Hiển thị các bài đăng có nhãn CUỘC CHIẾN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CUỘC CHIẾN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Nhạc sĩ Tuấn Khanh - 30/4, nói về một cuộc chiến thống nhất khác





Nhạc sĩ Tuấn Khanh - 30/4, nói về một cuộc chiến thống nhất khác






img_0756





Sau khi cá và biển chết, những con người Việt Nam đầu tiên chịu nạn bởi ánh hào quang phát triển XHCN đang bắt đầu quằn quại trên đất liền. Miền Trung giàu có biển khơi sẽ còn nhiều năm nữa nằm trong sự sợ hãi của khách du lịch toàn cầu, bởi sự chọn lựa dứt khoát giữa thép và cá tôm từ chính quyền.


41 năm sau ngày chấm dứt cuộc chiến tranh có tên gọi thống nhất Bắc Nam, vào 30/4 năm nay, nhân dân Việt Nam lại có dịp nhìn thấy một cuộc chiến “thống nhất” khác đang phủ bóng lên quê hương mình: Cuộc chiến âm thầm từ lâu mang bóng dáng của người bạn Trung Quốc.


Chưa bao giờ trên trên toàn Việt Nam, nỗi sợ hãi có tên gọi Trung Quốc đang hình thành rõ như vậy, bao gồm thực phẩm, hàng hoá, văn hoá mới, môi trường, chính trị… Khắp nơi, một cuộc chiến không tiếng súng đang diễn ra nhưng thất bại luôn thuộc về con người Việt Nam.


Mỗi lúc càng không thể chối cãi: nạn ung thư về thực phẩm tăng nhanh trong toàn dân, nền kinh tế lệ thuộc leo thang một cách ngu ngốc vào Bắc Kinh, biển và đất liền bị công khai cưỡng đoạt dần dần, người Trung Quốc di cư ồ ạt và thiếu minh bạch vào Việt Nam, biến nhiều điểm quan yếu của tổ quốc thành tô giới riêng của người Trung Quốc.


Thậm chí năm 2016, đã có những nơi chỉ buôn bán, sinh hoạt cho người Trung Quốc và dùng tiền nhân dân tệ, không tiếp người Việt. Giai đoạn mới cuộc chiến “thống nhất” đã đến.


Mới đây, từ thảm hoạ môi sinh kinh hoàng xảy ra ở Vũng Áng, nhiều người Việt vẫn nghĩ rằng Formosa Hà Tĩnh chỉ là công ty Đài Loan. Thế nhưng tiết lộ trên trang web mang tên Trần Đại Quang, tên của chủ tịch nước hiện tại ở Việt Nam, cho biết hệ thống đó hoàn toàn là Trung Quốc.


Tin cho biết, theo công văn số 1407114 của Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đề đạt với chính quyền Hà Tĩnh về số lượng nhà thầu làm việc cho hệ thống này, thì trong số 28 công ty thầu, đã có đến 25 công ty Trung Quốc (không phải Đài Loan), chỉ có 3 công ty Việt Nam. Số lượng công nhân Trung Quốc cũng lên đến 10.000 người.


Bài viết trên trang web Trần Đại Quang làm một phân tích ngắn về số tiền đầu tư và cổ phần mà các công ty mang mác Đài Loan đại diện ở Vũng Áng, đã chỉ ra một khoảng trống bí mật, cho thấy các công ty vỏ bọc này sau một thời gian ra mặt đã im lặng rút dần, nhường chỗ cho “ông chủ” mới, ẩn danh, chiếm gần 50% vốn. Nguyên văn của bài viết, khẳng định rằng “Formosa Hà Tĩnh không còn là doanh nghiệp nước ngoài 100% vốn Đài Loan như đã đăng ký”.


Với cái cách hết sức trịch thượng và được ưu ái kỳ lạ, hơn hẳn mọi quốc gia khác trên đất nước này, chúng ta hãy im lặng tự xét giờ đây Formosa Hà Tĩnh là ai.


Với cái cách bẻ cong được mọi thứ, đủ sức đẩy được thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Võ Tuấn Nhân bước ra đọc một thông cáo lừa dối và bệnh hoạn vào ngày 27/4, để bao che tội ác cho Formosa, chúng ta hãy im lặng tự xét giờ đây Formosa Hà Tĩnh là ai.


