Hiển thị các bài đăng có nhãn GỐC VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GỐC VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ



Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ         



27.06.2015




Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.
Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh.



Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.

Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.

Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.

Ý chí kiên trì và những nỗ lực không ngừng đã mang về cho anh những thành quả đáng nể. Trong số này phải kể tới hàng trăm bài viết nghiên cứu khoa học cùng hàng chục giải thưởng của Không quân Hoa Kỳ như Huy chương Không quân về Thành tựu dân sự, Giải Kỹ sư Không quân Xuất sắc, Bài nghiên cứu Xuất sắc nhất năm. Anh cũng là thành viên phê bình trong các ủy ban luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ tại các trường đại học Mỹ, cố vấn nghiên cứu cho các cơ quan khoa học danh tiếng của Mỹ như Cơ quan Phòng thủ Tên lửa, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng cao cấp, Hội Kỹ thuật Khoa học Quốc phòng Hoa Kỳ..v..v..

Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay mời các bạn cùng gặp gỡ tấm gương thành công Phạm Đăng Khánh, niềm tự hào của người Việt hải ngoại.


TS. Khánh: Khi tôi đến Mỹ, mọi sự đều bỡ ngỡ về văn hóa, lịch sử, phong tục-tập quán. Khó khăn lớn nhất đối với tôi và cả gia đình là không có đủ khả năng đọc hiểu và nói tiếng Anh. Bản thân tôi phải bắt đầu lại con đường học vấn từ lớp 10. Các khó khăn về kinh tế người tỵ nạn nào cũng phải đương đầu, nhưng mình cũng phải cố gắng. Tôi cùng với em trai mỗi sáng sớm phải đi làm thêm. Sáng sớm, chúng tôi đi dọn dẹp, lau chùi các cửa hàng to trong các khu thương mại lớn. Mình làm 2-3 tiếng/ngày, và đi học cho tới 10 giờ đêm. Lên thạc sĩ, mình được học bổng. Mình biết tiết kiệm nên tiền học bổng cũng đủ trang trải các chi phí như đi lại, xe cộ, bảo hiểm.

Trà Mi: Với những cái giá đã trả để có được vị trí hôm nay, nhìn lại, anh nghiệm ra cho mình điều gì?

TS. Khánh: Tôi nghĩ mình lúc nào cũng nên luôn làm việc chăm chỉ, không được hài lòng với những gì đạt được, và con đường đó lúc nào cũng đòi hỏi những hy sinh. Chẳng hạn như vì công việc, thời gian của tôi dành cho gia đình đã bị ít đi.

Trà Mi: Tư chất ham học, nỗ lực, và sự may mắn chiếm tỷ lệ thế nào trong sự thành công của anh?

TS. Khánh: Tinh thần học hỏi và sự nỗ lực, hai tố chất này cộng lại chiếm 90%. Còn lại là do sự may mắn hay do cơ hội chính mình tự tạo nên. Những người tỵ nạn như tôi khi gặp khó khăn mà không biết cách giải quyết vấn đề và đương đầu với khó khăn một cách tích cực thì rất khó khăn. Làm sao để vượt qua và tìm phương hướng tùy thuộc vào bản thân mỗi người kèm theo các yếu tố tác động xung quanh từ gia đình.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Thế hệ gốc Việt thứ 2 nhìn lại cuộc chiến ngôn từ


