Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Nguyễn Trọng Bình - Thói quen “qua mặt” Nhân Dân hay là “Hội chứng Mỹ trong lòng Việt Nam?”



Nguyễn Trọng Bình - Thói quen “qua mặt” Nhân Dân hay là “Hội chứng Mỹ trong lòng Việt Nam?”







Ông Bob Kerry. Ảnh: BBC






1. Cách đây mấy năm, trong phiên tòa xét xử kẻ phạm tội giết người, khi HĐXX mời gia đình nạn nhân phát biểu thì Mẹ nạn nhân – một cụ già tuổi gần 80 đã đứng lên run rẩy nói với HĐXX như sau: “Tôi mới làm giỗ cho con tôi mấy bữa trước. Đằng nào con tôi cũng chết rồi, bị cáo còn vợ và 3 đứa con nhỏ, mong tòa cho cậu ấy con đường sống”. Nhờ câu nói của này bà mà kẻ sát nhân đã được HĐXX giảm cho án tử.

Đây là chuyện có thật mà báo chí nước nhà đã từng đưa tin. Những ai muốn xác nhận điều tôi vừa nói thì cứ nhờ google trợ giúp.

Mọi so sánh đều khập khiễng, tôi biết thế, tuy vậy, trong cuộc sống để vấn đề nào đó sáng tỏ hơn, chúng ta không thể không so sánh. Vậy nên chúng ta thử so sánh câu nói của cụ bà gần 80 tuổi trên với hai lần phát ngôn chính thức trước công luận của bà Tôn Nữ Thị Ninh liên quan đến chuyện Bob Kerrey và FUV xem sao?

Trước hết, cả hai lần phát ngôn chính thức của mình liên quan đến tội ác của Bob Kerrey cách nay mấy mươi năm, bà Ninh đều nhấn mạnh đây là quan điểm của riêng bà. Tương tự như vậy, cụ bà gần 80 tuổi trong câu chuyện vừa kể ở trên cũng phát biểu với tư cách cá nhân. Thế nhưng tại sao đều là quan điểm cá nhân nhưng ý kiến của cụ bà 80 thì người ta dễ dàng đồng tình (ít nhất HĐXX đã thống nhất giảm án cho kẻ sát nhân) còn ý kiến của bà Ninh lại dấy lên những tranh luận trái chiều?

Theo tôi, so với bà Ninh, cụ bà 80 phát biểu với tư cách của một người hoàn toàn trong cuộc. Nghĩa là hơn ai hết, chỉ có bà mới thấu hiểu nỗi đau tột cùng và có quyền nói tha thứ hay không tha thứ cho kẻ đã sát hại con mình. Bà Ninh thì khác, bà vừa là người trong cuộc vừa là kẻ ngoài cuộc. Không những vậy, bà Ninh lại là người làm chính trị, là cán bộ ngoại giao đại diện cho một bên trong cuộc chiến xảy ra cách nay mấy mươi năm. Nói cách khác, bà cụ 80 hoàn toàn “chính danh” khi nói lời tha thứ cho kẻ phạm tội còn bà Ninh chỉ là “nhân danh”, “mượn danh” để nói. Nhìn rộng ra, việc nhân danh này không chỉ riêng bà Ninh mà đa phần những người làm chính trị ở Việt Nam trước đó và bây giờ đều thế.

Có thể nói, từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, những người này mỗi khi bàn về vấn đề liên quan đến chiến tranh có dính đến yếu tố Mỹ hầu như chưa bao giờ hỏi hay tham khảo ý kiến của đại bộ phận nhân dân một cách nghiêm túc. Những phạm trù như thắng - thua, bạn - thù, căm hờn - tha thứ... tất tần tật đều do họ tự quyết và áp đặt xuống dân chúng. Đây là điều mà cố nhà văn Trang Thế Hy đã lên tiếng, nói thẳng trong truyện ngắn “Vết thương thứ mười ba” sáng tác năm 1988:

“Muốn biết chiến tranh là cái gì, người cần hỏi ý kiến, người cung cấp định nghĩa về chiến tranh chính xác nhất không phải là các nguyên thủ quốc gia, các chính khách lẻo mép và các vị thống chế tư lịnh không bị bom đạn làm trầy một miếng da nào”. Hay cụ thể hơn, theo Trang Thế Hy muốn biết bản chất thật của các cuộc chiến tranh hãy đi hỏi “những người phụ nữ đã đẻ con cho thiên hạ đem đi nướng, hỏi những bà mẹ sau chiến tranh đi hết nghĩa trang này đến nghĩa trang khác tìm nấm mộ đề tên con mình mà không gặp...”.

Chiến tranh vốn là sai lầm của các bên trong quá khứ nhưng bàn về nó trong sự đắc thắng, ngạo nghễ kiểu “thắng làm vua, thua làm giặc” thì lại càng sai lầm hơn. Nói cách khác, chính cách tuyên truyền một chiều của những người thuộc “bên thắng cuộc” đã góp phần làm nên vấn đề mà nói như cựu đại sứ Hoa Kỳ, Lê Văn Bàng là: “Hội chứng Mỹ” trong lòng Việt Nam” hiện nay:

“Chúng ta đã từng giúp rất nhiều để người Mỹ thoát khỏi “hội chứng chiến tranh Việt Nam” trong người Mỹ, nhưng bản thân chúng ta lại chưa thoát được “hội chứng Mỹ”(...) Sự hận thù của không ít người Việt sau chiến tranh còn nặng nề lắm”.[1]

Từ đây, trở lại vấn đề, có thể thấy hai lần phát ngôn của bà Ninh đều ít nhiều cho thấy cái “hội chứng Mỹ” vẫn còn ám ảnh tâm trí bà và không dễ gì để rứt nó ra. Lẽ ra, ở chỗ này bà Ninh và những người cùng quan điểm với bà trước hết phải tham khảo ý kiến của đại đa số nhân dân Việt Nam (hoặc ít nhất là người dân ở Thạnh Phong, Bến Tre năm nào). Nếu chưa hỏi nhưng lại nhân danh họ, lôi họ vào cuộc rồi bám vào đó để phản đối Bob Kerrey làm chủ tịch FUV là đang “qua mặt” và không tôn trọng nhân dân. Nguy hại hơn nữa, quan điểm của bà Ninh đã vô tình đẩy vấn đề đi quá xa; nhất là đã khơi lại vết thương vừa ráo mủ của những người trong cuộc từ cả hai phía. Bằng chứng là, từ những phát ngôn của bà, giờ đây có không ít người bắt đầu lục tung lại quá khứ với mục đích tố cáo tội ác của nhau trong cuộc chiến năm nào.

