Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Trịnh Anh Tuấn - Sau 7 phiên toà không đủ chứng cứ kết tội... vẫn tử hình



Trịnh Anh Tuấn - Sau 7 phiên toà không đủ chứng cứ kết tội... vẫn tử hình






Mẹ và con của tử tù Lê Văn Mạnh cùng tham gia kêu oan cho người thân của mình. Ảnh: FB Hùng Sinh Nguyễn







HỒ SƠ VỤ ÁN LÊ VĂN MẠNH



1. Tiểu sử

Lê Văn Mạnh, sinh ngày 25/12/1982 tại Thanh Hóa.

Địa chỉ: Thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Gia đình:

Bố: Lê Văn Chính, mẹ: Nguyễn Thị Việt

Vợ: Nguyễn Thị Thanh Bình

Con: Con trai Lê Văn Kiên, sinh năm 2004 và con gái Lê Thịnh Hà, sinh năm 2005.

Bị bắt ngày 20/04/2005 tại nhà, thôn 4, xã Yên Thịnh, Yên Định, Thanh Hóa.

Tội danh bị cáo buộc: “Giết người” , “Hiếp dâm trẻ em”, “Cướp tài sản”.

Ngày 29/07/2005, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì 3 tội danh “Giết người”, “Hiếp dâm trẻ em” và “Cướp tài sản”.

Ngày 27/10/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội hủy bỏ tội danh “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em”, giao tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tiến hành tố tụng lại từ giai đoạn điều tra.

Ngày 13/03/2006, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì 2 tội danh “Giết người” và “Cướp tài sản”.

Ngày 26/07/2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử y án tử hình.

Ngày 23/04/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị 2 bản án trước đó và giao hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án từ giai đoạn điều tra.

Ngày 04/06/2007, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiến hành giám đốc thẩm và hủy bỏ 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm gần nhất.

Ngày 29/07/2008, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa kết án tử hình vì tội “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em”.

Ngày 25/11/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử y án tử hình.

Ngày 16/10/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa gửi thông báo về gia đình biết về việc thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh để gia đình làm đơn nhận tử thi đưa về an táng. Thời hạn cuối cùng nhận đơn là ngày 26/10/2015.

2. Tiến trình vụ án

Ngày 21/03/2005, xảy ra một vụ Giết người và Hiếp dâm tại xã Yên Thịnh, Yên Định, Thanh Hóa. Nạn nhân là Hoàng Thị Loan, sinh ngày 15/08/1991.

Vào lúc 17 giờ ngày 21/03, Hoàng Thị Loan đi ra bờ sông Cầu Chày, thuộc địa phân xã Yên Thịnh đi vệ sinh. Đến tối, gia đình phát hiện Loan mất tích liền tổ chức đi tìm nhưng không phát hiện. Đến 13 giờ ngày 22/03/2005, phát hiện xác Loan tại bờ sông Cầu Chày thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân.

Khám nghiệm tử thi xác định:

- Có vết tụ máu ở vùng mi và mí mắt phải.

- Cổ bị thắt bởi áo của nạn nhân.

- Nách bị xây xát.

- Âm hộ chứa chất dẻo, tổn thương.

-Tầng sinh môn tổn thương, tụ máu.

-Màng trinh bị rách.

-Rách da đầu.

-Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận trong dịch âm đạo của nạn nhân có xác tinh trùng (ít) (BL 147)

Ngày 30/03/2005, Tổ chức giám định pháp y Thanh Hóa kết luận Hoàng Thị Loan chết do thắt cổ, trên nạn nhân có ngạt nước, có bị hiếp dâm ( BL 145-146).

Ngày 20/04/2005, Lê Văn Mạnh bị bắt theo lệnh bắt tạm giam số 01 ngày 14/04/2005 của cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Đồng Nai do hành vi cướp tài sản và bỏ trốn.

Ngày 23/ 04/2005, xuất hiện bức thư của Lê Văn Mạnh từ trong tù gửi cho bố với nội dung nhận tội, công an thu giữ bức thư này làm bằng chứng kết tội.

Từ 2005-2008, Lê Văn Mạnh trải qua tổng cộng 07 phiên tòa bao gồm 03 lần sơ thẩm, 03 lần phúc thẩm và 1 lần giám đốc thẩm. Trong tất cả các phiên tòa có mặt, Mạnh đều phản cung, tố cáo rằng mình bị đánh đập dã man bởi các phạm nhân cùng phòng và điều tra viên. Phiên xử phúc thẩm gần nhất vào ngày 25/11/2008 của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội vẫn kết án tử hình đối với Lê Văn Mạnh.

