trợ xây dựng một thư viện cộng đồng ở Bồng Sơn (Bình Định), nơi ông từng tham chiến trong thời gian 1969-1970. Thay vì xây thư viện, người ta dùng tiền đó xây trường tiểu học! Kinh phí lúc đầu là 35000 USD, nhưng người ta nâng lên 58000 USD. Người ta cũng chẳng ghi tên ân nhân, mà chỉ dòng chữ đầy tính cách Việt Nam hiện đại: “món quà của người Mỹ dành cho người dân Bồng Sơn”! Hai vợ chồng người Mĩ cảm thấy họ bị lường gạt, và trong thực tế, họ đã bị lường gạt. Họ nói họ không muốn tài trợ gì nữa, mà trong thực tế, họ cũng không còn tiền. Câu chuyện một lần nữa nói lên cái tính xấu xa và vô ơn bạc nghĩa của một số người trong hệ thống đảng và chính quyền ở VN.

Câu chuyện làm tôi nhớ đến chuyện dưới quê tôi. Chuyện là một anh chàng kĩ sư người Đức có vợ trong làng tôi, và như là một nghĩa cử cám ơn, anh quyên tiền xây dựng một bệnh xá cho làng. Là người Đức, anh ta rất cẩn thận và quan tâm đến chất lượng, đích thân anh ta xem xét từng viên gạch và kiểm tra việc xây dựng. Kết quả là một bệnh xá ngon lành, có lẽ chất lượng nhất tỉnh. Đến ngày khánh thành, các quan chức huyện xã tề tựu đầy đủ, diễn văn và những lời hoa mĩ được phát ra. Anh ta hỏi vợ là "họ có nói gì đến mình không", cô vợ buồn thiu nói: "không, họ nói 'nhờ sự quan tâm của đảng và nhà nước'." Anh ta kể câu chuyện cho tôi nghe, và kết luận rằng "never again" (không bao giờ có lần thứ hai). Nghe xong, tôi chỉ biết xin lỗi, và hứa rằng không phải người Việt nào cũng vô ơn như thế. Anh ta cười nói hóm hỉnh nói "Ừ, tôi đồng ý", rồi dường như thấy chưa đủ, anh nói thêm "Tôi cảm thấy ở Việt Nam người có chức quyền càng cao thì họ càng vô văn hoá". Quả là một nhận xét tinh tế!

Quay lại câu chuyện hai vợ chồng người Mĩ, họ cũng đủ tỉnh táo để phân biệt quan chức và dân Việt Nam. Họ phàn nàn rằng “I value the relationship with them, but they have small minds” (Tôi coi trọng mối quan hệ với họ, nhưng họ có đầu óc nhỏ mọn"). Quá chính xác.

Tôi nghĩ chính quyền Bình Định nên viết một lá thư xin lỗi hai vợ chồng ông ấy. Phải thay ngay cái tấm biển cám ơn, và đề đích danh vợ và chồng đã tài trợ cho việc xây dựng trường.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Nguyễn Tuấn - Một cõi đi về …


Nguyễn Tuấn - Một cõi đi về …





Dai ta Le Ba Hung.jpg



Mượn tựa đề của một bài hát của Trịnh Công Sơn để mô tả cảm giác của tôi về sự “qui cố hương” của Đại tá Lê Bá Hùng. Thật ra, nói “qui cố hương” là không đúng; anh ta chỉ viếng thăm chính thức thôi. Ngày rời quê mẹ là một cậu bé 5 tuổi, ngày trở về là một đại tá, chỉ huy cả hai chiếm hạm thuộc loại hiện đại nhất của hải quân Mĩ. Sự trở về của anh ta, một lần nữa, minh chứng cho câu nói bất hủ của ông Phạm Văn Đồng … quá bậy bạ. (Ông trả lời báo chí Tây và nói rằng những người vượt biên là “thành phần đĩ điếm, xì ke, trộm cướp chạy theo tàn dư Mỹ Nguỵ”)

Dĩ nhiên, người di tản không phải là thành phần trộm cướp, mà thời đó là thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam. Họ là những người học hành đàng hoàng (không có bằng dỏm tràn lan như ngày nay), họ được đào tạo bài bản từ các nước tiên tiến hay ngay trong nước, họ là những chuyên gia rất tài giỏi của chế độ VNCH. Họ có thể không tốt trong việc đánh đấm ngoài chiến trường, nhưng họ là những người có học nghiêm chỉnh và có lòng nhân từ bác ái. Nếu có đi tị nạn thời đó và có dịp sống trong các trại tị nạn Đông Nam Á thời đó, các bạn thấy họ là những chuyên gia thứ thiệt, nói tiếng Anh không hề thua kém, thậm chí hơn hẳn, các quan chức Thái. Khi đến Thái Lan, họ rất dễ làm việc với người Mĩ và phương Tây vì cùng “bộ lạc” và nói cùng ngôn ngữ [tiếng Anh] nên rất dễ biết nhau.