Việc bà Ninh trăn trở, lo lắng về chuyện các thế hệ con cháu không khéo vì cuộc vui hôm nay mà quên đi quá khứ đau thương của dân tộc hôm qua là điều hoàn toàn chính đáng và đáng trân trọng. Nhưng e là trong khi bày tỏ nỗi trăn trở này bằng việc “chọn” Bob Kerrey và FUV làm “bia” là một sai lầm về phương pháp và thời điểm. Hay ít ra, bà đã thiếu công tâm khi phán xét tội lỗi trong quá khứ của Bob Kerrey đặt trong mối tương quan với những người “đồng chí” láng giềng “4 tốt”, “16 chữ vàng” mà hơn ai hết bà là người không thể không biết về tội ác của họ gây ra cho đồng bào ta năm 1979.

2. Ở một phương diện khác, quan điểm và suy nghĩ của bà Ninh làm tôi nhớ lại chuyện “Sự tích chim Bìm Bịp” trong kho tàng truyện dân gian người Việt. Đại khái, câu chuyện có thể tóm tắt như sau:

Một nhà sư nọ tu hành đã nhiều kiếp nhưng chưa thành chính quả. Vì vậy, ông quyết tìm đến Phật Tổ để hỏi xem mình đã phạm sai lầm chỗ nào để mà khắc phục. Trên đường đi ông gặp một tên cướp, thoạt đầu khi tên cướp định giết ông nhưng khi nghe ông xin tha mạng và giảng giải mọi điều tên cướp đã thức tỉnh.

Tên cướp chẳng những tha mạng cho sư mà còn lấy dao rạch bụng mình moi ra cả bộ lòng với ước nguyện nhờ nhà sư mang đến Phật tổ để bày tỏ sự sám hối tội lỗi trước đây của mình. Nhà sư cầm bộ lòng của tên cướp tiếp tục lên đường nhưng chỉ một hai ngày sau đó sư đã vứt đi vì bộ lòng đã bắt đầu phân hủy và hôi thối. Rồi sư cũng đến trước cửa Phật. Trong khi ông chưa kịp thưa gửi lời nào thì Phật tổ trên chánh điện đã hỏi ông “trên đường đi có ai gửi gì cho ta không?”. Thoáng giật mình nhưng sau đó nhà sư đã phải nói ra sự thật. Khi ấy Phật tổ mới nói rằng “ngươi muốn thành chính quả thì trở lại tìm món quà mà tên cướp đã dâng lên cho ta”.

Mọi người hẳn cũng đã biết ý nghĩa của câu chuyện mang màu sắc triết lý Phật giáo mà tôi vừa kể. Tên cướp dù đã gây nhiều tội ác nhưng thành tâm sám hối nên đã được Phật tổ chứng giám cho thành chính quả. Còn nhà sư sau đó đã chết đi và biến thành con chim Bìm Bịp suốt ngày lùng sục trong các bụi rậm để tìm bộ lòng của tên cướp mà ông đã không đủ kiên nhẫn và quẳng đi trước đó. Chỉ một suy nghĩ sai lầm nên mọi công sức tu hành trong nhiều kiếp trước đó đã tan thành mây khói.

Câu chuyện trên giúp chúng ta hiểu thêm, trong cuộc sống mọi chuyện đều có thể xảy ra. Nhất là sự thành tâm sám hối của con người về tội lỗi trong quá khứ là điều có thật. Con người ta chỉ càng đẹp thêm hơn nếu biết và dám tin vào những sự thật như vậy. Cho nên, có lẽ nào Bob Kerrey đã trở lại, đã xin lỗi, đã sám hối, đã phục thiện,... nhưng bà Ninh và một số người lại từ chối không cho ông ta cơ hội? Tha thứ cho tội lỗi của kẻ thù là điều rất khó. Tôi hiểu bà Ninh muốn bày tỏ quan điểm này để cảnh giác những kẻ muốn “té nước theo mưa”, miệng nói lời tha thứ nhưng đầu lại chưa sẵn sàng cho điều ấy. Nhưng nếu đã xác định như vậy thì thà là nói “tao không bao giờ tha thứ cho mày” để đối phương biết mà sám hối nhiều hơn chứ không nên chơi trò “mèo vờn chuột”: “có thể tha thứ nhưng đồng thời không tán thành việc Bob Kerrey giữ vị trí lãnh đạo một trường ĐH tại Việt Nam”.

3. Công tâm mà nói, ở phương diện nào đó bà Ninh là người rất đáng khâm phục khi đã dám nói ra hết những suy nghĩ của mình cũng như quyết liệt bảo vệ quan điểm của bản thân với những lập luận rõ ràng, văn hóa tranh luận từ tốn. Tuy vậy, theo tôi, có lẽ do cái “hội chứng Mỹ” còn nặng nề nên bà không thể thuyết phục được phần đông dân chúng Việt hôm nay. Hay ít ra là với cá nhân tôi khi đọc bức thư ngỏ bà“gửi người Việt Nam và các bạn Mỹ” có đoạn như sau:

“Tôi ngạc nhiên về những tình cảm cảm thông sâu sắc dành đặc biệt cho sự khổ tâm của Bob Kerrey với “những lời thốt ra từ gan ruột”, ca ngợi ông “rất can đảm khi quyết định nhận cương vị hiện nay”! Trong khi đó, tôi nhớ đến lời của một người ở Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, nơi đang trưng bày chứng tích về vụ thảm sát ở Thạnh Phong, thương xót cho các nạn nhân chưa hề được người có tội trở về thắp cho họ một nén hương. Người đó không thể tưởng tượng cảnh hàng trăm hàng ngàn sinh viên Việt Nam Đại học Fulbright sẽ gọi ông Bob Kerrey một cách tôn kính là “Thầy” theo phong tục Á Đông và đặc biệt ở Việt Nam. Và tôi lại nghĩ, đến một ngày nào đó, ảnh của ông Bob Kerrey sẽ được treo tại ĐH Fulbright ở vị trí trang trọng nhất dành cho các vị sáng lập của Trường!”

