Hiển thị các bài đăng có nhãn ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Trần Trung Đạo - 10 lý do nhân dân VN không chào đón Tập Cận Bình




Trần Trung Đạo - 10 lý do nhân dân VN không chào đón Tập Cận Bình










Trần Trung Đạo (Danlambao) - Sau khi cơn hờn giận HD-981 tạm thời dịu xuống, Tập Cận Bình, vào đầu tháng Tư 2015, đã dành cho Nguyễn Phú Trọng một buổi tiếp đón trịnh trọng ngoài sự tưởng tượng của y mặc dù trước đó họ Tập đã từ chối tiếp y. Đáp lại ơn mưa móc, cuối tuần này, đảng CSVN cũng sẽ tiếp đón Tập Cận Bình bằng những lễ nghi vô cùng trịnh trọng dù trên con đường biên giới hài cốt của hàng vạn thanh niên Việt Nam vẫn còn rơi rớt và trong vùng biển Việt Nam máu ngư dân vẫn ngày đêm đổ xuống trong tức tưởi âm thầm.

Rất nhiều lý do tại sao nhân dân Việt Nam không chào đón Tập Cận Bình, tôi chỉ tóm tắt 10 lý do tiêu biểu:


1. Truyền bá tư tưởng CS độc hại sang Việt Nam


Mặc dù máu của hàng vạn đồng bào Việt Nam đổ xuống trong cuộc chiến tranh chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước chân thành và trong sáng, cuộc chiến gọi là “chống Pháp giành độc lập” do CSVN phát động, về mặt chiến lược (lấy nông thôn bao vây thành thị) và chiến thuật (biển người) đều hoàn toàn do Trung Cộng quyết định. CSVN chỉ biết thừa hành. Và để rồi, sau khi chiếm được nửa nước, tư tưởng CS và đường lối độc tài toàn trị dã man của Mao Trạch Đông được áp dụng một cách triệt để tại miền Bắc, cụ thể nhất qua các cuộc Cải cách ruộng đất giết hại hàng trăm ngàn người dân vô tội. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Chiến tranh là phương tiện để đạt đến quyền lực chứ không phải giải phóng dân tộc như bộ máy tuyên truyền của đảng rêu rao.


2. Liên đới chịu trách nhiệm cho cái chết của hơn 3 triệu người Việt Nam


Cùng với đảng CSVN, Trung Cộng phải liên đới chịu trách nhiệm cho cái chết của hơn 3 triệu người Việt Nam trên cả hai miền trong giai đoạn từ 1955 đến 1975 dưới chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước”. Cuộc chiến này thực chất chỉ nhằm bành trướng chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam và mở rộng vùng an toàn biên giới phía Nam của Trung Cộng như chính Mao thừa nhận. Dưới mắt Mao Trạch Đông và các lãnh đạo Trung Cộng sau y, vị trí của Việt Nam không khác gì vị trí của Bắc Triều Tiên và Đài Loan. Ngoài ra, các lãnh đạo CSVN chỉ là những con cờ trong cuộc chạy đua của Trung Cộng để giành ảnh hưởng trong phong trào CS quốc tế với Liên Xô. Ngay cả khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” một thời là mệnh lệnh thiêu thân của hàng triệu thanh niên miền Bắc trước 30-4-1975 cũng phát xuất từ Trung Cộng trong chiến tranh Triều Tiên. Bằng chứng, ngày 7 tháng 7 năm 1954, khi chưa có một người Mỹ nào đến Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”. Câu nói đó lập lại câu của Mao Trạch Đông khi nói về Mỹ.


3. Cướp Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam


Bất chấp luật pháp quốc tế, ngày 19 tháng 1, 1974 Trung Cộng đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Hải quân Việt Nam Cộng Hoà có 75 sĩ quan và binh sĩ hy sinh trong đó Hộ Tống Hạm Nhật Tảo (HQ-10) có 63 người chết bao gồm hạm trưởng Ngụy Văn Thà. Vào ngày 14 tháng 3, 1988, hải quân Trung Cộng đã bắn chìm 3 tàu, giết chết 74 binh sĩ Việt Nam ở phía nam bãi đá Gạc Ma. Quốc Vụ Viện Trung Cộng, ngay sau đó, đã hợp thức hóa hành động cướp đảo này khi phê chuẩn thành lập thành phố Tam Sa bao gồm các đảo vừa chiếm được trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà chúng gọi là Tây Sa và Nam Sa.