Tôi nhớ hoài một kỉ niệm khi ở chung trại với một người mà lúc đó chúng tôi chỉ gọi là “Chú Ba Trung Tá”. Chú là người Bình Định, quê nội tôi, lúc đó chắc cỡ 50 tuổi nhưng đầu bạc trắng. Chú đi tị nạn một mình, nghèo rớt mồng tơi như tôi, suốt ngày chú chỉ có cái quần short và áo thun đã ngã màu vàng. Chú từng là trung tá không quân thời VNCH và từng đi học ở Mĩ nhiều năm, nên chú nói tiếng Anh rất giỏi, y như người Mĩ. Nhưng chú có óc hài hước vui lắm, suốt ngày kể chuyện tiếu lâm. Lúc đó, tôi có biết tiếng Anh tiếng U gì đâu (tôi học chương trình Pháp), nên nhìn thấy cách nói chú tiếng Anh rất tự tin và tự nhiên, tôi phục sát đất, và trong lòng thì lo ngại chẳng biết bao giờ mình mới nói được như chú ấy. Một hôm, phái đoàn Cao Uỷ tị nạn Liên Hiệp Quốc ghé trại làm thủ tục cho các thuyền nhân đi nhập trại Songkhla (cách đó vài trăm cây số), và chú Ba Trung Tá là người thay mặt nhóm làm thủ tục, điền đơn. Một quan chức Thái khen chú là “Your English is very good”, chú ba nhìn đám tụi tôi lúc đó đang đứng quanh chú, rồi cười nói bằng chất giọng nẫu : “Thằng mọi này nó khen tao nói tiếng Anh giỏi. Đồ dốt, tao nói giọng nước mắm, sao giỏi được.” Tôi nhớ chú nói như thế. Nhớ hoài. Và nhớ câu tiếng Anh giọng nước mắm từ đó. Sau này, chẳng biết chú Ba Trung Tá định cư ở bang nào bên Mĩ, vì khi lên trại Songkhla chú chọn đi Mĩ (dĩ nhiên), còn tôi thì đi Úc.

Lúc đó, người miền Nam vẫn rất tự cao, và xem các dân tộc khác trong vùng là “mọi”. Thú thật, lúc tôi mới lên bờ Thái Lan, ở một vùng xa lánh gọi là Budi (gần biên giới Mã Lai), thấy xe hơi chạy vù vù, nhà cửa đâu ra đó, đường xá ngon lành, người thì nhìn có vẻ sáng láng, tôi thấy mình mới chính là mọi, chứ họ đâu phải là mọi mà văn minh hơn mình nhiều.

Những người như chú ba là thuộc thế hệ 1. Đó là thế hệ ưu tú của VNCH, đúng như ông Lý Quang Diệu từng nhận xét. Ông Lý từng lo ngại rằng nếu những người này có một hòn đảo để định cư thì có thể trở thành đối thủ cạnh tranh với Singapore của ông ấy. Nếu chính quyền mới đối xử với họ đàng hoàng, trong tình anh em cùng một nhà, thì tôi nghĩ rất có thể Việt Nam mình không thê thảm như thời thập niên 1980 – 1990. Đọc những hồi kí cải tạo của họ mới thấy tiếc cho Việt Nam, có một đội ngũ chuyên gia giỏi mà không biết dùng, lại còn cho họ vào tù và tống khứ khỏi quê hương! Anh bạn vong niên, là bác sĩ quân y thời đó mà tôi quen thường hay kể chuyện rằng lúc mấy bác ngoài Bắc vào tiếp thu tuy mang danh là “bác sĩ” nhưng họ rất kém, tên thuốc và bệnh danh viết còn sai tùm lum, còn kiến thức thì … ôi thôi quá tệ. Tệ đến nỗi người ta phải dùng danh từ "bác sĩ cách mạng" để phân biệt với bác sĩ nguỵ cho chắc ăn. Còn loại đỡ hơn chút thì suốt ngày ca ngợi ... xuyên tâm liên và bo bo. Hài hước đến khó tin. Nhưng những người đó, trớ trêu thay, lại là người điều hành bệnh viện. Đọc lại những câu chuyện mà các “bác sĩ” cách mạng này đối xử với mấy thầy cô ở BV Bình Dân còn ngao ngán hơn, giống như ếch nhái lên làm sếp vậy. Phải đợi đến khi ông Tôn Thất Tùng vào thì họ (các thầy cô miền Nam) mới được dễ thở và kính trọng hơn.