Trước hết, nếu bà đã đến Bảo tàng Chứng tích chiến tranh để tìm hiểu và biết được đầy đủ sự việc về tội lỗi của Bob Kerrey trong quá khứ thì sao còn bận tâm lo lắng chuyện cháu con sẽ quên đi lịch sử cha ông?

Ngoài ra, không hiểu sao bà lại lo lắng về chuyện hàng ngàn sinh viên Việt trong tương lai sẽ gọi Bob Kerrey là “Thầy” và một ngày nào đó “ảnh của ông Bob Kerrey sẽ được treo tại ĐH Fulbright ở vị trí trang trọng nhất dành cho các vị sáng lập của Trường? Thiển nghĩ, nếu điều đó thực sự có xảy đến thì có gì quá đáng hay không đúng? Có sự nhầm lẫn nào không khi bà Ninh mang cả truyền thống văn hóa Việt ra để biện minh cho sự lo lắng rất vô lý của mình? Nhất là đã tùy tiện thu hẹp phạm vi và ý nghĩa của chữ “Thầy” trong tiếng Việt mà bà đã biết: “một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy”? Tôi nghĩ, đôi khi trong nhiều trường hợp, hãy nên biết nói lời cảm ơn kẻ thù vì nhờ họ mà ta mới biết ta anh hùng, cao thượng, bao dung...Hơn nữa, bà Ninh cũng không thể sống mãi để mà ngăn chặn những suy nghĩ, nhận thức của giới trẻ Việt Nam trong vài mươi năm tới. Đây là điều chắc chắn và không thể khác.

4. Người Việt có câu, “đầu xuôi, đuôi lọt”. FUV ra đời hôm nay là kết quả của nỗ lực hàn gắn và làm bạn của cả hai phía Việt - Mỹ sau thời gian dài thù địch. Điều này là không phải bàn cãi. Cho nên, thiển nghĩ không một cá nhân nào được quyền dùng ảnh hưởng (nhất là hưởng chính trị) hay nhân danh bất cứ điều gì để cản trở sự phát triển của FUV trong tương lai. Mọi chuyện có lẽ nên dừng lại tại đây. Bob Kerrey cần được tin tưởng, ủng hộ để ông ấy có cơ hội thay đổi “biểu tượng về quá khứ đen tối” (như Bà Ninh đã dẫn lại ý kiến của ai đó) của mình trên mảnh đất này; bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng không đáng bị nhiều người xông vào công kích và thóa mạ cá nhân. Có như vậy mới chứng minh được sự chân thành từ cả hai phía Việt - Mỹ cũng như quan hệ của những người trong nước với nhau: “từ đây người biết yêu người”. Tóm lại là, động cơ gì cũng được nhưng không nên tiếp tục lẫn lộn, nhầm lẫn bạn – thù, hoặc không thì lại “khôn nhà dại chợ”!

Hơn nữa, hiện nay, chuyện tập đoàn chính trị Tập Cận Bình đã và đang âm mưu xâm chiếm Hoàng, Trường Sa của cha ông mới là vấn đề quan trọng nhất. Chuyện cá chết ở miền Trung gần hai tháng trôi qua nhưng chưa biết nguyên nhân nữa! Ai dám để cho Tạ Bích Loan đưa lên chương trình“60 phút mở” trên VTV và bàn cho ra lẽ thì mới “ngon”!?

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Trần Trung Đạo - 10 lý do nhân dân VN không chào đón Tập Cận Bình




Trần Trung Đạo - 10 lý do nhân dân VN không chào đón Tập Cận Bình










Trần Trung Đạo (Danlambao) - Sau khi cơn hờn giận HD-981 tạm thời dịu xuống, Tập Cận Bình, vào đầu tháng Tư 2015, đã dành cho Nguyễn Phú Trọng một buổi tiếp đón trịnh trọng ngoài sự tưởng tượng của y mặc dù trước đó họ Tập đã từ chối tiếp y. Đáp lại ơn mưa móc, cuối tuần này, đảng CSVN cũng sẽ tiếp đón Tập Cận Bình bằng những lễ nghi vô cùng trịnh trọng dù trên con đường biên giới hài cốt của hàng vạn thanh niên Việt Nam vẫn còn rơi rớt và trong vùng biển Việt Nam máu ngư dân vẫn ngày đêm đổ xuống trong tức tưởi âm thầm.

Rất nhiều lý do tại sao nhân dân Việt Nam không chào đón Tập Cận Bình, tôi chỉ tóm tắt 10 lý do tiêu biểu:


1. Truyền bá tư tưởng CS độc hại sang Việt Nam


Mặc dù máu của hàng vạn đồng bào Việt Nam đổ xuống trong cuộc chiến tranh chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước chân thành và trong sáng, cuộc chiến gọi là “chống Pháp giành độc lập” do CSVN phát động, về mặt chiến lược (lấy nông thôn bao vây thành thị) và chiến thuật (biển người) đều hoàn toàn do Trung Cộng quyết định. CSVN chỉ biết thừa hành. Và để rồi, sau khi chiếm được nửa nước, tư tưởng CS và đường lối độc tài toàn trị dã man của Mao Trạch Đông được áp dụng một cách triệt để tại miền Bắc, cụ thể nhất qua các cuộc Cải cách ruộng đất giết hại hàng trăm ngàn người dân vô tội. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Chiến tranh là phương tiện để đạt đến quyền lực chứ không phải giải phóng dân tộc như bộ máy tuyên truyền của đảng rêu rao.