Thế hệ gốc Việt thứ 2 nhìn lại cuộc chiến ngôn từ




Nguyên tác: Thanh Tân (nhật báo Seatle Times)
Chuyển ngữ: Trùng Dương



Lời giới thiệu: Nhiều người trẻ gốc Việt, trong đó có các con tôi, thắc mắc tại sao sau 40 năm mà nhiều người thuộc thế hệ di dân người Việt đầu tiên vẫn không thể chấp nhận chế độ cộng sản hiện cai trị tại Việt Nam, tại sao vẫn từ chối nói chuyện hoà hợp hoà giải với chế độ đó mặc dù những nỗ lực với tới "những khúc ruột ngàn dậm," và cả phá hoại, cộng đồng người Việt hải ngoại trong nhiều thập niên qua bởi tập đoàn lãnh đạo tại Hànội.Nhân kỷ niệm 40 năm ngày 30 tháng 4, 1975, qua những bài viết và phim ảnh tôi đã có dịp đọc, bài bình luận của cô Thanh Tân trên tờ Seattle Times, "40 years after the Vietnam War, move pass name-calling," (40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, hãy vượt lên cái trò 'chụp mũ') (*) đã đặc biệt lôi cuốn sự chú ý của tôi. Bài viết không những từ một người trẻ sinh ra và lớn lên ở trên đất Mỹ với cái nhìn khá sâu sắc và chính xác, mà còn mang một văn phong xúc tích, mạch lạc về một trận chiến ít người nhìn thấy nhưng đã và vẫn còn âm thầm diễn ra, mà chính cha cô, một nhân vật hoạt động tích cực trong cộng đồng, đã trở thành nạn nhân. Những trận chiến bằng ngôn từ này nhằm chụp mũ nhiều người sinh hoạt tích cực cho cộng đồng là thân cộng và cộng sản nằm vùng, đã gây tổn thương và chia rẽ trầm trọng không những cho nạn nhân mà cả cộng đồng người Việt hải ngoại. Những người bị chụp mũ lại thường là những nhân vật đã từng hoạt động tích cực để xây dựng cộng đồng người Việt hải ngoại ngày một tốt đẹp hơn. Nhiều cây bút trong cộng đồng đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng chụp mũ có tính cach phá hoại này, mà hậu quả là ít người còn muốn ra làm việc cho cộng đồng. Thậm chí hễ nói tới cộng đồng có nhiều người ngao ngán, coi đó là chốn "gió tanh mưa máu" không muốn dính vào. Những lỗ trống ấy rồi ai sẽ là người điền vào, nhiều người trong chúng ta đã biết câu trả lời. Trò ném đá dấu tay của cộng sản trước 1975 đã lôi kéo nhiều người Miền Nam nhẹ dạ, trong đó có nhiều văn nghệ sĩ và ký giả, cố ý hay vô tình, đã tiếp tay làm suy yếu Miền Nam.Tôi chọn dịch bài này vì có lẽ không có gì mạnh mẽ hơn là một cảnh báo đến từ một người thuộc thế hệ thứ hai, do một kinh nghiệm đau thương của chính gia đình cô. [TD, 05/2015]


###


Thanh Tân - 40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, hãy vươn lên khỏi trò 'chụp mũ'



Sáu năm trước, tôi ngồi ở ghế nhân chứng tại toà án Quận Thurston và không giữ được sự bình tĩnh. Tôi không còn nhớ câu hỏi của luật sư đã khiến nước mắt tôi trào ra, nhưng tôi nhìn chằm chặp vào người đàn ông đã công khai làm nhục bố tôi, ông Đức Tân, bằng lời cáo buộc sai quấy cho ông là Việt cộng nằm vùng. Tôi đã thốt lên, "Làm sao ông có thể làm điều đó hả?"


Trong lúc tôi làm nhân chứng trong vụ kiện mạ lỵ phỉ báng mà cha tôi là nạn nhân, tim tôi nhức nhối giùm cha tôi sau nhiều thập niên làm việc cộng đồng lại bị bôi vấy và tư cách của ông bị xúc phạm bởi một số người di dân cùng giòng giống. Tim tôi vỡ nát khi thấy Cuộc chiến Việt Nam vẫn chưa chấm dứt, ít ra đối với những người đã phải chịu đựng cơn chấn thương trước khi định cư tại Mỹ.


Ra đời tại Olympia nhiều năm sau khi Sàigòn thất thủ, tôi đã trải qua phần lớn đời mình trốn tránh bóng ma của cuộc chiến này. Là con gái của những người tị nạn, việc trốn tránh này khó mà làm được, đặc biệt khi cha tôi và Cộng đồng Việt tại Quận Thurston nạp đơn kiện những người đã chụp mũ họ và vụ kiện đã kéo dài tới 10 năm.



