Hiển thị các bài đăng có nhãn Cờ 6 sao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cờ 6 sao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Người Việt không bị Hán hóa




phaobong
HappyNewYear



Người Việt không bị Hán hóa


Ngô Nhân Dụng








Cả tuần nay người Việt trong và ngoài nước kháo nhau về chuyện 5 sao với 6 sao. Ông Mao Trạch Ðông đặt ra cờ 5 sao có ý nói đảng cộng sản của ông ta (sao lớn) lãnh đạo bốn giai cấp xã hội (4 sao con).



Có người lại nói 5 ngôi sao đó tượng trưng 5 chủng tộc: Hán (sao lớn), và Mãn, Mông, Hồi, Tạng (4 sắc dân nhỏ). Giải thích như thế để suy ra là khi cho trẻ con Việt Nam cầm cờ 6 sao đi đón ông Tập Cận Bình, ông Nguyễn Phú Trọng muốn nói Trung Quốc có 6 chủng tộc; ngôi sao thứ sáu mới thêm vào là giống dân Việt! Ví thử lúc ông Bush hay ông Obama sang Việt Nam mà thấy các học sinh cầm lá cờ Mỹ vẽ 51 ngôi sao thì chắc người mình cũng tha hồ suy diễn đùa cợt như vậy! (Cờ nước Mỹ có 50 ngôi sao, cho 50 tiểu bang).


Nhưng không phải ông Mao (hay ông Tôn Trung Sơn) đã gom bốn sắc dân nhỏ vào với dân Hán. Việc gom góp này có từ đời nhà Thanh. Ai tới các đền đài cung điện ở Bắc Kinh đều thấy những tấm bảng viết bằng 5 thứ chữ, ngôn ngữ của 5 giống dân. Vì các ông vua nhà Thanh gốc người Mãn Châu; họ cần biện minh tại sao họ lại được ngồi trên đầu người Hán. Biện minh bằng lý luận rằng Thiên hạ là của chung; có 5 giống dân, người giống nào lên làm thiên tử cũng được.


Vì tham vọng của các ông hoàng Mãn Thanh cho nên bây giờ dân Mãn Châu bị mất gốc rễ (những người nói thông thạo tiếng Mãn hiện nay gần xuống lỗ hết; ông vua sau cùng là Phổ Nghi không nói thông thạo tiếng mẹ đẻ!) Người Mãn cũng như người Mông Cổ trước họ, đã đánh Ðông dẹp Bắc, cuối cùng chỉ “làm cỗ sẵn” cho người Hán xơi. Cuối cùng dân Hán đã đồng hóa hết các đám dân “Di, Ðịch!”


Nhưng thành công lớn nhất của người Hán không phải là đã gom các sắc tộc ngoài biên ải vào một nước Trung Hoa. Công trình lớn lao quan trọng hơn nữa là họ đã đem nền văn minh sông Hoàng, sông Hoài từ miền Bắc xuống “giáo hóa” và “đồng hóa” đám dân miền Nam sông Dương Tử (Trường Giang). Dân hai miền vốn gốc gác khác hẳn nhau. Người miền Bắc thuộc giống Mông Cổ, cao lớn, da nhợt nhạt hơn, mũi cao hơn, và ngôn ngữ thuộc họ Hoa-Tạng. Dân miền Nam da ngăm ngăm, ngôn ngữ vốn gốc Nam Á, Thái. Người Quảng Ðông, Phúc Kiến có họ hàng gần với người Việt, người Ðông Nam Á hơn so với người Hoa phương Bắc. Sau vài ngàn năm, các sắc dân phía Nam Trường Giang đã tự coi họ là người Hán, người Trung Hoa. Trừ đám dân Việt Nam bướng bỉnh tới bây giờ vẫn chưa bị đồng hóa - dù người ta biểu diễn cờ 5 sao hay 6 sao cũng mặc!


Nhờ đâu người phương Bắc thành công trong việc Hán hóa những sắc dân ở Hoa Nam? Sức mạnh quân sự không đủ để đồng hóa người khác. Bằng cớ là quân Mông Cổ đã từng chiếm từ Á Châu sang Ðông Âu, đến tận núi Ural; nhưng chính họ lại bị đồng hóa bởi các nền văn minh khác.


Người Hán thuần hóa được miền Hoa Nam nhờ “Sức Mạnh Mềm,” nói kiểu bây giờ, “Soft Power.” Họ tạo ra một tổ chức chính quyền rất hiệu quả trong việc thu thuế và bắt lính. Và họ nắm trong tay một dụng cụ thông tin là chữ viết. Các quan cai trị phải học chữ thông thạo trước khi được bổ nhiệm vào guồng máy thư lại, “bureaucracy.” Guồng máy đó vẫn sử dụng cho đến bây giờ, thí dụ chế độ “”hộ khẩu” đã áp dụng từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Nhờ chính sách của Tần Thủy Hoàng bắt dân bốn phương phải dùng chung một thứ chữ viết, dù nói tiếng khác nhau, nên việc cai trị một đế quốc rộng lớn trở nên dễ dàng hơn. Thứ chữ đó cũng chuyên chở Hán tộc tràn xuống phương Nam lập thành nước Trung Hoa bây giờ.