2. Liên đới chịu trách nhiệm cho cái chết của hơn 3 triệu người Việt Nam


Cùng với đảng CSVN, Trung Cộng phải liên đới chịu trách nhiệm cho cái chết của hơn 3 triệu người Việt Nam trên cả hai miền trong giai đoạn từ 1955 đến 1975 dưới chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước”. Cuộc chiến này thực chất chỉ nhằm bành trướng chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam và mở rộng vùng an toàn biên giới phía Nam của Trung Cộng như chính Mao thừa nhận. Dưới mắt Mao Trạch Đông và các lãnh đạo Trung Cộng sau y, vị trí của Việt Nam không khác gì vị trí của Bắc Triều Tiên và Đài Loan. Ngoài ra, các lãnh đạo CSVN chỉ là những con cờ trong cuộc chạy đua của Trung Cộng để giành ảnh hưởng trong phong trào CS quốc tế với Liên Xô. Ngay cả khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” một thời là mệnh lệnh thiêu thân của hàng triệu thanh niên miền Bắc trước 30-4-1975 cũng phát xuất từ Trung Cộng trong chiến tranh Triều Tiên. Bằng chứng, ngày 7 tháng 7 năm 1954, khi chưa có một người Mỹ nào đến Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”. Câu nói đó lập lại câu của Mao Trạch Đông khi nói về Mỹ.


3. Cướp Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam


Bất chấp luật pháp quốc tế, ngày 19 tháng 1, 1974 Trung Cộng đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Hải quân Việt Nam Cộng Hoà có 75 sĩ quan và binh sĩ hy sinh trong đó Hộ Tống Hạm Nhật Tảo (HQ-10) có 63 người chết bao gồm hạm trưởng Ngụy Văn Thà. Vào ngày 14 tháng 3, 1988, hải quân Trung Cộng đã bắn chìm 3 tàu, giết chết 74 binh sĩ Việt Nam ở phía nam bãi đá Gạc Ma. Quốc Vụ Viện Trung Cộng, ngay sau đó, đã hợp thức hóa hành động cướp đảo này khi phê chuẩn thành lập thành phố Tam Sa bao gồm các đảo vừa chiếm được trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà chúng gọi là Tây Sa và Nam Sa.


4. Ủng hộ Pol Pot tàn sát dân Việt Nam


Chính Mao Trạch Đông, ngày 21 tháng 6, 1975 đã tuyên bố ủng hộ Pol Pot gây hấn với Việt Nam và sau đó viện trợ cho Pol Pot hàng trăm xe tăng, đại pháo và nhiều máy bay chiến đấu để chuẩn bị cho các trận đánh lớn có thể xảy ra. Trong giai đoạn này, Trung Cộng là đồng minh duy nhất của Khmer Đỏ. Pol Pot chủ trương chỉ cần một người Campuchia giết được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phá làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.


5. Giết chết 30 ngàn thanh niên Việt Nam trong chiến tranh biên giới 1979


Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam trong cuộc chiến gọi là Chiến Tranh Biên Giới Việt-Trung. Kết quả, hơn 30 ngàn thanh niên Việt Nam đã bị giết trong hơn ba tuần lễ chiến tranh xâm lược này. Trên đường rút lui, binh lính Trung Cộng được lệnh san bằng các thị xã, thị trấn mà Trung Cộng chiếm được, dùng thuốc nổ phá sập từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ búa đến cầu cống. Cuộc chiến tranh biên giới là để thanh toán nợ máu xương giữa hai đảng CS, không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu từ bao nhiêu thế hệ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết nợ giùm cho đảng CSVN.


6. Phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam


Dù sở hữu một lãnh thổ bao la, các thế hệ lãnh đạo Trung Cộng vẫn hèn hạ tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam. Hàng loạt các trận xoi mòn biên giới đã xảy ra khi chiến tranh Việt Nam còn đang diễn ra trước 1975. Sau chiến tranh biên giới 1979, Trung Cộng tiếp tục các trận chiến xoi mòn như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Riêng trận Lão Sơn ngày 26 tháng Tư, 1984, theo lời kể của viên tư lịnh quân Trung Cộng mà người viết đã dịch từ China Defence vài năm sau đó, đã có 3700 binh sĩ Việt Nam bị giết. Thân xác họ, thay vì được trao trả cho phía Việt Nam hay chôn cất, đã bị đốt cháy bằng xăng dọc chân núi Lão Sơn trong lãnh thổ Việt Nam. Trung Cộng có thể khoác lác tuyên truyền về con số và cách chết của tuổi trẻ Việt Nam, nhưng Lão Sơn rơi vào tay Trung Cộng là sự thật.


7. Ngang nhiên vi phạm các quy định của Công ước Luật biển 1982 và luật pháp quốc tế


Tháng 5, 2009 Trung Cộng trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ mới trong đó có “Đường lưỡi bò 9 đoạn” bao gồm bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển với khoảng 80% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ chừa lại khoảng 20% cho tất cả các nước còn lại. Việt Nam, nếu căn cứ vào “đường lưỡi bò” của Trung Cộng, chỉ có bờ mà không còn biển. Dù lời tuyên bố không được quốc tế chấp nhận, Trung Cộng vẫn ngang nhiên tiến hành việc xây dựng các cơ sở không chỉ về hành chánh, y tế, du lịch mà cả phi đạo quân sự trong vùng biển Việt Nam. Từ đầu năm 2015, Trung Cộng đã tiến hành xây dựng 5 đảo nhân tạo chung quanh quần đảo Trường Sa với mục đích kiểm soát khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên hiện đang có 5 quốc gia tuyên bố chủ quyền trong đó có Việt Nam. Thái độ và hành động bá quyền của Trung Cộng vi phạm các quy định của Công ước Luật biển 1982 cũng như luật pháp quốc tế về hàng hải.