4. Ủng hộ Pol Pot tàn sát dân Việt Nam


Chính Mao Trạch Đông, ngày 21 tháng 6, 1975 đã tuyên bố ủng hộ Pol Pot gây hấn với Việt Nam và sau đó viện trợ cho Pol Pot hàng trăm xe tăng, đại pháo và nhiều máy bay chiến đấu để chuẩn bị cho các trận đánh lớn có thể xảy ra. Trong giai đoạn này, Trung Cộng là đồng minh duy nhất của Khmer Đỏ. Pol Pot chủ trương chỉ cần một người Campuchia giết được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phá làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.


5. Giết chết 30 ngàn thanh niên Việt Nam trong chiến tranh biên giới 1979


Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam trong cuộc chiến gọi là Chiến Tranh Biên Giới Việt-Trung. Kết quả, hơn 30 ngàn thanh niên Việt Nam đã bị giết trong hơn ba tuần lễ chiến tranh xâm lược này. Trên đường rút lui, binh lính Trung Cộng được lệnh san bằng các thị xã, thị trấn mà Trung Cộng chiếm được, dùng thuốc nổ phá sập từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ búa đến cầu cống. Cuộc chiến tranh biên giới là để thanh toán nợ máu xương giữa hai đảng CS, không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu từ bao nhiêu thế hệ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết nợ giùm cho đảng CSVN.


6. Phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam


Dù sở hữu một lãnh thổ bao la, các thế hệ lãnh đạo Trung Cộng vẫn hèn hạ tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam. Hàng loạt các trận xoi mòn biên giới đã xảy ra khi chiến tranh Việt Nam còn đang diễn ra trước 1975. Sau chiến tranh biên giới 1979, Trung Cộng tiếp tục các trận chiến xoi mòn như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Riêng trận Lão Sơn ngày 26 tháng Tư, 1984, theo lời kể của viên tư lịnh quân Trung Cộng mà người viết đã dịch từ China Defence vài năm sau đó, đã có 3700 binh sĩ Việt Nam bị giết. Thân xác họ, thay vì được trao trả cho phía Việt Nam hay chôn cất, đã bị đốt cháy bằng xăng dọc chân núi Lão Sơn trong lãnh thổ Việt Nam. Trung Cộng có thể khoác lác tuyên truyền về con số và cách chết của tuổi trẻ Việt Nam, nhưng Lão Sơn rơi vào tay Trung Cộng là sự thật.


7. Ngang nhiên vi phạm các quy định của Công ước Luật biển 1982 và luật pháp quốc tế


Tháng 5, 2009 Trung Cộng trình lên Liên Hiệp Quốc bản đồ mới trong đó có “Đường lưỡi bò 9 đoạn” bao gồm bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển với khoảng 80% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ chừa lại khoảng 20% cho tất cả các nước còn lại. Việt Nam, nếu căn cứ vào “đường lưỡi bò” của Trung Cộng, chỉ có bờ mà không còn biển. Dù lời tuyên bố không được quốc tế chấp nhận, Trung Cộng vẫn ngang nhiên tiến hành việc xây dựng các cơ sở không chỉ về hành chánh, y tế, du lịch mà cả phi đạo quân sự trong vùng biển Việt Nam. Từ đầu năm 2015, Trung Cộng đã tiến hành xây dựng 5 đảo nhân tạo chung quanh quần đảo Trường Sa với mục đích kiểm soát khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên hiện đang có 5 quốc gia tuyên bố chủ quyền trong đó có Việt Nam. Thái độ và hành động bá quyền của Trung Cộng vi phạm các quy định của Công ước Luật biển 1982 cũng như luật pháp quốc tế về hàng hải.


8. Tàn sát ngư dân Việt Nam


Trung Cộng thẳng tay tàn sát một cách dã man tầng lớp ngư dân Việt Nam vô tội trên những chiếc thuyền gỗ thô sơ và không một tấc sắt trong tay. Những tên cướp biển nói tiếng Quan Thoại này trong 40 năm qua đã giết rất nhiều ngư dân vô tội. Trong thời kỳ internet tương đối phổ biến, những tin tức như cái chết thảm thương của 9 ngư dân Thanh Hóa còn được biết đến nhưng 30 năm trước đó thì không ai biết. Không có một kết toán nào tổng kết bao nhiêu ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay của hải quân Trung Cộng. Nỗi bất hạnh của ngư dân Việt Nam đã âm thầm hòa tan vào sự chịu đựng triền miên của dân tộc Việt Nam như máu của họ đã và đang hòa tan vào nước Biển Đông xanh thẳm.