Chữ viết đã được phát minh ở các vùng Sumer, ở Ai Cập hay Mexico sớm hơn ở Trung Quốc. Nhưng trong các xã hội cổ sơ đó, việc học và sử dụng chữ viết bị giới hạn. Chỉ một số thư ký giữ kho cho ông vua, hay các thầy cúng tế trong đền thờ, là học đọc và viết chữ. Khi không được sử dụng nhiều, việc phát triển, cải thiện và gia tăng số chữ viết để diễn tả nhiều thứ khác nhau cũng chậm chạp. Ở Trung Quốc, các trường tư đã xuất hiện từ thời Xuân Thu, việc học đọc, học viết trở thành phổ cập từ hơn 2000 năm trước. Ít nhất 500 trước Công nguyên, Khổng Tử đã sống bằng nghề dạy học. Trường tư của Quỷ Cốc Tử dạy rất nhiều môn, không khác gì một đại học tổng hợp bây giờ. Nhờ nhiều người dùng nên chữ viết được hoàn thiện và nhiều chữ mới liên tục được đặt ra từ đời này sang đời khác để diễn tả những khái niệm mới nghĩ ra, các hiện tượng mới quan sát.


Có lẽ một phong trào đặt các chữ mới, bày ra cách viết mới đã “bùng nổ” vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, giống như các mạng blog bây giờ! Phong trào đó có thể là một động cơ khiến bộ tham mưu của Tần Thủy Hoàng thấy nhu cầu phải quy định các tiêu chuẩn thống nhất. Ít nhất, tránh trường hợp các “blogger” viết ra những bản văn mà các quan đọc không được! Thống nhất chữ viết giống như đặt ra một bức tường lửa, hay là bắt tất cả các blogs phải dùng chung một “máy server” vậy! Ðám quan lại được đào tạo trong nghề cai trị đã mang thứ khí cụ chữ viết này theo trong các cuộc chinh phục, thứ vũ khí nhẹ và dễ mang trong đầu nhưng lại có sức mạnh vô cùng lớn! Dần dần, ở cõi Giang Nam, những ai đã học đọc, học viết, tay cầm quyển sách, miệng ê a mấy câu chữ Hán, đã trở thành những mẫu người tiến bộ, bảnh nhất trong làng xóm; không khác gì hình ảnh những người ôm một cái iphone hay ipad đang đi trên đường phố ở khắp thế giới bây giờ!


Các giống dân ở phía Nam Trường Giang tự thấy mình “chậm tiến” hơn các quan cai trị, họ chịu thỏa hiệp, họ muốn học hỏi, muốn bắt chước lối sống của lớp người đã tiến bộ, văn minh đó. Những người “hội nhập nhanh” sẽ hãnh diện khi đọc được sách Khổng Mạnh. Học chữ Hán là một phương tiện thăng tiến trong xã hội! Những người biết chữ Hán chắc cũng bắt đầu tập nói tiếng phương Bắc. Cứ như thế, nhiều người bị đồng hóa, tự nhận là “Hán Tử,” hay “Hảo Hán,” thành phần tiến bộ hơn những người đồng chủng. Khi nhiều người cùng thay đổi theo thời thượng, thứ tiếng nói của tổ tiên họ lùi dần lại thành một tiếng thiểu số, một “patois” như người Pháp gọi thổ âm miền Provence đang chết dần.


Ở miền Nam Trung Quốc trong hai ngàn năm Hán hóa, những nông dân không biết đọc biết viết thì vẫn nói thứ ngôn ngữ cũ của cha ông; vì họ không cần tiếp xúc với các quan thứ sử, các tiết độ sứ. Cho nên đến bây giờ ở Hoa Nam vẫn còn những nhóm người nói các thổ âm tiếng Hẹ, tiếng Tiều, tiếng Phúc Kiến, vân vân, nhiều người vẫn từ chối không nói tiếng phổ thông (quan thoại). Nhưng dù vẫn tiếp tục nói tiếng địa phương, họ cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp của chữ viết, khi bắt đầu thay đổi cách nói năng, thay đổi văn phạm theo lối mới. Hiện tượng tiếng nói bị đồng hóa này có thể diễn ra trong hàng ngàn năm chưa dứt.


Dòng sông Hán hóa cuốn hút các sắc dân Phúc Kiến, dân Tiều, dân Hẹ giống như con sông Hoàng Hà “Bôn lưu đáo hải bất phục hồi,” đi luôn không quay ngược lại nữa. Riêng tại Việt Nam thì người Việt vẫn giữ được tiếng nói riêng, dù có học, biết dùng chữ Hán. Tiến trình Hán hóa ngưng lại, không tiến xa hơn được. Không biết hiện tượng này diễn ra từ 2000 năm trước, vào thời Hai Bà Trưng, hay vào thế kỷ thứ năm (Lý Bôn xưng đế), thứ mười (Ngô Quyền lập quốc). Ðó là một hiện tượng khó hiểu, đáng kinh ngạc.