Ngày 16/10/2015, gia đình Mạnh nhân được thông báo từ Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc chuẩn bị tiến hành thi hành án tử hình.

3. Những sai phạm trong quá trình tố tụng hình sự

3.1. Không xác định ADN mẫu xác tinh trùng trong người nạn nhân

Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận trong dịch âm đạo nạn nhân Hoàng Thị Loan có xác tinh trùng đã chết. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không hề giám định xem mẫu tinh trùng này có chính xác của Lê Văn Mạnh không.

3.2. Lấy lời khai trẻ em không có người giám hộ

Em Lê Thị Lệ, thời điểm đó mới 9 tuổi, em gái Lê Văn Mạnh bị điều tra viên đến lấy lời khai tại trường học. Tuy có sự hiện hiện của cô giáo, nhưng đây không phải là người giám hộ được sự đồng ý của gia đình. Gia đình cũng không hề được thông báo về việc lấy lời khai của em.

3.3. Chứng cứ kết án chỉ dựa vào lời khai nhận của bị cáo:

Tất cả chứng cứ kết án Lê Văn Mạnh đều là lời khai của bị cáo hoặc bức thư bị cáo gửi ra ngoài trong thời gian tạm giam và không có ai làm chứng việc Lê Văn Mạnh viết bức thư trong thời điểm nào, tình trạng ra sao.

Ngoài ra, cơ quan công an còn dựa vào lời khai của các phạm nhân cùng phòng nói rằng “Mạnh thú tội trong thời giam bị giam” để làm bằng chứng kết tội. Việc này không hề có ai ngoài những người bị giam chung nói, nên không hề có giá trị pháp lý.

3.4. Thời gian chết trong các phiên tòa án không trùng với thời gian trong biên bản khám nghiệm hiện trường và giám định pháp y:

Theo bản khám nghiệm hiện trường và trưng cầu pháp y của Cơ quan pháp y Thanh Hóa, thời gian chết của nạn nhân Loan là 17 giờ. Tuy nhiên, trong bản cáo trạng các phiên tòa nêu ra rằng Loan chết lúc 17 giờ 30 phút. Thời gian 30 phút ảnh hưởng quan trọng đến việc ngoại phạm hay không của bị cáo. Đây là hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án rất nghiêm trọng.

3.5. Bị cáo từ chối luật sư chỉ định nhưng tòa vẫn tiến hành xét xử

3.6. Không sử dụng biện pháp khoa học để xác định hung thủ ( mẫu mắt, dấu vân tay và xác định ADN)

Nạn nhân bị chết trong tình trạng bị hành hung, hiếp dâm và thắt cổ bằng chính chiếc áo của mình. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không hề xác định mẫu vân tay, mẫu mắt hay giám định ADN tinh trùng trong người nạn nhân. Đối với những vụ trọng án, đây là những chi tiết hết sức quan trọng để xác định hung thủ. Tuy nhiên, trong bản cáo trạng không hề nhắc đến những chứng cứ khoa học này.

3.7. Có dấu hiệu bức cung, dụ cung

Trong các phiên tòa, Lê Văn Mạnh đều phản cung, cho rằng mình bị đánh đập, tra tấn dã man trong trại giam. Lê Văn Mạnh tố cáo Nguyễn Kế Hiền bắt ép viết thư để nhờ Hiền gửi ra ngoài. Bức thư đó lại trở thành vật chứng để kết tội bị cáo. Ngoài ra, Mạnh còn tố cáo nhiều phạm nhân khác đánh đập, hành hung và dụ cung anh trong tù là Phạm Văn Bình và Trương Công Định. Hai người này lại trở thành nhân chứng khi ra tòa về việc “nghe Mạnh nhân tội trong tù”.

3.8. Không ghi ý kiến luật sư bào chữa trong phiên tòa phúc thẩm

3.9. Cơ quan công an thu giữ một chiếc quần sooc của Mạnh làm bằng chứng phạm tội.

Tuy nhiên, những nhân chứng trong làng xác nhận rằng chiếc quần đó Mạnh mặc khi cùng nhiều người đi tìm xác Loan dọc sông Cầu Chày vào ngày 22/03. Chiếc quần đó bị rách và Mạnh vứt bỏ trước mặt nhiều người. Một thời gian sau, công an nhặt chiếc quần đó trong bụi cây và làm bằng chứng kết tội Hiếp dâm trẻ em của Mạnh.