Điều đáng mừng là thế hệ thứ 2 thì khá hơn thế hệ thứ nhất nhiều. Lợi thế của thế hệ thứ 2 là họ hoàn toàn học hành bên này, do đó không tốn thời gian để hội nhập như thế hệ 1. Họ cũng có cơ hội bình đẳng hơn thế hệ 1. Do đó, không ngạc nhiên, thế hệ này có nhiều “ngôi sao”. Phần lớn là ngôi sao trong khoa học và giáo dục, chứ rất ít sao trong … quân đội. Thành ra, những người như Đại tá Lê Bá Hùng, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, Phi công Elizabeth Pham (chẳng biết mang hàm gì), v.v. là những người khá hiếm hoi trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Thử tưởng tượng một người Á châu, nhỏ con, mà vươn lên hàng tá, tướng, thậm chí phi công chiến đấu cơ trong quân đội toàn người Mĩ, thì chúng ta sẽ thấy họ xuất sắc như thế nào. Tôi thường hay nói với các bạn trẻ tuổi hơn là, người mình muốn ngang hàng với người Úc, thì mình phải "cao" hơn họ 2 cái đầu (nếu tiêu chuẩn là X để được A, thì người mình phải phấn đấu có 2X) thì họ nới nể phục, chứ bằng họ thì chưa đâu. Mấy người mang hàm tá tướng này chắc chắn cũng phải hơn đồng nghiệp Mĩ “hai cái đầu”. Có thể nói không ngoa rằng họ là niềm tự hào của Việt Nam.

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Ngô Nhân Dụng - Có ai biết Nguyễn Tuấn không ?


Ngô Nhân Dụng - Có ai biết Nguyễn Tuấn không ?








Chắc quý vị không ai biết Nguyễn Tuấn. Anh qua đời khi đang ngồi trong quán bánh ngọt tên là Jolly Donuts nằm ở góc Đại lộ Roscoe và Đường De Soto trong thành phố Los Angeles, nước Mỹ. Một chiếc xe hơi SUV cao và lớn đâm thẳng vào tiệm bánh lúc anh đang uống cà phê, khoảng 10 giờ đêm ngày 4 tháng Mười năm 2014.



image


Khi chết đi, trong túi Nguyễn Tuấn chỉ có mấy tấm vé sổ số cũ, 350 đô la tiền mặt, và một điện thoại di động. Thi hài anh được đưa vào nhà xác thành phố, tạm ghi tên là John Doe No. 278. John Doe là cái tên chung đặt cho những người không biết rõ họ, tên. Giống như lối người Việt gọi những người không rõ họ tên Nguyễn Văn Mỗ. Anh là tên Nguyễn Văn Mỗ thứ 278, trong số mấy trăm di hài vô thừa nhận trong nhà xác Los Angeles, một thành phố dân số gần 10 triệu.



image
John Doe No. 278


Sở giảo nghiệm (Coroner) chắc đã nhờ cảnh sát hỏi nhân viên làm trong quán cà phê mà đêm nào anh cũng tới, biết người ta gọi anh là “Tuan,” họ “Nguyen.” Vậy chắc tên anh là Nguyễn Tuân hay Nguyễn Tuấn. Nhưng vì anh không mang giấy tờ nào, cũng không thấy thân nhân nào đến nhận diện, cho nên họ vẫn ghi cái tên John Doe No. 278. Dấu tay anh được đưa cho cảnh sát tìm thêm, nhưng họ tìm không thấy trong các hồ sơ lưu trữ. Cả đời anh chưa bao giờ bị bắt vì phạm tội. Có người cho biết tuổi anh, chắc sinh vào năm 1961. Sở Xe tự động (DMV) cho chạy tên Tuan Nguyen 1961 trong máy vi tính, hy vọng tìm ra các chi tiết khác. Máy cho biết có 623 người họ, tên tương tự. Nếu tìm trong hồ sơ của Sở Di trú chính phủ Mỹ, chắc có thể thấy những dấu tay giống của anh; vì khi một di dân vào nước Mỹ thế nào cũng được lấy dấu tay. Nhưng trước đây gần 40 năm chưa có máy vi tính để chứa được nhiều dữ kiện trong hồ sơ các di dân như vậy. Cuối cùng, trước pháp luật, anh chỉ là John Doe No. 278, vô danh.

Thi hài Nguyễn Tuấn đang được giữ trong phòng lạnh của thành phố, với vài trăm người khác. Người ta sẽ lấy mẫu sinh học DNA từ người anh, lưu giữ để sau này cần sẽ dùng. Trong thời gian từ hai đến sáu tháng, nếu không ai đến nhận, anh sẽ được hỏa thiêu, rồi đưa về cất tại nghĩa trang của Quận Los Angeles. Trong vài năm, nếu vẫn chưa ai tìm, tro của anh sẽ được đem chôn. Mỗi năm, vào tháng Mười Hai, thành phố sẽ làm một lễ cầu nguyện cho tất cả những người được chôn chung như anh. Tôi viết bài này để xin báo Người Việt đăng ngày 22 tháng 11 năm 2014, nhân dịp 49 ngày Nguyễn Tuấn. Để xin quý vị cùng cầu nguyện hương linh anh bước vào một cõi bình an vĩnh cửu.