Tại sao giống dân Việt cũng được các thái thú người Hán “khai sáng” với cùng một hệ thống thư lại và thứ chữ viết mang từ phương Bắc xuống, trong hơn một ngàn năm, y như dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Ðông và Vân Nam; mà họ không chịu chung số phận biến thành người Trung Hoa? Người Việt Nam giải thích đó là do sức đề kháng quật cường của dân tộc mình, một điều huyền bí, thiêng liêng nhưng không thể chối cãi được. Ngôn ngữ, tín ngưỡng, có thể đã giúp dân Việt tự đứng lên vững chãi đương đầu.


Nhưng nếu nhìn với con mắt khách quan hơn, có thể thấy còn những yếu tố trong thiên nhiên đóng góp vào khả năng đề kháng suốt một ngàn năm đó.


Khí hậu, thủy thổ có thể là một “đồng minh” của dân tộc Việt Nam trong quá trình đề kháng. Các quan cai trị phương Bắc quen phong thổ miền khô, không khí lạnh lẽo. Ðất Giao Châu nóng và ẩm; cư dân ở đó sống chen chúc mấy ngàn năm đã sinh ra những bệnh thời khí, những vi khuẩn của riêng của một vùng. Thể xác người phương Nam đã phát triển được những kháng thể, di truyền để lại từ hàng ngàn năm. Người phương Bắc không có sẵn trong mình những kháng thể chống lại những vi trùng và vi khuẩn đó. Họ còn bị các ký sinh trùng miền nhiệt đới tấn công. Các loài vi khuẩn tìm được những “mảnh đất mầu mỡ” trong những “khách” từ phương xa lại. Những giống ruồi, muỗi ở phương Nam hỗ trợ sức bành trướng và sinh sôi nẩy nở của các loại vi trùng. Các di dân từ phương Bắc phải lựa chọn; hoặc bị tiêu diệt vì bệnh tật, hoặc phải quay về phương Bắc. Nhiều người phương Bắc sẽ nghĩ rằng nếu học cách ăn uống, cách sinh hoạt theo lối dân địa phương, chịu thờ phượng các thần thánh địa phương; họ hy vọng sẽ chống lại được các căn bệnh do đất, nước, mưa gió, thời tiết, ma quỷ bản địa gây ra, những người ở lại phải tập sống theo lối người địa phương. Cho nên mới có những ông Triệu Ðà, ông Sĩ Nhiếp tập nhiễm cách sinh hoạt của người phương Nam.


Phải nêu lên những điều kiện khách quan về địa dư, phong thủy đó để giải thích tại sao người Giao Chỉ, Cửu Chân không biến thành người Trung Hoa, như các giống dân láng giềng ở mấy tỉnh phía Bắc biên giới. Nhưng nói đến các yếu tố thiên nhiên đó không phải là để hạ thấp giá trị tinh thần quật cường của dân Việt; đó mới là yếu tố quyết định giữ được hồn tính, bản sắc của người Việt Nam. Vì tinh thần quật cường bướng bỉnh đó, chúng ta khỏi cần lo nước mình biến thành ngôi sao thứ sáu trên lá cờ Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao Hà Nội giải thích rằng ngôi sao thứ sáu là do lầm lẫn kỹ thuật khi đi in cờ; một lời giải thích không mấy ai tin.


Câu chuyện 5 sao, 6 sao cũng mua vui được một vài trống canh. Nhưng không ai nghĩ rằng nước Việt Nam lại có thể trở thành một ngôi sao nhỏ trên lá cờ nước khác, dù là cờ 5 sao hay 50 ngôi sao!



Người Việt Online


Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011

(Tình) CỜ cho không biếu không




(Tình) CỜ cho không biếu không


Posted on 29/12/2011






Nguyễn Bá Chổi (danlambao) - Qua “sự cố” cờ Tàu không lao động mà vẫn vinh quang, ngồi mát ăn... sao vàng khoẻ re giữa trời... mùa đông... tàu lạ Hà Nội, vô số người đã lên tiếng phân tích và kết luận chắc như bắp đá dành cho tù cải tạo ăn, rằng đó là hành động biếu tặng với chủ tâm - chứ không phải “do lỗi kỹ thuật”- của nhà cầm cờ nước CHXHCNVN cho “nước anh em”.






Sở dĩ dư luận quần chúng nhân dân tự phát trong nước lẫn ngoài nước giận dữ khua chiêng đánh trống như dân làng ơi ới gọi nhau bắt phường trộm cướp giữa đêm hôm là vì ngộ nhận vào ý nghĩa và giá trị của lá cờ đỏ sao vàng trong bối cảnh hôm nay.