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Tù chết và bị thương được đền tiền



Tù chết và bị thương được đền tiền




Nhân các vụ tử vong hoặc bị bạo hành trong tù tại Việt Nam tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận, BBC Tiếng Việt giới thiệu ví dụ một số quốc gia có cơ chế bồi thường:









Hoa Kỳ

Trong tháng 5/2015, một người ở Ohio bị tù gần 40 năm vì tội giết người mà ông không hề gây ra đã được toà án Mỹ công nhận trắng án và bồi thường 2 triệu đô la.


Ông Ricky Jackson, 59 tuổi cùng hai người bạn bị xử năm 1975 vì tội giết một doanh nhân.


Theo trang Cleveland.com, không chỉ nhận 2 triệu đô la từ tiểu bang Ohio, ông Jackson còn nhận "khoản tiền lương" không công bố để bù lại 39 năm không đi làm.


Tuy thế, theo trang CBSNews thì không phải tiểu bang nào của Mỹ cũng có luật công nhận bồi thường cho phạm nhân bị xử oan sai ngay lập tức.

Cả nước Mỹ chỉ 29 công nhận quyền đó còn 21 bang còn lại không ghi quyền này trong luật.


Tuy vậy, trong mọi trường hợp, người dân đều có thể thuê luật sư kiện nhà tù hoặc chính quyền tiểu bang để đòi bồi thường.


Ông Marty Tankleff, bị xử năm 1988 và đã ngồi tù 17 năm sau khi bản án bị coi là có yếu tố sai trái.


Ông đã thắng kiện tiểu bang New York nhận 3,4 triệu đô la tiền bồi thường.
Anh Quốc


Năm 2012, chính phủ Anh phải đền cả thẩy 13 triệu bảng Anh cho gần 4000 trường hợp bị thương tật, bị ngã, bị chết trong nhà tù.


Người bị giam quá hạn vì nhà tù không làm kịp giấy tờ thả họ đúng ngày cũng được bồi thường, theo báo Anh, tờ The Mirror hồi 2013.


Tính trung bình cứ mỗi tuần có 70 trường hợp tù nhân nhận chừng 3000 bảng Anh khi bị ngã, bị thương lúc chơi thể thao trong tù.








Trên thực tế, tiền bồi thường cho mỗi vụ là 15.000 bảng nhưng sau khi trừ tiền phí luật sư, tù nhân nhận khoảng 3620 bảng mỗi người.


Với con số trên 3700 vụ việc, nhà nước Anh phải trả 8,5 triệu bảng bồi thường.


Trong 47 trường hợp tù nhân bị chết khi trong trại giam, gia đình họ nhận trung bình 35 nghìn bảng cho một trường hợp.


Các vụ bồi thường xảy ra không chỉ với thường phạm.


Trong tháng 10 năm nay, tướng Serbia, ông Radislav Krstić được bồi thường 50 nghìn bảng Anh vì bị một số tù nhân Hồi giáo tấn công khi đang thi hành án ở nhà tù Wakefield tại Anh.


Những kẻ tấn công đã dùng dao lam cứa cổ ông Krstic nhưng ông không chết.


Họ muốn trả thù cho đồng đạo Hồi giáo vì ông Krstić bị tòa án quốc tế ở The Hague, Hà Lan xử 35 năm tù năm 2001 vì tội diệt chủng với người Hồi giáo ở Nam Tư cũ.


Theo luật Anh, khi bị giam giữ, tù nhân được đảm bảo an toàn thân thể và chạy chữa y tế đúng hạn, đúng tiêu chuẩn.


Nếu bị bạn tù hay cai ngục hành hạ, tấn công, tiền bồi thường còn cao hơn khi họ bị ngã, bị tai nạn.


Trong bảng ghi các vụ bồi thường ở nhà tù Anh Quốc 2004-2008 (đường dẫn tại đây) có thể thấy một trường hợp bị bạn tù tấn công tại Liverpool, khiến nạn nhân được bồi thường 30 nghìn bảng Anh.



Ba Lan




Tòa án công lý châu Âu - hình minh họa




Có khi một quốc gia bị tòa án quốc tế bắt bồi thường cho công dân của họ.
Năm 2013, Cộng hòa Ba Lan bị Tòa án Nhân quyền châu Âu bắt trả 3700 euro cho công dân Henryk Wereda bị xử tù năm 2007.