9. Nuôi dưỡng tập đoàn lãnh đạo độc tài CSVN


Lãnh đạo Trung Cộng nuôi dưỡng một tập đoàn lãnh đạo độc tài CSVN đan tâm rước voi giày mả tổ. Lãnh đạo Trung Cộng hơn ai hết biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Làm gì thì làm, nói gì thì nói, lãnh đạo CSTQ cũng hiểu hiện nay chỉ còn năm đảng cầm quyền mang nhãn hiệu búa liềm. Nắm giữ CSVN về mặt lý luận tư tưởng không chỉ để bảo vệ cơ chế mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Về phía CSVN, chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN là một bằng chứng đầu hàng và tuân phục tuyệt đối quan thầy Trung Cộng. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương “hợp tác bình đẳng” nói chi là những nước mang số phận nhược tiểu, sân sau như Việt Nam. Lãnh đạo các nước nhỏ sở dĩ vượt qua được những nhược điểm khách quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến: Đầu Năm Điểm Danh Vài Anh Quan Sứ





Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến: Đầu Năm Điểm Danh Vài Anh Quan Sứ






Đỗ Xuân Cang. Ảnh: danchimviet.info



Mới đây, Tuổi Trẻ Online có bài viết vô cùng thú vị (Tình Đồng Hương Của Dũng Việt Nam) của phóng viên Đình Dân. Nếu rảnh, xin đọc chơi vài đoạn:


Ở Philippines ngư dân ta đi biển gặp nạn được Dũng giúp đỡ rất nhiều”, ‘Không chỉ những người Việt đi biển gặp nạn ở Philippines biết tới Dũng, mà thậm chí nhiều thân nhân của họ đang sống ở quê cũng lưu trong điện thoại cầm tay cái tên Dũng Việt Nam’... Đó là những thông tin mà tôi nghe được từ nhiều người dân ở đảo Phú Quý. Và tôi đã có cơ hội gặp gỡ ‘Dũng Việt Nam’ nhân chuyến đi Philippines viết về vụ 122 ngư dân bị giam giữ tại đây...”


“Chiều 23-8, trời Palawan vẫn mưa suốt. Sáng mai là ngày diễn ra phiên tòa xét xử 122 ngư dân nên chiều hôm đó những người từ Việt Nam qua ai cũng bận rộn lo giấy tờ, thủ tục chuẩn bị hầu tòa. Anh Dũng cũng cuống cuồng vừa chạy xe vừa điện thoại liên tục để hẹn các luật sư ở Philippines nhằm thiết kế các buổi gặp gỡ với các luật sư từ Việt Nam qua. Vừa gặp luật sư xong, anh Dũng lại cùng anh Thoại - chủ DNTN Long Hải Long - vào nhà tù để mang thuốc tây và một ít tiền bà con ở đảo Phú Quý gửi cho người nhà của họ trong trại giam. Mưa to ướt hết áo, anh Dũng phải mượn áo một thuyền trưởng mặc vào để chạy tiếp. Thay vội chiếc áo vừa mượn, anh lại quay ngoắt chiếc xe ba bánh ra khỏi cổng nhà tù rồi nói vội: ‘Tôi chạy ra tòa xin cái giấy cho anh em xuống tàu lấy gạo và quần áo’.


“Ngày diễn ra phiên điều trần, từ sáng sớm anh Dũng đã ngồi trong chiếc xe ba bánh chờ dưới đường. Anh bảo chờ đi cùng 115 ngư dân từ nhà tù ra tòa án. Nhìn những ánh mắt âu lo qua song sắt của chiếc xe màu vàng bóp chặt khóa, anh Dũng ngậm ngùi: ‘Đồng hương mình cả. Mà toàn là ngư dân chân chất. Vợ con họ ở nhà mà thấy hình ảnh này chắc không cầm lòng được...’.


“Nhiều lần ngồi tâm sự, xen trong câu chuyện của những tháng ngày bị bắt trên đất Philippines, các thuyền trưởng luôn kể về anh Dũng với vẻ hàm ơn. Ông Trần Hút, người lớn tuổi nhất trong bảy thuyền trưởng, kể: “Những ngày đầu bị bắt lên đây, chúng tôi vừa hoảng hốt vì không biết vì sao mình lại bị bắt, vừa lo lắng vì không người thân thích, không biết đường sá, cũng không biết hải quân Philippines nói gì. Chúng tôi cứ như người câm điếc, may mà có Dũng..”