Cờ đỏ sao vàng hôm nay đâu còn là cờ đỏ sao vàng của thời “Tổ Quốc Trên Hết”. Dạo ấy bà con “bên đạo” trong vùng không do “địch tạm chiếm” nếu nơi bàn thờ Chúa có dán câu “Thiên Chúa Trên Hết” là không xong. Cán bộ đến kiểm soát từng nhà: Phải “Tổ Quốc Trên Hết”.


Đó là chuyện ngày xưa. Hôm nay Tổ quốc đã bị biến thành tổ cò. Chỉ có tổ cò mới lò dò xếp hàng sau tổ đảng: “Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Đất Nước.”






Như vậy thì đảng còn nhân đạo lắm mới cho cờ đỏ sao vàng tức cờ tổ quốc của những người Việt theo chủ nghĩa Xấu Hổ Cả Nước được leo đứng ngang hàng với cờ tổ cò (xin lỗi Chổi đã xúc phạm họ hàng nhà Cò lặn lội bờ ao) như sân khấu phường tuồng trong hình dưới đây:






Thử đi tìm xem, tự cổ chí kim có quốc kỳ nước nào lại được diễm phúc xếp cho ngồi cùng mâm với cờ đảng, để được đảng dí ly cụng mời như ra lệnh “mày 50%, tao 50%. Dzô dzô!”.


Tuy thế, nhưng nhìn vào cách trang trí trên bàn thờ ông“bác” vẫn ngứa mắt. Đã búa liềm rồi còn sao siếc lẩn quẩn vào đây làm đồng bào chia trí lo ra. Cái thằng nhóc (sao) này ở đâu mà leo lên đây?


Nó đến từ Phúc Kiến bên Tàu ấy, do ông “bác” ẳm về làm thằng ở đợ. Nay mọi sự đã xong, nó trở thành của nợ. Giờ nó chỉ là cái cớ cho bọn xấu phá rối; nay biểu tình mai biểu tình, gào thét lên, “tổ quốc đang bị giặc xâm lăng..” làm mất hoà bình thành phố. Tổ quốc đâu nữa mà tổ quốc. “Bên kia biên giới là nhà, bên này biên giới cũng là quê hương”, như lời thơ nô tài cha mẹ phú của đại văn hào kiêm nhà đại văn hóa Tố Hữu tự tình khi ngài đứng trên đất Tàu.


Thiên hạ chưa quán triệt tổ quốc với tổ cò, cứ thò mõm vào chuyện đảng ta làm. “Của Caezar trả Caesar”, cờ Phúc Kiến, trả lại cho Tàu. Cờ tổ quốc nếu còn gọi là tổ quốc, bây giờ là xéo vải màu Đỏ máu bên trên có búa liềm vàng khè nằm bắt tréo hai cán sẵn sàng phang, chém.


“Do lỗi kỹ thuật”! Ta bị mạt sát thậm tệ, hoảng quá tìm cớ biện minh cho sự hiện diện thằng cu nhóc sao thứ 5 nhưng chẳng ai nghe lại còm vạch nát bét thêm mày mặt. Thôi thì: ăn gian không được, bỏ. Ta đành thú thực vậy.


Ta không chỉ biếu sao nhưng biếu luôn cả cờ. Tình cho không biếu không, cờ cho không biếu không (vì bên kia biên giới là nhà, tiền nó cho không biếu không). Đại hội đảng ta lần sau nếu còn, thằng sao đã về chầu phương Bắc, chỉ còn một mình búa với liềm chểm chệ; mặc sức mà nghênh ngang vẫy vùng giữa biển đỏ.










Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

“GIẢ MÙ SA MƯA”: BỘ NGOẠI 'GIAN' NHẦM CÓ CHỦ TRƯƠNG ???



CSVN nợ nhân dân Việt Nam thêm một lời tạ tội








Lê Nguyên Bình - Vào dịp ông Tập Cận Bình (Phó Chủ tịch Trung Quốc) tới thăm Hà Nội, thêm một lần nữa CSVN tự ý thêm hình một ngôi sao vào lá cờ của Trung Cộng trong dịp nghênh đón. Khi bị chất vấn, Bộ Ngoại Giao CSVN trả lời rằng: "Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đã được thông báo đây là sai sót mang tính kỹ thuật. Cục Lễ tân Nhà nước đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và kỷ luật các cán bộ có liên quan." Như vậy rõ ràng là CSVN chỉ thấy có lỗi với Trung Quốc, chứ hoàn toàn không nhận là có lỗi với Tổ quốc, Nhân Dân. Đây mới là vấn đề cần đặt ra.


Tại sao CSVN lại có thái độ như vậy? Sự kiện này giải thích mối quan hệ "Việt-Mỹ" ra sao?