Lý do là ông Wereda đã bị giam quá hạn đúng ba ngày bởi giấy báo thả ông khi tòa ra lệnh đổi án tù thành 'quản chế' đến chậm ba hôm.


Tính ra mỗi ngày bị tù quá hạn ông được bồi thường 1233 euro.


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Huyền Trang - Các chứng cứ khách quan bị bác bỏ trong phiên tòa xử gia đình cô bé 11 tuổi đi kêu oan



Huyền Trang - Các chứng cứ khách quan bị bác bỏ trong phiên tòa xử gia đình cô bé 11 tuổi đi kêu oan





GNsP (27.09.2015) – Vụ án ‘cưỡng đoạt đất đai’ của gia đình cô bé Ngô Thị Cẩm Hiếu, 11 tuổi, được công luận quan tâm trong thời gian vừa qua, bởi vì vụ án nhỏ nhưng để lại hậu quả lớn, làm tan nát cả một gia đình, bố mẹ tù tội, đứa trẻ 11 tuổi bơ vơ, không nơi nương tựa.


Diễn biến phiên tòa sơ thẩm lần 2


Bản chất sự việc có nhiều uẩn khúc chưa được các cơ quan chức năng có thẩm quyền làm rõ. Tuy nhiên, còn có nhiều điều tất khuất hơn trong phiên tòa sơ thẩm lần 2 diễn ra vào ngày 25.09.2015, khi Tòa không triệu tập các nhân chứng quan trọng gồm: Bé Ngô Thị Cẩm Hiếu, người chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra; ông Tư -người hàng xóm với gia đình, chứng kiến người bị hại là ông Nguyễn Bá Tuyên hành hung ông Huynh-bà Tâm-bé Hiếu; can phạm Đinh Thị Oanh, chứng kiến bà Tâm bị điều tra viên ép cung, dùng nhục hình.

Trong phiên tòa, các Luật sư [Ls] tham gia bào chữa cho gia đình, gồm: Ls Lê Ngọc Luân, Ls Nguyễn Văn Quynh và Ls Nguyễn Khả Thành đề nghị Tòa triệu tập các nhân chứng quan trọng này. Tòa bác bỏ triệu tập hai nhân chứng của vụ án là ông Tư và bà Oanh, mà chỉ chấp thuận cho bé Hiếu làm nhân chứng duy nhất qua sự bảo hộ của các Luật sư.

Trước tòa, Viện kiểm sát [VKS] truy tố ông Ngô Văn Huynh, cha bé Hiếu, và bà Nguyễn Thị Tâm, mẹ bé Hiếu, tội ‘cố ý gây thương tích’ theo khoản 3 Điều 104 BLHS. VKS luôn giữ quan điểm luận tội này trong suốt quá trình xét xử và đề nghị mức án 4 – 4,6 năm tù giam đối với ông Huynh; 3 – 4 năm tù giam đối với bà Tâm.

Tại khoản 3 Điều 104 BLHS quy định: “Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.”

Bà Tâm không đồng tính với nội dung cáo trạng của VKS. Trước tòa, bà khẳng khái tuyên bố: “không đúng người đúng tội, gây oan sai cho gia đình”.


Các luận cứ được tranh tụng trước tòa


Tại tòa, các Ls tham gia bào chữa cho gia đình đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy, cả hai ông bà ‘không cố ý gây thương tích’ cho người bị hại –ông Tuyên, mà ông Huynh-bà Tâm ‘cố ý gây thương tích…trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh’ quy định tại Điều 105 BLHS; hoặc ông Huynh-bà Tâm ‘cố ý gây thương tích…do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng’ quy định tại Điều 106 BLHS. Và, đề nghị tòa chuyển tội danh cho ông Huynh-bà Tâm từ Điều 104 BLHS sang điều 105 hoặc 106 BLHS. Hai điều khoản này có mức án cao nhất là 3 năm tù giam.