Duc Tan-Thanh Tan.jpg
Gia đình cô Thanh Tân và vài thân hữu thăm viếng Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam của tiểu bang Washington vào năm 1990. Trong hình: hàng sau, từ trái, Hải Võ, Triều Võ, ca sĩ Bạch Yến, Tau Lương, Đức Tân, Uyên Tân; hàng trước, Anh Tân, Thanh Tân. (Ảnh Thanh Tân)



Tôi đã nghiệm ra rằng làm một người Mỹ gốc Việt tức là chấp nhận cái di sản của sự sinh tồn vượt ngoài tưởng tượng và niềm đau không thể giãi bầy. Chúng ta có mặt tại đây phần lớn vì quốc gia của chúng ta, Nam Việt Nam, thua trận. Chúng ta phải lìa quê hương vì sợ bị bắt bớ tù đầy. Cha tôi là một giáo sư và sĩ quan trong quân đội Miền Nam được Hoa Kỳ hỗ trợ.


Đợt người Việt tị nạn đầu tiên đến Mỹ năm 1975 đã phải bắt đầu xây dựng lại cuộc đời họ từ đống tro tàn. Hơn 15 năm kế đó, các thuyền nhân (trong đó có gia đình tôi) đã thường xuyên trực diện với chết chóc, đói khát, hãm hiếp và cướp bóc bởi hải tặc nơi biển khơi. Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các con cái của quân nhân Mỹ được hồi hương và định cư tại Mỹ. Cũng vậy là các cựu tù nhân chính trị, những người bị cộng sản cầm tù từ ít ra ba năm trở lên trong các cái gọi là trại "học tập cải tạo".


Nhìn lại quãng đời thơ ấu của mình, tôi nhớ tới những đợt di dân khác nhau đã thay đổi bộ mặt cộng đồng mỗi ngày một đông của chúng tôi. Cha tôi thường dẫn ba chị em tôi tới những buổi mít tinh chống cộng và tổ chức những buổi họp tại nhà. Mùi cà phê thơm lừng trong không gian khi các bà vợ chuyện trò trong nhà bếp trong khi các ông túm tụm ngoài phòng khách – lá cờ Việt Nam Cộng Hoà lúc nào cũng được trưng bầy.

Họ không những chỉ gặp nhau xã giao, mà còn chia sẻ các thông tin: Nơi nào họ có thể mua các loại thực phẩm Á đông? Làm thế nào để có thể trợ giúp người thân còn ở Việt Nam? Cuộc thi tuyển nào có thể giúp họ kiếm một việc làm với chính quyền tiểu bang hay làm thế nào để thăng tiến khỏi nghề lau chùi dọn dẹp? Ai đứng ra tổ chức kỳ mít tình tới để tranh đấu cho nhân quyền bị đàn áp ở Việt Nam?


Đối với chị em chúng tôi, lớn lên trong một gia đình tị nạn có nghĩa là quân bình hoá giữa hai nền văn hóa, hai ngôn ngữ, hai mọi thứ khác ở mọi lúc. Nếu chúng tôi không đang cùng đi dự mít tinh với cha mẹ, thì là giúp hiệu đính thư từ gửi đi các nhà dân cử hay thu nhặt các đóng góp thiện chí tại các buổi văn nghệ gây quỹ.


Ý tưởng về một chuyến phiêu lưu của gia đình tôi là dẫn các bạn tị nạn đi thăm Đài Cựu Chiến binh Tham Chiến tại Việt Nam ở khuôn viên toà nhà Quốc hội tiểu bang, một đài tưởng niệm nhiều người Việt đã đóng góp để dựng nên.


Mỗi tối thứ Sáu chúng tôi theo học chữ Việt tại trường Việt ngữ, nơi mỗi trước khi bắt đầu lớp học chúng tôi đứng chào lá cờ mầu vàng với ba gạch đỏ. Những lời mở đầu của bài quốc ca của Nam Việt Nam đã khắc sâu trong trí nhớ tôi:


“Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…"


Cha tôi quá bận rộn với công việc cộng đồng tới độ có lần ông suýt bỏ qua cơ hội thăng chức tại Văn phòng Xã hội và Y tế của tiểu bang. Ông mang mặc cảm của người sống sót, một cảm giác nhiều người Việt lưu vong cùng chia sẻ và họ thấy phải làm cái gì đó cho bạn bè và gia đình còn đang lầm than và bị tù đầy ở quê nhà.