“Một số ngư dân ở Quảng Ngãi và Bình Thuận kể rằng từ năm 2004 đến nay, anh Dũng đã giúp đỡ khoảng 30 nhóm ngư dân Việt Nam bị mắc nạn và trôi dạt vào vùng biển của nước bạn. Anh nói anh giúp các nhóm ngư dân những việc như phiên dịch, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, giúp ngư dân từ việc làm giấy tờ cho đến đi chợ, mua card điện thoại... “


“Anh Dũng nói có một câu chuyện mà anh sẽ chẳng bao giờ quên. Đó là vào đầu tháng 8 vừa rồi. ‘Hôm đó đã 22g đêm. Trời mưa to gió lớn. Tôi đang cho mấy đứa con đi ngủ thì nhận được điện thoại từ Việt Nam. Người đầu dây là anh Sơn - một chủ ghe ở tỉnh Quảng Ngãi: Dũng ơi, làm ơn cứu nạn cứu khổ giùm. 12 ngư dân của tôi đang đánh bắt ở vùng biển nước mình thì bị bão đánh chìm ghe. Họ điện về nói đã trôi dạt mấy ngày nay theo hướng nam về vùng biển Philippines. Họ đang cố đu bám vào thuyền thúng trôi dạt giữa biển. Anh nhờ người ở đó cứu giùm, không để đến sáng mai lạnh quá họ chết hết”.


“Ngay trong đêm, bằng tất cả mọi mối quen biết, anh Dũng xác định lại chính xác tọa độ nơi 12 ngư dân bị nạn rồi lập tức cầu cứu hải quân Philippines...”



Anh Dũng trong cuộc làm việc với luật sư Philippines - Ảnh: Đình Dân



Ủa, cái ông Dũng này là ai mà sao rảnh rỗi và “bao la” dữ vậy cà? Xin hãy nán đọc thêm một đoạn ngắn nữa, về người đàn ông Việt Nam vô cùng nhân ái và tháo vát này:


Một lần khi anh Dũng đang mải miết phiên dịch cho các ngư dân ở tòa án đến nỗi quên đi đón vợ, thế là vợ anh tự thuê xe chở cả bao dép bán dở đến tòa án tỉnh để tìm. Lúc này tôi mới biết người đàn ông thông thạo ba thứ tiếng Việt, Anh, Philippines này là một người bán giày dép trên hè phố...”



Anh Dũng (thứ hai từ trái) làm phiên dịch trong buổi khám sức khỏe cho ngư dân - Ảnh: Đình Dân



Coi: một người dân Việt lam lũ, vợ dại con thơ, đang lưu lạc nơi đất lạ xứ người mà chăm lo cho những đồng hương của mình từ A tới Z (cung cấp toạ độ nơi ngư dân bị bão đánh chìm thuyền cho hải quân Phi, tham vấn với luật sư bản sứ, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, vào tù thăm non tiếp tế cho đồng bào đang bị giam dữ, rồi cùng đi với họ ra toà ...) như vậy thì các Toà Lãnh Sự và Đại Sứ Quán VN ở hải ngoại mở cửa để làm gì – hả Trời?


Câu hỏi tuy hơi bao quát nhưng câu trả lời có thể tìm ngay được trong lá Thư Phản Đối Đại Sứ Quán Việt Nam, đã được chính tác giả (ông Đỗ Xuân Cang) cầm loa đọc trước cửa Lãnh Sự Quán Việt Nam, tại thủ đô Praha –  Tiệp Khắc – hồi cuối năm rồi:


Khi tôi sinh ra tôi sinh ra trên đất Việt Nam, khi tôi bắt đầu nói bằng tiếng Việt Nam, Tổ quốc đất nước cũng như cha mẹ chúng ta đều không có quyền lựa chọn, đó là định mệnh.


Sự gắn bó tôi với Việt Nam cũng là định mệnh, không một thế lực nào, không một quyền năng nào thay đổi được điều đó. Chế độ hiện nay đã từ chối cấp hộ chiếu cho tôi. Họ tưởng rằng thay đổi được định mệnh. Không. Xin hãy đừng lầm tưởng cuốn hộ chiếu thay được giá trị con người. Tôi khẳng định dù có cuốn hộ chiếu hay không, tôi vẫn là người Việt Nam.”


Hôm nay, một lần nữa tôi có mặt tại đây để phản đối cách hành xử bất minh của nhà cầm quyền thông qua LSQVN trong việc từ chối cấp hộ chiếu cho tôi. Không thể nhân danh quyền lực, nhân danh đại diện pháp lý của người VN ở nước ngoài mà hành xử phi pháp, không ai đủ can đảm đứng ra chịu trách nhiệm về quyết định không cấp hộ chiếu. Vậy họ có xứng đáng đại diện cho người VN hay không?”


Tôi phản đối việc sử dụng hộ chiếu như vòng kim cô trói buộc người Việt Nam trong sự sợ hãi tuân phục.Tôi cũng như tất cả mọi người, cũng từng sợ hãi, cũng từng chịu sự bất công.