Các luận cứ được các Ls bảo vệ pháp lý cho ông Huynh-bà Tâm đưa ra tranh tụng: Thứ nhất: động cơ/mục đích/nguyên nhân ông Huynh hành hung ông Tuyên chưa được các cơ quan chức năng làm rõ. Theo như lời khai của ông Huynh trước tòa thì: “Khi tôi nghe bé Hiếu kêu la như vậy là tôi biết Hiếu đã xảy ra chuyện gì rồi nên tôi cầm cái cây. Khi nhìn thấy vợ tôi bị ông Tuyên cầm sợi dây xích cổ thì tôi bức xức quá, cầm gậy đánh ông Tuyên, đánh nhằm mục đích giải vây cho vợ và con tôi. Tôi không cố ý đánh ông Tuyên, nhưng khi xô xát với nhau thì vô tình đánh vào đầu ông ấy mà thôi”. Ông Huynh khẳng định, đánh ông Tuyên nhằm ‘giải vây cho vợ con’ và ông có nhiều vết thương trên cơ thể do ông Tuyên gây ra, nhưng các vết thương này không được các cơ quan chức năng đưa đi giám định. Ngoài ra, bà Tâm và bé Hiếu cũng khẳng định, họ bị ông Tuyên đánh.

Nhân chứng quan trọng để làm chứng sự thật cho ông Huynh chính là bé Hiếu, con gái ông. Tuy mới hơn 11 tuổi đầu, nhưng bé Hiếu đã dõng dạc và tự tin tường thuật lại mọi sự việc trước tòa theo như những gì bé đã chứng kiến thấy. Bé Hiếu còn khẳng định: “Anh Tư người hàng xóm đã chứng kiến sự việc xảy ra”. “Con cam đoan những gì nói trước tòa là đúng sự thật.

Mong muốn ba mẹ được trở về với gia đình”. Bé Hiếu nói như vậy trước Tòa.

Điểm thứ hai trong quá trình tranh tụng đó là kết quả giám định thương tích của người bị hại –ông Tuyên- có mâu thuẫn. Điểm thứ ba là cơ quan tiến hành tố tụng đã bắt giam bà Tâm trước khi có quyết định khởi tố. Đây là một điều vi phạm pháp luật.

Về phía Ls tham gia bào chữa cho người bị hại – ông Nguyễn Bá Tuyên lại luôn giữ ‘quyền công tố’ qui chụp ông Huynh-bà Tâm vào tội ‘cố ý gây thương tích’ theo khoản 3 Điều 104 BLHS. Trong quá trình xét hỏi, Ls này đưa ra những câu hỏi ‘ép’ ông Huynh- bà Tâm- bé Hiếu phải ‘thừa nhận’ tội theo ý muốn của Ls. Hình thức này khác nào ‘bức cung’?

Sau khi kết thúc phần tranh luận, trong lời nói cuối cùng ông Huynh đưa ra nguyện vọng: “Chỉ mong vợ chồng tôi sớm đoàn tụ với gia đình và chăm sóc bé Hiếu”. Bà Tâm chấp nhận ‘đền bù số tiền đã gây ra thương tích cho ông Tuyên và mong muốn được trở về với bé Hiếu để chăm sóc bé”.

Số phận của gia đình nhỏ bé này sẽ phụ thuộc vào bản án, được tòa tuyên vào lúc 14 giờ ngày mai, 28.09.2015.



150925-Phien so tham (1)
Ông Ngô Văn Huynh và con gái, bé Ngô Thị Cẩm Hiếu



Một vài nhận xét của người tham dự phiên tòa


Trong suốt phiên tòa, thái độ của người bị hại –ông Nguyễn Bá Tuyên- luôn lo lắng, sợ sệt, thiếu tự tin, trả lời ấp a ấp úng, loanh quanh, luẩn quẩn, không dám nhìn thẳng vào Hội đồng xét xử và các Ls bào chữa cho ông Huynh-bà Tâm, thay vào đó là nhìn vào Ls bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông để kiếm tìm câu trả lời thích hợp. Điều này đã được chủ tọa phiên tòa nhắc nhở ông Tuyên nhiều lần rằng: “hãy nhìn thẳng về phía Hội đồng xét xử, đừng nhìn vào Ls bảo vệ cho ông”. Thái độ này của người bị hại –ông Tuyên nói lên điều gì?

Quá phẫn uất vì nỗi oan khiên thấu trời, đứng trước vành móng ngựa bà Tâm quỳ gối, giơ hai tay lên trời và hét lên: “sự oan khuất của tôi không ai để ý đến. Tôi thà chết chứ không nhận tội vì tôi oan mà”. Không ngăn được những tiếng kêu thét oan khuất của bà Tâm, chủ tọa phiên Tòa tuyên bố: “Nếu bị cáo không im lặng, tòa sẽ dựa trên lời khai của bị cáo để kết tội.”
Khi các Ls bào chữa cho ông Huynh-bà Tâm trưng dẫn ra được các bằng chứng khách quan trong vụ án thì phía VKS lắng nghe một cách cẩn thận, gật đầu liên tục, nhưng không hiểu vì lý do gì mà VKS luôn giữ quan điểm truy tố và luận tội ông Huynh-bà Tâm theo Điều 104 BLHS với mức án được đề nghị ở trên.