Từ khi lập quốc, đất nước ta đã trải qua một chuỗi dài chiến tranh triền miên để chống lại sự xâm lăng của các triều đại Trung hoa từ phương Bắc. Tiếp nối trong hai thế kỷ qua, Bắc phương đã thực hiện sự xâm lấn dưới hình thức chiến tranh gián tiếp (qua CSVN trước 1975), rồi trực tiếp qua hành động xâm chiếm Hoàng Sa (năm 1974), cuộc chiến biên giới phía Bắc (năm 1978), Trường Sa (năm 1988), và vô số sự gây hấn, hãm hại ngư dân Việt Nam trên vùng biển Đông Việt Nam trong nhiều năm gần đây.


Nhìn lại lịch sử, Ông Cha ta đã khéo léo trong kế sách dựng nước và giữ nước: biết lúc nào phải có quyết tâm chiến đấu để giữ giang sơn, lúc nào phải bang giao một cách khôn ngoan để giữ hoà khí với nước lớn láng giềng. Nhờ ý thức đó, dù mang thân phận của một nước nhỏ, song giải non sông và dân tộc ta vẫn được trường tồn đến ngày nay.


Trong ba thập niên qua, Việt Nam tất nhiên cần có chính sách đối ngoại mềm dẽo để có thể tồn tại và có được điều kiện tái thiết đất nước trong giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh. Nhưng mềm dẽo khác với nhu nhược và vô liêm sĩ. Thâm tâm tập đoàn lãnh đạo CSVN chắc chắn biết rằng: Lệ thuộc Trung Cộng là hoàn toàn SAI về mặt quốc sách, nhưng vì để có được sự bảo hộ chính trị, họ đã bất cần. Hậu quả của hành động đáng nguyền rũa này sẽ vô cùng nghiêm trọng. Đảng CSVN có thể trấn áp nhân dân nhưng họ sẽ không thể trốn chạy được sự phán xét của lịch sử; và có thể là của chính các thế hệ nhân dân thời đại này - một khi chế độ đã sụp đổ.


Ở một góc độ đối ngoại khác, sự kiện CSVN có thái độ khẳng định chính sách lệ thuộc vào Trung Cộng chắc chắn sẽ là một vấn đề lớn của Hoa Kỳ. Nhà cầm quyền CSVN đang bỉ mặt Hoa Kỳ. Dù nhiệm kỳ tới đảng Dân chủ hay Cộng hoà sẽ cầm quyền, và ai sẽ trở thành Tổng Thống, Hoa Kỳ vẫn cần phải tiếp tục xem xét lại "lộ trình bang giao" với CSVN. Thực tế cho thấy đảng CSVN đã không chọn giải pháp "làm đồng minh với Mỹ" để tạo điều kiện hoá giải vấn đề biển Đông, phát triển dân chủ và kinh tế thị trường. Sự kiện CSVN thêm hình một ngôi sao trên lá cờ Trung Cộng tự nó biểu hiện cho chúng ta thấy được thái độ và chính sách đối ngoại của đảng và nhà cầm quyền CSVN: Họ vẫn chọn Trung Cộng là một đồng minh chặt chẽ và Hoa Kỳ vẫn chỉ là một nước có giao thương tốt.


Chính phủ Hoa Kỳ cần thẳng thắn để nhìn lại chính sách đối với CSVN. Những nhân nhượng đến độ yếu kém (qua vụ Ông Christian Marchant, tùy viên chính trị của Đại sứ quán bị CA hành hung ở Huế vào đầu năm 2011) và sự lừng khừng trong thái độ mạnh mẽ cần có đối với tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng ở Việt Nam trong thời gian qua... rõ ràng đã không tạo được vị trí đáng kiêng nể của Hoa Kỳ đối với nhà cầm quyền CSVN. Nội dung những báo cáo của Toà Đại sứ Hoa Kỳ cho Bộ Ngoại giao nước này bị Wikileaks tung ra cho thấy mối quan hệ rất lỏng lẻo giữa hai chính quyền, chưa kể là những "lấn cấn" nghiêm trọng không thể che dấu được.


Với vị trí một cường quốc có nhiều ưu thế trên thế giới, Hoa Kỳ đã tỏ ta yếu thế hơn so với Trung Quốc trong việc tranh thủ sự tin tưởng và hợp tác mật thiết với CSVN. Điều này cho người ta hoài nghi về tính hữu hiệu của ván bài ngoại giao nặng hình ảnh "củ cà-rốt" nhưng lại thiếu "cây gậy" của chính phủ nước Mỹ đối với CSVN. Đảng CSVN biết rõ nhược điểm của Hoa Kỳ là không dám làm mạnh với họ vì e ngại rằng sự phật ý sẽ khiến chế độ này càng nghiêng thêm về phía Trung Cộng. Các ngân khoản viện trợ đã có về lãnh vực nhân đạo, kỹ thuật, kinh tế và cả quốc phòng chưa đủ sức thuyết phục đảng CSVN rằng Hoa Kỳ là quốc gia đồng minh đáng tin tưởng. Rõ ràng là những thảo luận, ký kết của Hà Nội với chính phủ Hoa Kỳ chỉ nằm trong mục đích vận dụng, nếu không muốn nói là lợi dụng nhu cầu tái lập ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á. Cũng có thể "kinh nghiệm VNCH" là một bài học mà đảng CSVN không thể xem thường.