Khi những người tị nạn khác mới tới, những người đi trước thường giúp họ tập lái xe, kiếm việc và giúp điền các giấy tờ này khác.


Là một người đã khôn lớn, tôi bàng hoàng khi thấy cũng chính vài trong những người này đã trở mặt chống lại cha tôi và tổ chức cộng đồng người Việt địa phương. Trong một thông cáo công khai vào năm 2003, một nhóm tự gọi là Ủy ban Chống Cờ Việt Cộng vu cáo cho cha tôi và tổ chức cộng đồng là "tôn sùng cộng sản, làm nhiễm độc đầu óc trẻ em và thường xuyên và một cách có kế hoạch phản bội cộng đồng Việt Nam bằng cách làm lợi cho chính quyền Việt cộng."


Mà có gì đâu, chỉ là vì một cái khăn đeo làm bếp mầu sắc rực rỡ tìm thấy sau gian hàng bán thực phẩm mà cha tôi đảm trách cho một buổi gây quỹ cho cộng đồng tại Hội chợ Capital Lakefair. Những người bài bác ông đã họp báo tuyên bố là cái khăn làm bếp ấy có hình Santa Claus mang một đôi găng tay có biểu tượng Hồ Chí Minh và cờ cộng sản.


Toà Quận Thurston đã tuyên án thắng cho cha tôi và nhóm của ông. Vào ngày 9 tháng 5, 2009, toà Tối cao Tiểu bang Washington đồng ý với bồi thẩm đoàn là Ủy ban Chống Cờ Việt cộng đã mạ lị phỉ báng nhóm của cha tôi với ác ý. Vụ án, đã được tờ The New York Times tường thuật, mới chính thức kết thúc năm ngoái sau khi Tòa Tối cao Liên bang từ chối thụ lý hồ sơ kháng án. Dù vậy, tôi vẫn không hiểu tại sao một vụ vu cáo vô lý đến thế mà đã đi xa được đến như vậy.


Có lẽ ta có thể giải thích là cơn chấn thương vẫn còn đeo đẳng nơi nhiều người tị nạn trung thành với chính thể Việt Nam Cộng Hoà. Những người tị nạn lớn tuổi vẫn còn đau xót trước sự mất mát quê hương và căn cước của họ vào ngày 30 tháng 4, 1975. Trước khi Sàigòn thất thủ, họ đã sống trong nỗi ngờ vực có căn nguyên hẳn hoi về việc các lực lượng cộng sản, được biết tới là Việt cộng, đang thâm nhập Miền Nam để gây rối. Ngày nay, họ lo âu về Nghị quyết 36 của chính quyền Việt Nam, một nghị quyết ra đời vào năm 2004 nhằm tạo ảnh hưởng tới hàng ngũ cộng đồng hải ngoại.


Cuộc chiến đã không kết thúc đối với nhiều người. Thay vì là súng đạn, vũ khí bây giờ là ngôn từ.


Hành động chụp mũ người vô tội là thân cộng vẫn còn đang diễn ra tại các cộng đồng người Việt khắp nơi trên đất Mỹ. Những vụ kiện tụng đã diễn ra tại các tiểu bang Minnesota, Texas và California. Hậu quả là nhiều người chán nản không muốn tham gia việc cộng đồng. Hiện tượng McCarthyism tân thời này cần phải chấm dứt.


Nhưng chấm dứt bằng cách nào? Bằng việc nói lên kinh nghiệm và vinh danh những phấn đấu của mỗi một người tị nạn vậy.

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Hồng Minh - Hành trình tội ác của sát thủ gốc Việt




Hồng Minh - Hành trình tội ác của sát thủ gốc Việt






image



Sinh ra tại Sài Gòn, lớn lên tại Pháp và mang trong mình dòng máu lai Việt - Ấn, Charles Sobhraj thường xuyên đi lại giữa châu Âu và châu Á để thực hiện tội ác "còn hơn cả trong phim".