Tóm tắt vụ án ‘cố ý gây thương tích’


Bản chất của vụ án ‘cố ý gây thương tích’ xảy ra vào ngày 16.02.2013, chỉ là giọt nước tràn ly của cả quá trình oan khuất mà gia đình ông Huynh-bà Tâm gánh chịu kéo dài gần chục năm trước, bắt đầu từ năm 2005.

Vụ việc bắt đầu khi ông Huynh-bà Tâm vay tiền của anh em ông Nguyễn Bá Tuyên, gia đình có nhiều thành viên là cán bộ xã Đường 10, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Do ông Huynh-bà Tâm không trả được nợ, gia đình ông Tuyên –chính là chủ nợ có quyền lực trong tay và là những người thi hành công vụ ở địa phương này- nên đã ‘xiết nợ’ đất đai của gia đình ông bà. Lúc đó, cơ quan chức năng huyện Bù Đăng có văn bản xác định ‘hành vi xiết nợ là trái pháp luật đề nghị công an xem xét xử lý chủ nợ’, còn vụ việc vay-nợ sẽ được Tòa án dân sự giải quyết.

Thế nhưng, công an huyện Bù Đăng chỉ chấp hành có ‘một nửa’ chỉ đạo của cấp trên, nghĩa là đưa vụ việc vay-nợ giữa ông Tuyên và ông Huynh-bà Tâm ra Tòa án dân sự giải quyết, ‘một nửa còn lại’ là ‘xử lý hành vi xiết nợ’ của anh em ông Tuyên được công an đáp trả rằng ‘không có dấu hiệu hình sự’. Sau khi Tòa án dân sự xét xử nhanh chóng, thi hành án khẩn trương, trong khi ông Huynh-bà Tâm đang mải đi khiếu nại các cấp có thẩm quyền thì đất đai của ông Huynh-bà Tâm bị ‘cưỡng chế’ nhanh chóng giao cho các chủ nợ.


Trở thành Dân oan và tù tội


Uất ức vì mất đất, cộng với thiếu hiểu biết về pháp luật, suy nghĩ giản đơn, bà Tâm đến khu vườn điều của gia đình bà -đã bị ‘cưỡng chế’ giao cho ông Tuyên, chủ nợ- để hái điều do chính mồ hôi nước mắt mà ông bà trồng nên. Đúng lúc đó, ông Tuyên xuất hiện và xảy ra ‘đánh nhau’ giữa ông Tuyên và bà Tâm, giữa ông Tuyên và bé Hiếu, giữa ông Huynh và ông Tuyên. Sau đó, cơ quan bảo vệ pháp luật yêu cầu ông Tuyên, người chủ nợ và là người bị hại, đi giám định vết thương với kết quả là 43%. Gia đình ông Huynh-bà Tâm và bé Hiếu cũng bị thương tích nhưng cơ quan bảo vệ pháp luật ‘không yêu cầu họ đi giám định vết thương’, nên Tòa không xem xét và bỏ qua các thương tích của gia đình ông Huynh-bà Tâm và bé Hiếu.

Cơ quan bảo vệ pháp luật chỉ ‘bảo vệ’ ông Tuyên, từ giai đoạn cho rằng bị ông Huynh-bà Tâm đánh gây thương tích. Thế nhưng, họ lại không ‘bảo vệ’ ông Huynh-bà Tâm-bé Hiếu vì giai đoạn ‘mất đất oan’ không thuộc trách nhiệm của Tòa trong vụ án này. Gia đình ông Huynh bị ông Tuyên đánh thì ráng chịu vì không có thương tích, do không được đi giám định, cho dù có giấy chứng thương. Đó chính là ‘kịch bản’ của Tòa án sơ thẩm (lần 1) đã ‘cắt khúc’ thành công một câu chuyện nghe có vẻ ‘hợp tình hợp lý’ để tuyên phạt ông Huynh-bà Tâm mỗi người 5 năm rưỡi tù giam vì tội ‘cố ý gây thương tích’ cho người bị hại là ông Tuyên.