Và tôi thấy rằng, không thể chấp nhận mãi hiện trạng này. Khi  phải trả 3500 Kc cho cuốn hộ mà giá chính thức của nó chỉ có 750 Kc (50 USD), hay 300 Kc cho giấy “không phạm tội” trong khi giá chính thức là 75Kc (5 USD)…


Tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé trước một guồng máy quan quyền với mật vụ, an ninh. Tôi không có vũ khí và sẽ không trang bị vũ khí, tôi chỉ có tiếng nói và niềm tin cần có công lý cho mọi người. Việc nhân danh quyền lực để ép tôi im lặng, để yêu cầu tôi không viết bài, không tổ chức, không tham gia các cuộc hội thảo nhằm đổi lấy hộ chiếu là việc làm xấu xa, tồi tệ không thể chấp nhận được. Tôi phản đối hành động bất chính này.”


“Việc mua quyền căn bản của con người bằng hộ chiếu là hành động không thể chấp nhận được của một nhà cầm quyền. Việc từ chối trao cho tôi quyết định không gia hạn hộ chiếu là một thú nhận rằng chính quyền đã hành động gian trá. Tôi phản đối hành động gian trá này.”


Tôi phản đối việc giải quyết thủ tục hành chính không bằng văn bản. Đây là một hành động lấp liếm có mục đích, che giấu cách hành xử trái pháp luật, dù là luật Việt Nam hay công pháp quốc tế.


Tôi phản đối việc đẩy công dân Việt Nam vào tình trạng bất hợp pháp với ý đồ khống chế đàn áp tiếng nói tư do, đẩy cá nhân tôi và gia đình vào tình trạng pháp lý bất minh.”


Chúng ta có thể chấp nhận mãi bất công này hay không? Chúng ta có thể tiếp tục trả 4000kc thay cho trả 1330kc mãi không? Tôi không kêu gọi mọi người xuống đường vì tôi. Tôi kêu gọi mọi người hãy vì mình.


Không thể chấp nhận mãi sự chà đạp, không thể chấp nhận mãi sự móc túi trắng trợn, nhân danh tổ quốc. Không thể chấp nhân mãi sự khinh rẻ từ những người đại diện Việt Nam.


Hôm nay nhà cầm quyền chà đạp lên tôi vì tôi lên tiếng, họ cũng đã và đang chà đạp lên bao nhiêu con người  cũng bởi vì họ lên tiếng.


Công lý không thuộc về nhà cầm quyền. Việc sử dụng bạo lực với tiếng nói hòa bình là việc làm trái với đạo lý con người.


Tôi phản đối sự phi nhân bất nghĩa mang danh cầm quyền!


Đỗ Xuân Cang Praha
23.11.2011



Ông Đỗ Xuân Cang trước cửa Lãnh Sự Quán Việt Nam, tại thủ đô Praha, Tiệp Khắc. Nguồn ảnh: ĐCV.



Trong hàng trăm phản hồi nhận được, bên dưới những bài tường thuật liên quan đến ông Đỗ Xuân Cang – đăng tải trên trang Đàn Chim Việt – có hai độc giả viết từ Pháp và Gia Nã Đại:


- Ông Vĩnh Tiến:’ Không riêng gì bên Đông âu , tại Pháp tôi cũng thấy tòa Đại sứ Việt cộng ở Paris cũng thâu tiền mặt mỗi lần xin xỏ giấy tờ gì đó, không bao giờ có giấy biên nhận . Trước mỗi quầy có hàng chử : “Chỉ nhận tiền mặt ”


- Ông Ngọc Đoàn : LSQ hình như ở đâu cũng vậy! Khi xin cấp lại hộ chiếu tại LSQ VN tại Ottawa (Canada) tôi cũng bị đòi 200CAD thay vì 80CAD theo luật quy định. Khi tôi thắc mắc là bạn tôi vừa làm cách đó 1 tuần hết 80 CAD thì nhận được thái độ rất khó chịu của nhân viên LSQ. Đặc biệt là trên trang web của LSQ không ghi cụ thể số tiền là bao nhiêu như lật định! Thật không thể chịu nổi cơ quan công quyền!


Đây mới là câu chuyện (đầu năm) của Đại Sứ Quán Việt Nam từ Phi đến Tiệp. Nếu rảnh, và nếu muốn biết thêm cung cách của các quan sứ (ta) trong mấy năm qua, ở vài quốc gia khác nữa – như Mã Lai, Nam Dương, Hoa Kỳ, ở Anh Quốc, ở Jordan ... – xin mời bạn đọc thêm bài Năm Cánh Hoa Đào, cùng một người viết.