Charles Sobhraj là cái tên đi vào phim ảnh như một trong những sát nhân nổi tiếng nhất thế giới với một loạt các biệt danh như “sát nhân bikini”, “kẻ đào tẩu”, “người rắn”. Đặc biệt, dù đang thụ án tại nhà giam nhưng y vẫn được nhận hàng triệu USD tiền bản quyền từ các nhà xuất bản hoặc hãng phim lớn khi người ta dựa vào cuộc đời y làm mẫu cho những tác phẩm đình đám.




image
Charles Sobhraj vẫn đạo mạo dù đang phải thụ án chung thân.



Sobhraj sinh ngày 6/4/1944 tại Sài Gòn, lớn lên tại Pháp, là con ngoài hôn thú của một người phụ nữ Việt Nam và một thợ may Ấn Độ. Là kẻ lừa đảo, trộm cắp, buôn ma túy và giết người hàng loạt nhưng cuộc đời phiêu bạt cùng những cuộc đào tẩu chỉ có trong tiểu thuyết giúp cho “sát nhân bikini” thành ngôi sao của giới truyền thông.


Bằng cách “bán” những câu chuyện cuộc đời ly kỳ của mình cho báo chí, nhà làm phim…Sobhraj có thừa tiền để sống cuộc sống vương giả đáng mơ ước ngay trong tù.


Tuổi thơ dữ dội



Ngay từ khi Sobhraj vừa mới cất tiếng khóc chào đời, cha đẻ của cậu dứt áo ra đi, bỏ lại mẹ bơ vơ một mình ôm con khóc mỏi mòn. Tại Sài Gòn, cậu bé con lớn lên trong sự thờ ơ của mẹ và thiếu hơi ấm của cha. Mẹ cậu, bà Song luôn cho rằng chính Sobhraj là nguyên nhân gây rạn nứt tình cảm, khiến cha cậu bỏ rơi bà.


Chẳng lâu sau, bà Song gặp và kết hôn với một sỹ quan người Pháp đồn trú tại Đông Dương. Ông Alphonse Darreau đồng ý trở thành cha dượng của Sobhraj và đưa mẹ con cậu sang Pháp nhưng không cho cậu bé lấy tên mình.


Phần cuối đời của nhà triệu phú gốc Việt




Phần cuối đời của nhà triệu phú gốc Việt




image



Ông Trần Đình Trường, công dân Mỹ gốc Việt, chủ nhân khách sạn Carter, ngay Quảng trường thời Đại (Times Square) nổi tiếng của Nữu Ước. Ông Trường từng nhiều lần được nêu danh là mạnh thường quân trong sinh hoạt cộng đồng người Mỹ gốc Việt, qua những lần có các cuộc biểu tình lớn trước trụ sở Liên Hiệp Quốc quy tụ đông đảo người Việt trên toàn nước Mỹ kéo về; cũng như nhân các cuộc diễn hành văn hóa hàng năm tại thành phố này.




image



Ông Trường qua đời năm 2012 vì bệnh tim, để lại một gia tài hàng trăm triệu Mỹ kim nhưng không có di chúc, dẫn đến vụ kiện tụng tranh chấp tài sải giữa nhiều người đàn bà cùng khai là vợ ông cùng với một đàn con cháu. Hồ sơ vụ kiện này hứa hẹn còn dài, và câu chuyện vừa được nhật báo New York Times tóm lược qua bài phóng sự điều tra của ký giả John Leland, nguyên văn “Mr. Tran’s Messy Life and Legacy” đăng hôm 24/7/2014 vừa qua.


Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

12 ỨNG CỬ VIÊN GỐC VIỆT TẠi ORANGE COUNTY




12 ỨNG CỬ VIÊN GỐC VIỆT TẠi ORANGE COUNTY


Friday, October 05, 2012 3:24:58 PM  



LTS - Ngày 6 Tháng Mười Một tới đây, đồng hương Việt Nam tại Mỹ sẽ đi bầu nhiều chức vụ, từ liên bang đến địa phương, và một số dự luật. Tại Orange County, California, có tổng cộng 12 người Việt Nam ra ứng cử. Nhằm giúp độc giả hiểu phần nào những ứng cử viên này, nhật báo Người Việt thực hiện phần tóm tắt tiểu sử của họ sau đây.



***