Khi phiên tòa sơ thẩm (lần 1) kết thúc, ông Huynh-bà Tâm tiếp tục kháng cáo lên phúc thẩm. Vào ngày 10.10.2014 vụ án được xét xử phúc thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ điều tra xét xử lại từ sơ thẩm.

Đến hôm nay, sau hơn 1 năm, phiên tòa sơ thẩm (lần 2) diễn ra gần như ‘kịch bản’ cũ. Còn bản án, phải đến 28.09.2015, Tòa mới tuyên. Bà Tâm hiện vẫn bị giam giữ tại trại giam công an huyện Bù Đăng từ hơn 2 năm nay. Sức khỏe bà khá suy yếu trong phiên tòa vừa rồi.

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Ngăn thầy giáo Phạm Minh Hoàng dạy học có đúng luật?



Ngăn thầy giáo Phạm Minh Hoàng dạy học có đúng luật?




VRNs (06.08.2014) – Sài Gòn – Hôm qua, giảng viên Phạm Minh Hoàng đã phải viết thư xin lỗi các học viên lớp Pháp văn miễn phí, vì nhà nước không cho thầy được dạy.



140806003


“Thông báo về việc ngưng dạy lớp Pháp văn.


Thưa các bạn,


Trên nguyên tắc, lớp học Pháp văn sẽ bắt đầu vào ngày hôm nay 5/8/2014. Tuy nhiên, tôi rất tiếc phải thông báo cùng các bạn rằng chúng ta phải dời ngày học sang một lúc khác.


Chắc các bạn cũng biết rằng tôi hiện đang trong tình trạng quản chế, và sáng nay 5/8/2014, nhà cầm quyền đã thông báo rằng các đối tượng quản chế không được phép dạy thêm (Thông tư số: 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012, điều 8, chương 2).


Tôi rất tiếc vì đã không được dạy lớp này như chúng ta đã chuẩn bị từ đầu.


Hạn quản chế của tôi sẽ chấm dứt vào tháng 1/2015. Tôi sẽ liên lạc với các bạn sau thời hạn này và ước mong chúng ta sẽ gặp lại nhau trong những hoàn cảnh tốt đẹp hơn.


Mong các em và các bạn thông cảm cho sự việc ngoài ý muốn này.


Sàigòn, ngày 5/8/2014


Phạm Minh Hoàng”.


Cha Giuse Đinh Hữu Thoại, Trưởng văn phòng Công lý và Hòa bình DCCT Sài Gòn, sau khi đã tham khảo ý kiến luật sư cho biết:


“Theo khoản 2 Điều 2 Quy định về dạy thêm, học thêm (ban hành kèm theo Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT ngày 6/5/2012) mà Thầy Hoàng trích dẫn có quy định rõ nguyên văn: 


“Điều 2. Giải thích từ ngữ:


1. Dạy thêm, học thêm trong quy định này là hoạt động dạy học phụ thêm có thu tiền của người học, có nội dung theo chương trình giáo dục phổ thông nhưng ngoài kế hoạch giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành….”. Khoản 3 Điều 3 Quy định này cũng xác định: “Đối tượng học thêm là học sinh có nhu cầu học thêm, tự nguyện học thêm và được gia đình đồng ý; không được dùng bất cứ hình thức nào để ép buộc gia đình học sinh và học sinh học thêm”.


Như vậy, nếu Thầy không thu tiền, hoặc có thu tiền nhưng Thầy dạy nội dung “không theo chương trình giáo dục” của Bộ, và/hoặc đối tượng không phải học sinh thì không bị điều chỉnh bởi quy định này.

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Lợi dụng luật pháp để chống tự do ngôn luận


Lợi dụng luật pháp để chống tự do ngôn luận


Viết blog đã thế chỗ viết báo để trở thành nghề nguy hiểm nhất ở Việt Nam trong thời đại Internet.



Người dịch: Phạm Đức Khiêm

Quả thực là nguy hiểm. Nhưng nó không phải là một nghề, bởi vì blogger chúng tôi chưa bao giờ được trả tiền cho những gì chúng tôi viết cả”, J., một blogger trẻ tuổi ở Hà Nội, nói. Là quản trị viên của một diễn đàn trực tuyến lớn chuyên về các vấn đề chính trị và xã hội, J. thừa hiểu những rủi ro mà những blogger như anh phải đối mặt hàng ngày: tin tặc, bài viết hăm dọa của các dư luận viên được trả tiền bởi chính phủ, và, tệ hơn cả, là khi công an phát hiện ra họ là các blogger “chống chính quyền”.