8. Tàn sát ngư dân Việt Nam


Trung Cộng thẳng tay tàn sát một cách dã man tầng lớp ngư dân Việt Nam vô tội trên những chiếc thuyền gỗ thô sơ và không một tấc sắt trong tay. Những tên cướp biển nói tiếng Quan Thoại này trong 40 năm qua đã giết rất nhiều ngư dân vô tội. Trong thời kỳ internet tương đối phổ biến, những tin tức như cái chết thảm thương của 9 ngư dân Thanh Hóa còn được biết đến nhưng 30 năm trước đó thì không ai biết. Không có một kết toán nào tổng kết bao nhiêu ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay của hải quân Trung Cộng. Nỗi bất hạnh của ngư dân Việt Nam đã âm thầm hòa tan vào sự chịu đựng triền miên của dân tộc Việt Nam như máu của họ đã và đang hòa tan vào nước Biển Đông xanh thẳm.


9. Nuôi dưỡng tập đoàn lãnh đạo độc tài CSVN


Lãnh đạo Trung Cộng nuôi dưỡng một tập đoàn lãnh đạo độc tài CSVN đan tâm rước voi giày mả tổ. Lãnh đạo Trung Cộng hơn ai hết biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Làm gì thì làm, nói gì thì nói, lãnh đạo CSTQ cũng hiểu hiện nay chỉ còn năm đảng cầm quyền mang nhãn hiệu búa liềm. Nắm giữ CSVN về mặt lý luận tư tưởng không chỉ để bảo vệ cơ chế mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Về phía CSVN, chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN là một bằng chứng đầu hàng và tuân phục tuyệt đối quan thầy Trung Cộng. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương “hợp tác bình đẳng” nói chi là những nước mang số phận nhược tiểu, sân sau như Việt Nam. Lãnh đạo các nước nhỏ sở dĩ vượt qua được những nhược điểm khách quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Khánh Hòa - ĐCSVN, qua việc quy hoạch thành phố Cam Ranh, không coi nhân dân ra gì


Khánh Hòa - ĐCSVN, qua việc quy hoạch thành phố Cam Ranh, không coi nhân dân ra gì






Khánh Hòa (Danlambao) - Quy hoạch khu đô thị sinh thái, nghĩ dưỡng đậm nét chất Đảng và học tập theo phong cách Nguyễn Bá Thanh đã từng thực hiện ở thành phố Đà Nẵng, UBND tỉnh Khánh Hòa chuẩn bị biến vùng ven biển thành phố Cam Ranh thành một Đà Nẵng thứ hai. Cái khác ở đây không phải là cho nhiều tập đoàn lợi ích của Tàu cộng mà chỉ một tập đoàn thôi: Công ty cổ phần Vinpearl.


Chỉ với chữ ký của dăm người như trình bày dưới đây, được âm thầm dàn dựng từ 2010 đến nay, xem như xóa sổ một vùng ven biển gần 1.500 ha đất nuôi trông thủy sản cũng như nhà ở của gần 63.000 người. Đó là chưa tính mất đi nguồn sống của hàng ngàn lao động kiếm ăn qua ngày từ biển như bắt ốc, nạy hào, đào dời, xúc tép mò tôm... của nông dân các xã vùng cao tuôn xuống vì nông nghiệp mất mùa.


Những chữ ký đó là:


I. Ký Quyết Định:


1. Phó thủ tướng CP (xin viết tắt theo kiểu của thủ tướng trong sổ tang viếng NBT mới đây): Hoàng Trung Hải.


2. Chủ tịch tỉnh Khánh Hòa: Nguyễn Chiến Thắng.


3. Phó chủ tịch Lê Đức Vinh. Đây là người ký tất cả các Quyết Định về phê duyệt cũng như quy hoạch cụ thể.


Nguyễn Chiến Thắng, Lê Đức Vinh, Hoàng Trung Hải

II. Ký Thông Báo:


Như một dàn đồng ca, CT UBND TP Cam Ranh: Đào Viết Hòa ký thông báo thu hồi đất đến các phường liên quan và thế là một dàn UB các phường lên kế hoạch kiểm đếm tài sản của người dân.


Với dăm người ký, nhưng với hàng ngàn hộ dân chỉ được tụ tập hai lần:


Lần 1: Nghe quyết định quy hoạch, Thông Báo thu hồi đất, phát biểu ý kiến cho cán bộ nghe, để rồi:


Lần 2: Nghe thông báo kế hoạch kiểm đếm tài sản chi tiết cũng như kế hoạch cưỡng chế đối với những hộ dân không hợp tác. Cũng như thông lệ, có lấy ý kiến của người dân nhưng chưa tới lần ba nên không biết thế nào.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

Nhật Thiện - Bài thi viết "Cộng sản và Tôi": Không có 'quân đội Nhân dân anh hùng'!


Nhật Thiện - Bài thi viết "Cộng sản và Tôi": Không có 'quân đội Nhân dân anh hùng'!








Nhật Thiện (Danlambao) - Vốn con nhà lính cộng sản, lại được tuyên truyền từ bé về “bộ đội Cụ Hồ” nên tôi từng mơ ước nhập ngũ khi lớn lên. Nhưng sự cố năm lớp 10 khiến tôi bắt đầu thất vọng về thái độ và hành vi của các “bộ đội Cụ Hồ”.