Người Việt Nam ở trong và ngoài nước, kể cả các tổ chức, đoàn thể đấu tranh sẽ phải tiếp tục chứng kiến nhiều sự kiện nghịch lý đau lòng khác trong thời gian tới, cho đến khi phong trào đối lập trở thành một thực lực chính trị có khả năng đủ mạnh để đạt được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Và đến lúc đó thì "phía quốc tế" nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, mới có thể xem xét lại một lộ trình bang giao có cùng phương hướng với khát vọng dân chủ của nhân dân Việt Nam.


Đảng CSVN đã nợ nhân dân Việt Nam thêm một lời tạ tội nghiêm trọng!






===

Sau lời giải thích của Bộ Ngoại giao








Hà Sĩ Phu (danlambao) - Tôi không giấu được niềm “phấn khởi”. Nghe tin Bộ ngoại giao thông báo việc “nhầm cờ” chỉ do “lỗi kỹ thuật” tôi nhẹ hẳn người vì như trút được bao nỗi thắc mắc lo âu, trước kia và cả sau này.


Đến như Chế Lan Viên trước đây, vị thi sĩ của trí tuệ, mà còn nhầm “bác Hồ ta đó chính là bác Mao” [*] thì giả sử trong tương lai, một người vẽ bản đồ nào đó, sau khi đề tên hai tỉnh Quảng Đông - Quảng Tây bèn quen tay ghi cái hình chữ S là tỉnh Quảng Nam thì cũng là sự nhầm lẫn quá bình thường, bình thường hơn việc “nhầm cờ nhầm sao” ngoại giao đại sự hôm nay nhiều, phải không thưa Bộ Ngoại giao?


Sự “nhầm lẫn do kỹ thuật” thì đâu có tội gì, phê bình nhau mấy câu là đủ. Tội lỗi có chăng là khi người ta không hề nhầm lẫn, mà rất ma quái trong kỹ năng làm “ảo thuật” kia ! Được giải thích thì cái đầu óc đất sét của mình mới vỡ ra, vì thế mà mừng.


Nhưng này, các bác ạ, tôi nói lạc đề một chút: xiếc Việt Nam bây giờ cũng hấp dẫn chả kém gì xiếc Trung quốc, xem mà mê luôn.



--------

[*] Viết xong, đọc lại, tôi giật mình: có thể họ Chế nói rất đúng, “bác Hồ ta chính là bác Mao” thật chứ không lầm đâu, càng ngẫm càng thấy đúng. Nhưng thôi cứ tạm coi là lầm.


===

Nhầm có chủ trương




Biếm họa PHO (danlambao)


===

CỜ SAO TRUNG QUỐC: CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG ĐÃ TỎ RÕ NGAY TỪ BAN ĐẦU



Cờ sao Trung Quốc và cờ sao thế giới, chủ nghĩa bành trướng bá quyền đã tỏ rõ ngay từ ban đầu



Nguyễn Đăng Hưng









Đúng rồi, vụ cờ Trung Quốc sáu sao chỉ là sự cố kỹ thuật của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chính chính quyền Trung Quốc cũng đặt câu hỏi và Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời.


Hôm qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng: “Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đã được thông báo đây là sai sót mang tính kỹ thuật. Cục Lễ tân Nhà nước đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và kỷ luật các cán bộ có liên quan”.


Trong lần đưa tin Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Bắc Kinh ngày 11 tháng 10 năm 2011, Đài Truyền hình quốc gia Việt Nam cũng đã cho phát bản tin trên đó có lá cờ Trung Quốc 6 sao. Sau khi bị dư luận phản đối, bản tin này đã bị âm thầm lấy xuống.


Cựu Đại sứ Nguyễn Ngọc Trường mô tả điều ông gọi "đây là sự dốt về lễ tân, thiếu chuẩn mực, thiếu cẩn thận, có thể gây hậu quả vô cùng xấu".


Chúng ta không lạ gì với những sự cố kỹ thuật tương tự như vậy đến từ Bộ Ngoại giao. Nào những văn bản tiếng Anh do Bộ Ngoại giao tán phát viết sai ngữ pháp, nào vụ thành viên sứ quán Việt Nam tại Nam Phi xuất hiện trong đoạn băng của truyền hình nước này ghi lại cảnh mua bán sừng tê giác ngay trước cửa cơ quan đại diện Việt Nam…


Vì cách điều hành cố hữu, chỉ sử dụng nhân sự chung quanh ao nhà, nhân tài bị lãng phí nên cơ sự mới như vậy. Tôi cũng không biết đến bao giờ Việt Nam mới thực sự đổi mới tư duy, mở những cánh cửa cần thiết đề người dân tham gia việc nước một cách hữu hiệu…


Lần này có lẽ vì liên quan đến “nước lạ” đàn anh nên vụ việc đã được xử lý khá nhanh chóng..