Blogger không được trả lương như nhà báo”, J, nói, “nhưng chúng tôi làm những việc như truyền thông chính thống làm, hay chính xác hơn, những gì truyền thông chính thống không làm được, đó là: vạch trần những sự thật mà chính quyền không muốn công chúng biết. Làm việc này, chúng tôi đối mặt với sự sách nhiễu của công an, bị bắt và bị tù”.

J. không nói quá. Theo đánh giá vào tháng 9-2013 của tổ chức International Society for Human Rights (ISHR), ít nhất 263 công dân Việt Nam, bao gồm cả blogger, đã bị tống giam từ năm 2005 bởi các cáo cuộc “xâm phạm an ninh quốc gia” và “vi phạm trật tự quản lý hành chính”.

Trong số những người bị bắt, 68 người bị truy tố theo Điều 88 Bộ luật Hình sự với hành vi “tuyên truyền chống nhà nước” và 40 người bị truy tố theo Điều 258 với cáo buộc “lạm dụng các quyền tự do dân chủ, xâm hại lợi ích nhà nước”.

Đằng sau những con số này là những người dám nói lên tiếng nói của mình. Trên thực tế, blogger chính trị ở Việt Nam đã trở thành những nhân vật quen thuộc trên truyền thông chính thống vì họ đưa tin về việc bắt bớ hoặc xét xử những người mà trước đó chẳng ai biết nhưng bây giờ thì bị xử theo Điều 88 hoặc 258. Những điều luật này tỏ ra là công cụ đe dọa hữu hiệu để chính quyền bịt miệng những tiếng nói bất đồng từ công chúng.


Cái còng”

Các blogger ví von một cách giễu cợt rằng Điều 88 như một chiếc còng, vì số 8 trông giống như thứ công cụ hỗ trợ mà công an sử dụng. Cụ thể, điều luật này quy định những ai làm ra, lưu trữ hoặc phổ biến thông tin, kể cả “tài liệu và/hoặc văn hóa phẩm”, chống nhà nước, sẽ bị kết án từ 3 đến 12 năm tù.

Tuy nhiên, điều luật này không đưa ra định nghĩa rõ ràng về những nội dung có thể bị cho là “chống nhà nước”. Hơn nữa, thẩm quyền giải thích pháp luật ở Việt Nam nằm ở nhiều cơ quan khác nhau, từ lực lượng công an, cơ quan điều tra, đến viện kiểm sát, tòa án, hay thậm chí là các bộ ngành, mặc dù theo pháp luật Việt Nam, chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền đó.

Trước khi có Điều 88, đã từng tồn tại Điều 82 của Bộ luật Hình sự năm 1985 vốn có tính trấn áp như bất kỳ bộ luật hình sự kiểu Xô Viết nào. Điều 82 nhắm đến việc trừng phạt hành vi “tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”, với khung hình phạt nặng nề tương tự, từ 3 đến 12 năm tù. Không có thống kê công khai nào về số người bị giam giữ và cáo buộc theo Điều 82.

Vào năm 1999, Bộ luật Hình sự mới được ban hành đã chuyển đổi Điều 82 thành Điều 88, thay thế từ “chủ nghĩa xã hội” bằng từ “chính quyền”. Giờ đây điều luật này sử dụng ngôn ngữ ít trừu tượng hơn nhưng không có nghĩa là ít mơ hồ và ít chung chung hơn.

Không chỉ giới hạn trong những hoạt động có tính lật đổ một cách rõ ràng, Điều 88 đã và đang được sử dụng để bịt miệng những tiếng nói đòi hỏi chính quyền trong sạch hơn, trách nhiệm hơn – những điều mà nếu chính quyền lưu ý thì thực ra có thể giúp chính quyền mạnh hơn.

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Blogger Điếu Cày còn sống hay đã chết?



Blogger Điếu Cày còn sống hay đã chết?


Thanh Trúc, phóng viên RFA
2012-02-08


Đã mười sáu tháng trôi qua tin tức về blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải không hề được công an tiết lộ dù gia đình vẫn được gởi quà đều đặn.



RFA file
Chị Dương Thị Tân và chồng Điếu Cày Nguyễn Văn Hải chụp năm 2007.



Vợ ông, bà Dương Thị Tân, nói rằng nỗi lo và nghi vấn ông Nguyễn Văn Hải đã chết trong tù đang càng ngày cao.