Mê học võ, tôi nghe bạn học - Dương Tuấn Nam - bảo đang tập võ ở địa chỉ số 3 Hùng Vương (Nha Trang), nên một buổi tối rảnh rỗi tôi tìm đến đó. Bỏ qua cánh cổng lớn đang đóng và có người gác, tôi bước qua cổng nhỏ đang mở vào đường luồn (hẻm nhỏ) vì đoán bạn tôi ở đó. Bất ngờ, tôi bị một lính gác nói giọng trọ trẹ chặn lại xét hỏi. Tôi trình bày là tôi nghĩ anh ta chỉ gác cổng lớn kia nên không xin phép anh ta trước. Viên thượng sĩ gác cổng liên mồm văng tục khi tôi giải thích, chẳng hiểu do không tin tôi hay muốn ra oai. Tức giận vì những tiếng “Đ.M” như mưa từ mồm viên thượng sĩ, tôi vặc lại: “Quân đội dạy anh văng tục với dân như thế à?”. Hậu quả của việc dân nhắc nhở “quân đội nhân dân” là tôi bị ăn luôn mấy cú đấm đúng kiểu nhà võ, và lần đầu tôi biết thế nào là “nảy đom đóm mắt” hay “tóe sao” khi dính quả đấm móc làm sứt mấy mảnh răng hàm lạo xạo trong miệng. Quá kinh sợ, quá đau, thằng học sinh lớp 10 mất ngay niềm tin vào sức mạnh của lẽ phải, bỏ chạy. Nhưng chạy đâu cho thoát, khi mà tiếng khẩu súng ngắn lên đạn rốp rốp vang lên sau đầu nó kèm tiếng hô “Mày chạy là tao bắn!”?

Bị áp giải vào trong đường luồn, tôi mới biết đây là lối vào khu nhà trại của đội cảnh vệ canh giữ khu nhà nghỉ trung ương ở 44 Trần Phú cạnh đấy (sau này thấy gọi là “nhà khách T78”). Dù bạn học tôi – đang có mặt ở đó - xác nhận rằng tôi muốn tập võ, nhưng viên trung úy chỉ huy đội bảo vệ vẫn quát tháo khi bắt tôi vết tường trình kèm lý lịch và còn hăm dọa nhốt tôi vào thùng sắt cô-nét gần đó. Sau khi tôi viết lại toàn bộ sự việc và báo cáo nhân thân cha mẹ - 2 vị “chức sắc”, trung úy kia mới hạ bớt giọng: “Dù cậu kia (thượng sĩ) có nóng quá, nhưng anh (chỉ tôi) sai hoàn toàn vì vào mà không xin phép! Đây là nơi rất quan trọng của nhà nước! Đáng lẽ anh bị nhốt qua đêm vào thùng cô-nét kia chờ xác minh thêm, nhưng vì thấy bố mẹ anh cũng là cán bộ cho nên tôi tha! Đi về đi, và đừng có nói gì với ai đấy nhé!”.

Ngồi theo dõi kỹ vụ việc còn có 1 viên đại tá đang nghỉ dưỡng tại 44 Trần Phú (theo lời trao đổi của ông ta với viên trung úy), nhưng hầu như im lặng. Thời bấy giờ, quân hàm đại tá là to lắm, không như bây giờ ba tôi bảo “tướng đông như lợn con”. Tôi tin mình có lẽ phải, ấm ức vì không được xin lỗi mà chỉ được thả như ban ơn, nhưng cảm giác thân cô thế cô trước đám quan lính có súng và cái thùng sắt cô-nét tra tấn người khét tiếng thời ấy khiến tôi lập tức rảo bước ngay về nhà. Tôi không dám kể gì dù cho mẹ gặng hỏi trước thái độ khác thường của tôi khi vào nhà, vì không chắc khu nhà 44 được canh gác kia có gì cần giữ bí mật cho an ninh Tổ quốc hay không mà trung uý kia căn dặn “đừng có nói gì với ai” đầy vẻ nghiêm trọng vậy!

Dù nói thế nào, sự thất vọng và vỡ mộng về “bộ đội Cụ Hồ” đã được các sĩ quan “quân đội nhân dân” từ hạng bét tới cao cấp đem đến cho tôi như thế. Tôi bắt đầu nghĩ sẽ không bao giờ gia nhập hàng ngũ của những người thiếu lý vô tình ấy, trừ khi bị bức buộc. Thật may, tôi có giấy báo nhập học sư phạm cùng lúc biết mình bị trúng tuyển vào “quân đội nhân dân”: Tôi thoát!

Thế đấy! Trong mắt tôi, quân đội Việt Nam cộng sản không thể là vì nhân dân, không thể anh hùng nếu từ quan đến lính không dám thừa nhận sai trái trước một thằng dân nhóc, lại còn phải lấy cả súng và thùng cô-nét ra để dọa cho thằng nhóc phải im miệng.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

CA SĨ ÁI VÂN YÊU CẦU LÃNH ĐẠO HÀ NỘI TRẢ LỜI NHÂN DÂN



CA SĨ ÁI VÂN YÊU CẦU LÃNH ĐẠO HÀ NỘI TRẢ LỜI NHÂN DÂN







VỀ VIỆC TÀN SÁT CÂY XANH HÀ NỘI
Hà Thị Ái Vân



Là một nguời con của Hà nội, tôi yêu cầu các ông lãnh đạo Hà nội trả lời cho nhân dân những câu hỏi sau:


1/ Các ông bảo nhiều cây bị sâu mọt, cong ... Vậy đó là những cây nào, cụ thể cây nằm trước số nhà bao nhiêu, phố nào ? Đã có ai đến định bệnh cho cây và thử chữa sâu, mọt cho cây ấy lần nào chưa ?


2/ Các ông bảo nhiều cây có thể gây nguy hiểm cho các hộ dân cư, vậy đó là những cây nào, số nhà và phố nào, những hộ dân ở đó đã có ai phàn nàn yêu cầu giúp đỡ chưa ? Nếu có, là những ai, ngày, giờ, lần gặp chính quyền địa phương ?
3/ Các ông bảo đó là những cây không phù hợp với cảnh quan Hà nội, thử hỏi trong các ông ai là người đã sinh ra và lớn lên tại Hà nội, các ông đã sống ở Hà nội được đủ " già " bằng những cây vừa bị chặt, và đã được sống với lịch sử hàng trăm năm của Thăng Long - Hà nội chưa để có thể tự cho mình đủ tư cách phát biểu về phẩm chất và thẩm mỹ của những cây cổ thụ đó ?


4/ Tại sao phải có cuộc " tàn sát " cây cấp tốc như vậy, phải chăng vì các ông biết đang làm bậy nên phải làm thật nhanh để khỏi bị phản đối ?