Tuy nhiên, sự cố đã gây xôn xao trong dư luận vì ý nghĩa đặc biệt của lá cờ Trung Quốc.


Được biết, quốc kỳ của Trung Quốc, thiết kế sau ngày Đảng Cộng sản toàn thắng tại Hoa lục năm 1949 bởi một cá nhân người Chiết Giang, đã được bầu chọn sau một cuộc vận động trong phạm vi cả nước. Hình như theo ý nghĩa đầu tiên, cờ có bốn ngôi sao nhỏ vây quanh một ngôi sao lớn là như sau: Bốn sao nhỏ tượng trưng cho 4 tầng lớp nhân dân Trung Quốc: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, đoàn kết chung quanh Đảng Cộng sản Trung Quốc (sao lớn).







Tuy nhiên, ý nghĩa được phổ biết nhiều hơn và bao trùm sau này cho rằng ngôi sao lớn tượng trưng cho dân tộc Hán. Bốn ngôi sao còn lại tượng trưng cho 4 dân tộc anh em: Mãn, Hồi, Mông, Tạng. Chính vì ý nghĩa này mà người Việt Nam cảm thấy bị xúc phạm khi thấy xuất hiện lá cờ Trung Quốc sáu sao, nhất là trong ngày đón tiếp Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc tương lai. Dân tộc thứ sáu là dân tộc Việt chăng? Không bao giờ người Việt chịu số phận “dân tộc anh em” bị chi phối bởi dân tộc Hán như vậy! Lịch sử ngàn năm độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt xác định chân lý vĩnh hằng trên.


Bây giờ thì Bộ ngoại giao Việt Nam đã kiểm điểm sơ sót kỹ thuật, chuyện đâu đã vào đấy.


Nhưng mục đích của bài này ở chỗ khác.


Thật vậy, cờ có sao chiếm một số quan trọng 46 trong số 194 các loại cờ các nước độc lập hiện nay trên thế giới. Ngôi sao thể hiện sự toả sáng những đặc trưng tiêu biểu của dân tộc tương ứng.







Thí dụ sao vàng của cờ Việt Nam tượng trưng cho truyền thống dân tộc Việt Nam thống nhất và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp , nông, công, thương, binh.







Cờ Singapore có 5 ngôi sao có độ lớn như nhau, tượng trưng có tinh thần dân chủ, hoà bình, tiến bộ, công bằng và bình đẳng. Trăng lưỡi liềm tượng trưng cho hướng đi lên của một quốc gia còn non trẻ. Nhà nước Singapore mới được thành lập từ năm 1959.







Cờ có nhiều sao năm cánh nhất là cờ Hoa Kỳ. 50 ngôi sao độ lớn đồng nhất sắp hàng đều đặn theo 9 hàng trên khuôn hình chữ nhật ở góc trái bìa trên tượng trưng cho 50 tiểu bang bắt đầu từ ngày lập quốc 1777 với 13 tiểu bang (ngày đầu sắp đều theo hình tròn) cho tới năm 1960 có thêm sự sáp nhập của tiểu bang thứ 50 là Hawaï. Các tiểu bang lớn nhỏ rất khác nhau, nhưng vì tôn trọng tính thần dân chủ và bình đẳng của hiến pháp, không có sự phân biệt độ lớn giữa các sao.







Cờ có nhiều sao đáng chú ý nữa là cờ của Liên hiệp Châu Âu với 12 ngôi sao năm cánh màu trắng có độ lớn như nhau sắp đều chung quanh một vòng tròn trên nền xanh. Theo truyền thống, con số 12 tương trưng cho sự toàn bích, sự trọn vẹn bình đẳng và thống nhất. Con số này bất biến ngay từ ngày sáng lập, không liên quan gì đến các quốc gia thành viên và ngày nay số thành viên đã lên đến 27 sẽ không dừng ở đây trong những tháng tới.







Cờ có nhiều sao đáng chú ý là cờ Úc có một ngôi sao lớn 7 cánh tượng trưng cho 7 vùng lãnh thổ quốc gia và một chùm sao tượng trưng cho chùm sao Nam Tào gồm 4 sao bảy cánh và một sao năm cánh. Ta thấy độ lớn của các ngôi sao là độ lớn xuất hiện thật sự trên bầu trời, không phản nghịch lại tính công bằng dân chủ và bình đẳng giữa các vùng lãnh thổ.