5/ Qua các bức hình, tôi thấy hạ toàn cây to, gỗ rất mịn và chắc, không hề có dấu hiệu của sâu, mọt. Vậy số gỗ tốt ấy đã được cấp tốc chở đi đâu, ai chở, ai là người sử dụng số gỗ ấy, nếu bán thì bán cho ai, giá bao nhiêu, ai là người nhận số tiền bán gỗ đó ? Tất cả cần có câu trả lời rõ ràng, minh bạch.


6/ Các ông bảo việc chặt cây được người dân đồng tình, vậy đã công khai việc trưng cầu ý dân chưa, nếu có thì vào lúc nào, văn bản số bao nhiêu, ai la người ký, và nếu dân đồng ý thì bao nhiêu người, danh sách ký tên, địa chỉ...? Ai là người ký quyết định chặt cây ? Đề nghị công khai tên tuổi, chức vụ và văn bản quyết định .


Sau cùng, nhân danh một người Hà nội, tôi yêu cầu các ông không phải là "tạm dừng ", mà là phải CHẤM DỨT VĨNH VIỄN việc tàn sát cây xanh, cây cổ thụ của Hà nội. Đó là một tội ác, một vết nhơ không bao giờ gột rửa được của lịch sử. Người đời sẽ mãi mãi nguyền rủa các ông.


Các ông sẽ được lưu danh như những "kẻ đốt đền" cho thế hệ mai sau. Con cháu các ông khi ra đường sẽ phải xấu hổ vì có cha ông chúng là những tội đồ của Hà nội, của nhân dân.Và cây, đừng tưởng chúng không có linh hồn khi một ngày nào đó không xa, chúng sẽ hiện về đòi nợ các ông đó !


Hãy trả lời cho dân được biết.
Hãy dừng tay gây tội ác hỡi các ông !


Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Chân Dung Quyền Lực - Liên minh đen tối hút máu Quân đội và Nhân dân: Tổng Giám đốc Cityland Bùi Mạnh Hưng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Đại tá Phùng Quang Hải



Chân Dung Quyền Lực - Liên minh đen tối hút máu Quân đội và Nhân dân: Tổng Giám đốc Cityland Bùi Mạnh Hưng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Đại tá Phùng Quang Hải




Bùi Mạnh Hưng còn gọi là “Hưng Hòa bình”, sinh ngày 20/9/1972, gốc Hòa Bình, dân tộc Mường, là bạn chí thân của Đại tá Phùng Quang Hải. Năm 2003, Hưng đã cùng Phùng Quang Hải "nắm bắt thời cơ" về việc dư thừa đất quốc phòng ở nội đô TP. HCM và lập Công ty TNHH Đầu tư Địa ốc Thành phố - Cityland, bắt đầu kinh doanh bất động sản, trở thành doanh nghiệp sân sau lớn nhất nằm ngoài Bộ Quốc phòng của gia đình ông Phùng Quang Thanh, chuyên hứng các dự án “chuyển đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng”. Mỗi lô đất quốc phòng sau khi chuyển mục đích sử dụng được chuyển nhượng cho Cityland với giá rẻ mạt và không giới hạn thời gian thanh toán.




Bùi Mạnh Hưng, Tổng Giám đốc Cityland



Với thủ đoạn phân lô bán nền bằng cách kêu gọi đầu tư dưới dạng hợp tác xây dựng, Bùi Mạnh Hưng đã tay không bắt giặc hàng nghìn tỷ, một phần vào túi Hưng, phần lớn hơn vào túi Phùng Quang Hải. Năm 2006, sau khi ông Phùng Quang Thanh nắm trọn quyền Bộ Quốc phòng, Cityland càng gom được nhiều dự án đất quốc phòng béo bở hơn. Đến năm 2009, cậu con trai Phùng Quang Hải được Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đặt vào ghế Giám đốc Công ty Xây dựng 319, khi ấy Công ty Cityland trong tối và Tổng công ty 319 ngoài sáng cùng nhau chia chác đất quốc phòng, trong đó, Cityland được đặc quyền các lô đất quốc phòng tại khu vực TP. HCM.




Phòng làm việc của Đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty 319 là một căn phòng cực kỳ ô uế, nơi Hải và Hưng thường xuyên hành lạc với các em; trong hình là cảnh vào một ngày cuối năm 2014…




… sau khi hành lạc tại chỗ, Bùi Mạnh Hưng nằm “nghỉ dưỡng” trên sofa tại căn phòng này (xin miễn đăng các hình ảnh, clip nhạy cảm vì phạm trù đạo đức)



Hãy điểm qua một số dự án “chuyển đổi mục đích đất quốc phòng” của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng qua danh nghĩa Cityland:


1- Dự án biệt thự mặt sông Cityland Riverside (Số 10, Nguyễn Thị Thập, P. Tân Phú, Quận 7)


Năm 2005, ông Phùng Quang Thanh, khi đó là Tổng Tham mưu trưởng tạo điều kiện để Cityland trên danh nghĩa liên danh với công ty ACC (thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân) thực hiện dự án chuyển đổi 9,4 ha đất quốc phòng tại Quận 7, TP.HCM đang là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân sang đất dự án Khu dân cư với tổng số tiền phải trả cho Bộ Quốc phòng xác định là 915 tỷ đồng (khoảng 9,7 triệu đồng/m2) nhưng Bùi Mạnh Hưng không phải chi ra một đồng nào. Mãi đến 7 năm sau (2012), công ty Cityland mới cho triển khai dự án, đặt tên là Cityland Riverside và phân lô bán nền với giá từ 40-60 triệu đồng/m2, sau đó mới trả tiền cho Bộ Quốc phòng. Như vậy, riêng dự án này, Cityland đã kiếm được hơn 1.000 tỷ mà không cần vốn, nói cách khác, 1.000 tỷ trên đã vào túi của liên minh Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng. Rất gọn, rất hợp pháp, chỉ có Bộ Quốc phòng là chịu thiệt.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Chân Dung Quyền Lực - Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải đã dùng Tổng công ty 319 để lũng đoạn kinh tế quân đội, vơ vét tài sản Nhân dân như thế nào?