Một quốc kỳ có nhiều sao nữa đáng bàn là của nước Venezuela. Nguyên cờ này ra đời từ đầu thế kỷ thứ 19 khi nước mới xây dựng nền độc lập năm 1811. Cờ có 7 sao năm cánh bố trì đều đặn theo nửa vòng tròn, tương trưng cho 7 tỉnh lớn của nước: Barcelona, Barinas, Caracas, Cumaná, Margarita, Mérida et Trujillo. Mới đây ngày 7/3/2006 dưới triều đại tổng thống Hugo Chávez có xu hướng cổ vũ cho đường lối cách mạng xã hội vào có tham vọng mở rộng lãnh thổ, đã thêm ngôi sao thứ 8 nhằm vinh danh nhà cách mạng sáng lập Simon Bolivar đã có đề nghị khi còn sống đề cao tỉnh Guyana. Simon Bolivar đã từng có tư tưởng thống nhất Mỹ Châu La Tinh nóí tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên Simon Bolivar là một nhà cách mạng dân chủ và các ngôi sao của cờ quốc gia, tượng trưng cho các tỉnh có độ lớn như nhau bảo đảm tính bình đẳng dân chủ của nhà nuớc Venezuela.







Một nước quan trọng có cờ nhiều sao là nước Brasil. 27 ngôi sao trên nền cờ Brasil tượng trưng cho 26 tiểu bang của xứ này thêm thành phố thủ đô Brasila. Bố trí chùm sao chung quanh sao Nam Tào tôn trọng gần như tuyệt đối hình tượng có thật trên bầu trời. Một ngôi sao biểu hiện một tiểu bang tương ứng. Thí dụ ngôi sao Beta Crucis chính là biểu tượng của tiểu bang Rio. Như vậy độ lớn của các sao chỉ là vị trí xa gần chứ không liên can gì đến tầm quan trọng của tiểu bang.


Tóm lại chỉ có cờ Trung Quốc năm sao mới có một ngôi sao lớn đứng giữa tượng trưng cho dân tộc Hán với độ lớn biểu hiệu rất rõ tầm quan trọng, tính trung tâm của dân tộc này. Việc chọn lựa cờ này nói lên tư duy của các nhà sáng lập ra nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Họ đã không thể thoát ra khỏi tư duy có từ thời Tần Thủy Hoàng và vương triều tiếp theo ngay sau đó là nhà Hán. Ở thế kỷ thứ 20, nay đã sang thứ 21, họ vẩn tiếp tục cho rẳng dân tộc Hán là trung tâm của thiên hạ, Trung Hoa là nuớc trung tâm của thế giới.


Ngày nay nuớc Trung Hoa trỗi dậy phát triển kinh tế thành công, nhanh chóng hiện đại hoá quân đội, đang vuơn lên lấy lại chỗ đứng của mình trên bình diện thế giới. Điều này là chuyện bình thường và những ai yêu chuộng hoà bình cũng đón nhận sự kiện này như một lẽ đương nhiên.







Nhưng khi Trung Quốc tỏ rõ tham vọng của mình, hăm he bành trướng, doạ nạt các nước nhỏ láng giềng, muốn chiếm cứ toàn bộ Biển Đông, muốn giành quyển kiểm soát phân nửa Thái Bình Dương, một phần Ấn Độ Dương, thực hiện chiến lược chuỗi ngọc trai, mưu toan dần dần chiếm đoạt Đông Nam Á, thống trị thế giới, thì tất cả các dân tộc trên thế giới trước hết là Mỹ, đều phải bừng tỉnh, nhận thức rõ nguy cơ…


Nguy cơ này thật ra đã tỏ rõ từ năm 1949, ngày nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa mới thành lập theo chiến luợc của Mao Trạch Đông: quyền lãnh đạo phát xuất từ nòng súng…


Và ý nghĩa của cây cờ Trung Quốc, gần như là nước duy nhất trên thế có cây cờ nhiều sao với ý nghĩa đặc biệt, đã từ lâu thể hiện tư duy bá quyền của chính quyền đại lục.




N. Đ. H.


Liège, ngày Chúa Giáng Sinh 25/12/2011


Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Nguồn: BVN.

Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 09:03
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên Facebook



1 nhận xét:


Ha Le nói...

"... đây là sự dốt về lễ tân, thiếu chuẩn mực, thiếu cẩn thận, có thể gây hậu quả vô cùng xấu" (trích lời cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường).

"Bây giờ thì Bộ ngoại giao Việt Nam đã kiểm điểm sơ sót kỹ thuật, chuyện đâu đã vào đấy" (trích lời GS Nguyễn Đăng Hưng).

Thôi thì đành... cảm thông hết sức, với tinh thần xây dựng hết sức, mà ráng hiểu rằng đây chỉ là "sơ sót kỹ thuật" - dù rất khó tin, và dù rất buồn bực vì Bộ Ngoại giao vẫn không thèm giải thích, xin lỗi dân lấy một tiếng!

Cám ơn GS Nguyễn Đăng Hưng. Tôi cũng là người đang sống ở nước ngoài, tôi cảm thấy những lời góp ý điềm đạm, chân tình, đầy thiện chí, đầy tinh thần đối thoại, cố gắng khách quan tối đa, cố gắng cung cấp những chứng liệu thực tế... như GS đang làm là rất hay, đáng khâm phục, và hiệu quả sẽ rất tốt. Xin được học hỏi GS về điều đó.
10:19 Ngày 26 tháng 12 năm 2011