Chân Dung Quyền Lực - Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải đã dùng Tổng công ty 319 để lũng đoạn kinh tế quân đội, vơ vét tài sản Nhân dân như thế nào?





Nhân dân cả nước đều biết, Bộ Quốc phòng được xem như một quốc gia trong một quốc gia, tất cả thông tin liên quan đều nằm trong vùng cấm, cách ly hoàn toàn khỏi sự quản lý của Nhà nước. Về kinh tế quốc phòng cũng vậy, không một ai biết có bao nhiêu doanh nghiệp quốc phòng? tổ chức thực hiện kinh tế ra sao? Có ích gì cho đất nước hay không? Trong phóng sự này, chúng tôi hé mở một phần rất nhỏ trong muôn nghìn bí ẩn còn dấu kín sau cánh cổng mang tên Đại tướng Phùng Quang Thanh, nơi ông đã lũng đoạn quân đội, biến Tổng công ty 319 thành nơi danh chính ngôn thuận chuyển hóa tài sản của quân đội, của nhân dân thành tài sản riêng của dòng họ Phùng.



1- Vài nét về Tổng Công ty 319 và sự thăng tiến của Phùng Quang Hải




Đại tá Phùng Quang Hải sinh ngày 4/12/1974, được mệnh danh là “Thủ lĩnh trẻ” trong Quân đội (Kỷ yếu 100 gương điển hình tiên tiến toàn quân năm 2013)



Sư đoàn 319 thuộc Quân khu 3 được thành lập ngày 7/3/1979 với nhiệm vụ huấn luyện bộ đội dự bị và tân binh. Ngày 03/4/1989, Bộ Quốc phòng chuyển Sư đoàn 319 thành Công ty Xây dựng 319. Năm 2006, ông Phùng Quang Thanh được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và năm 2007 được trao quân hàm Đại tướng. Dưới thời ông, Công ty Xây dựng 319 có nhiều chuyển biến cùng với sự thăng tiến chóng mặt của cậu con trai Phùng Quang Hải.


  • Đầu năm 2009, Phùng Quang Hải được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty 319;

  • Ngày 04/3/2010, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã ký Quyết định số 606/QĐ-BQP, chuyển Công ty Xây dựng 319 thành Công ty TNHH MTV 319, Phùng Quang Hải được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Thành viên kiêm Tổng Giám đốc;

  • Ngày 15/12/2010, Phùng Quang Hải được Quân khu 3 phong hàm sĩ quan với Chứng minh Sĩ quan số 06031201;

  • Ngày 23/8/2011, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh ký Quyết định số 3037/QĐ-BQP, thành lập Tổng Công ty 319 và bổ nhiệm Phùng Quang Hải làm Chủ tịch Hội đồng Thành viên;

  • Ngày 10/12/2011, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh ký Quyết định số 4799/QĐ-BQP, điều chuyển Tổng công ty 319 về trực thuộc trực tiếp Bộ Quốc phòng. Nửa tháng sau, ngày 26/12/2011, ông Phùng Quang Thanh tiếp tục ban hành Quyết định số 561-QĐ/QUTW điều chuyển Đảng bộ Tổng công ty 319 về trực thuộc Quân uỷ Trung ương. Lúc này, Tổng Công ty 319 với 100% vốn nhà nước, do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý trực tiếp đã nghiễm nhiên trở thành sân sau của gia đình ông Đại tướng Phùng Quang Thanh. Mục đích đưa Tổng Công ty 319 về trực thuộc Bộ quốc phòng còn nhằm mục đích khác là để Chủ tịch HĐTV, Đại tá Phùng Quang Hải đủ tiêu chuẩn lên Tướng vào năm sau.


Hiện nay, Tổng Công ty 319 có tổng quân số trên 2.500 người và duy trì thường xuyên 5.000-7.000 lao động hợp đồng. HĐTV Tổng công ty gồm 5 người do Đại tá Phùng Quang Hải làm Chủ tịch; gồm 19 Phòng, Ban chức năng trực thuộc Tổng công ty; 1 Lữ đoàn Dự bị động viên (Lữ đoàn 379); Các Văn phòng đại diện tại TPHCM, Đồng bằng Sông Cửu Long và 25 công ty con:


  • 7 Công ty TNHH MTV: Công ty TNHH MTV 29; Công ty TNHH MTV 319.1; Công ty TNHH MTV 319.2; Công ty TNHH MTV 319.3; Công ty TNHH MTV 319.5; Công ty TNHH MTV xử lý Bom, Mìn Vật nổ 319; Công ty TNHHMTV 319 miền Trung;

  • 7 Công ty Cổ phần (Tổng Công ty 319 nắm giữ trên 50% vốn điều lệ): Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại 319; Công ty Cổ phần Xây lắp 319; Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế và Xây dựng 319; Công ty Cổ phần Xây dựng thiết kế và Trang trí 319; Công ty Cổ phần Đầu tư khoáng sản - Than Đông Bắc; Công ty Cổ phần đầu tư phát triển Nha Trang;

  • 11 Chi nhánh Xí nghiệp (hạch toán phụ thuộc): Xí nghiệp 9; Xí nghiệp xây lắp 10; Xí nghiệp 11; Xí nghiệp 296; Xí nghiệp xây dựng công trình 319.6; Xí nghiệp 319.7; Xí nghiệp 319.8; Xí nghiệp 319.9; Chi nhánh Miền Nam; Chi nhánh BOT 319 Sông Phan; Chi nhánh Hưng Yên;

  • 2 Công ty liên kết: Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội; Công ty TNHH 2TV BOT Quốc lộ 1A;

  • Và theo đề án “Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2014-2016” của Ban Chỉ đạo Đổi mới & Phát triển Doanh nghiệp Quân đội, sắp tới, Tổng công ty Thành An (Binh đoàn 11) sẽ được sát nhập vào Tổng Công ty 319.