Câu chuyện Formosa giống như là một phần, trong chương trình chiến tranh im lặng “giải phóng” Việt Nam, bắt đầu bằng cuộc tận diệt môi sinh và con người suốt hàng trăm cây số bờ biển.


Sự kiện này chỉ là một giọt nước làm tràn ly, nhắc mọi người dân nhớ rằng từ sau 30/4 của hơn 40 năm trước, về một cuộc “giải phóng” khác từ người bạn Trung Quốc. Và họ đang thống nhất dần dần đất nước Việt bằng chiếm đóng, nạo vét tài nguyên, kiểm soát các điểm trọng yếu quốc phòng, tàn phá thiên nhiên và sức sống của một dân tộc. Dĩ nhiên, còn phải với sự tiếp tay của những kẻ buôn quê hương, bán dân tộc.


Suốt hơn 40 năm nay, người dân Việt đã “kháng chiến” âm thầm trong ý thức, kể cả với tuyệt vọng. Họ chịu đựng sự đàn áp từ những kẻ có quyền vốn muốn bắt tay, quỳ luỵ với Trung Quốc. Cuộc kháng chiến đủ hình thái, bắt đầu từ việc đặt câu hỏi thắc mắc Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan giờ ở đâu, cho đến xuống đường phản đối chống Trung Quốc giết hại ngư dân Việt, chống đồng hoá và thậm chí tự mình “kháng chiến” mỗi ngày khi bước ra ngõ, đến chợ… đều hỏi nguồn gốc món hàng có phải từ Trung Quốc hay không.


Cuộc kháng chiến để sống sót tự phát đó, nhiều lúc trở thành nghịch cảnh vì bị các quan chức, chính quyền bác bỏ, thậm chí khuyến cáo người dân hãy đầu hàng. Nhân dân bị kêu gọi hãy chấp nhận cuộc “giải phóng” mới bằng ngôn ngữ khốn nạn như thức phẩm độc nhưng ăn được, hàng lậu thối nát Trung Quốc được làm ngơ ầm ầm nhập qua biên giới, các dự án nhận đút lót luôn mời và ưu tiên cho các nhà thầu Trung Quốc xây dựng những sản phẩm tồi tệ chết người trên toàn quốc gia…


Trung Quốc, bằng cách nào đó, đã biến dân tộc Việt Nam thành một quốc gia công dân hạng hai. Bất kỳ ai khi nói về sự sai trái và tàn bạo của họ, chỉ được nói vu vơ là “người lạ”, như một sự kỵ huý. Một sự trấn áp về tinh thần hiện rõ trong truyền thông nhà nước, mỗi khi muốn đề cập nhắc đến đại quốc. Sự trấn áp hiện rõ từ bảng thông cáo vừa qua của Bộ Tài nguyên & Môi trường về việc Formosa “vô can” với thảm hoạ chất thải hoá học độc hại.


Những ngày cuối tháng 4/2016, những con cá chết nằm dọc bờ biển Việt Nam như những xác người, nhắc cho hàng triệu người nhớ về một cuộc chiến từ năm 1975 đã dừng tiếng súng, nhưng rồi mở ra một cuộc chiến khác khốc liệt hơn. Cuộc chiến không có tiếng súng, chỉ có tiếng vỗ tay, hoa, hữu nghị và những mất mát lớn lao không được nhắc tên. Một cuộc chiến mà toàn dân tộc Việt, đất nước Việt đang là kẻ chiến bại.


Những con cá biển miền Trung đáng thương không có quốc hội để kêu than. Chúng chết lặng lẽ ngay trên bến bờ của hy vọng. Chúng chết ngay tại chỗ đã ngàn đời dung thân. Có khác gì những người dân nghèo ven biển, đen đủi và im lặng cầm trên tay con cá chết nhìn chúng ta như những bóng ma chết oan. Hàng triệu triệu giòi bọ đang lúc nhúc rứt rỉa các thân cá chết lúc này. Những kẻ làm ngơ thảm cảnh hay chỉ muốn cố bám víu quyền lợi Bắc Kinh, cũng đang rứt rỉa sinh lực cuối cùng của quê hương này.


Một cuộc thống nhất khác, ngay từ sau 30/4 của nhiều thập niên trước. Trên tấm bản đồ đầy những điểm đánh dấu sự có mặt của người Trung Quốc, nhân danh thịnh vượng, bạn hãy làm một đường nối tất cả, để nhận ra đó là hình thù một tấm lưới lớn. Chúng ta rồi như cá, không còn đường đến với biển khơi tự do, và chỉ còn được sống – ăn loại thức ăn nào mà họ đã chọn. Như những con cá trong lưới, nhưng chúng ta được chết trong “thống nhất” mà không được giãy giụa hay cất tiếng.


Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Sao Băng - Cuộc chiến nội cung và Thủ tướng kỳ lạ nhất sử Việt



Sao Băng - Cuộc chiến nội cung và Thủ tướng kỳ lạ nhất sử Việt





Nguyen Xuan Phuc.jpg





Sau cuộc chiến nội cung khốc liệt nhất trong vòng 4 thập niên qua, ông Nguyễn Xuân Phúc lên chức, trở thành Thủ tướng kỳ lạ nhất trong sử Việt, không chỉ bởi hình dong cổ quái nhất trong các đời Thủ tướng, mà còn vì các sự kiện đi theo ông.

Khi vừa sinh ra ông Phúc đã có cái tật nghiêng đầu, chứ không phải như ông Nguyễn Phú Trọng khi lên đến chức Bí thư Hà Nội dư luận mới biết đến hỗn danh “lú” của ông. Ngày sinh ra Bảy Phúc, có ông thày chùa đi ngang qua phán, “Trời cho cố tật để sau này thành cửu ngũ chí tôn, nghiêng đầu lắng nghe dân”


Ở mảnh đất cày lên sỏi đá và tràn ngập khói lửa chiến tranh, không ai lưu tâm đến lời phán của thày chùa với đứa đầu nghiêng làm gì. Ông Phúc bình an sống, bình an mà đi lên từ Chánh Văn phòng tỉnh nghèo rớt Quảng Nam và không bao giờ nghĩ mình có ngày đứng trên thiên hạ.


Khi làm phó chủ nhiệm, rồi chủ nhiệm văn phòng Chính phủ, đi theo hầu hạ ông Nguyễn Tấn Dũng, cũng nhờ thuần tính, yên phận, cho mưa móc bao nhiêu hưởng bấy nhiêu nên không bị ông Dũng đề phòng.


Ngay cả khi đã là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, ông Phúc vẫn phải cung cúc đi theo hầu hạ ông Dũng, như khi đến thăm Thái Hương True Milk ở Nghệ An. Hôm đó trời nắng nóng lên đến gần 40 độ, chỉ mình ông Phúc phải mặc lễ phục tháp tùng ông Dũng nghênh ngang sánh bước cùng “mỹ nhân”. Mồ hôi chảy ròng ròng trên cái đầu nghiêng bóng loáng của ông.


Ông Phúc không như thế thì không thể tồn tại được dưới tay kẻ gian hùng như ông Dũng. Dư luận từng đồn rằng ông Nguyễn Sinh Hùng thời còn ở Chính phủ, có lần quỳ mọp xuống chân ông Dũng để xin ông này cho… thoi thóp. Về sau, khi sang Quốc hội, rửa mối nhục cũ, ông Sinh Hùng đã tận lực cùng ông Trọng, Trương Tấn Sang, Trần Đại Quang lập thế trận vừa ở Quốc hội, vừa ở Đảng hạ bệ ông Dũng.


Hai mươi năm là ủy viên Bộ Chính trị, ông Dũng đã khuynh loát cả chính trường này. Quyền lực tuyệt đối của ông Dũng khiến cho tất cả những người còn lại tự nguyện đoàn kết chống ông.  


Song ông Nguyễn Tấn Dũng như pháo đài bất khả xâm phạm. Không chỉ vì ông nắm hết quyền, tiền mà còn vì ông ta là bậc thầy trong việc tận dụng các cô tổ, cụ tổ của mình trong cuộc chiến tâm linh nhằm tranh giành ảnh hưởng ở vũ đài chính trị. Cô con gái rượu Thanh Phượng, có căn quả nên có thể nhảy đồng để truyền lời các cô cụ tổ của ông ta chỉ bảo cách phá trận đối thủ (!)


Trong suốt những năm ngồi ghế Thủ tướng và uống máu nhân dân, chưa ai động được đến ông Dũng, cũng vì ông thường xuyên được gia tiên mách cho đường đi nước bước của những kẻ toan tính triệt hạ ông.


Nhưng oan có đầu, nợ có chủ, gia tiên của ông có tài giỏi đến đâu cũng không thể bằng những anh linh liệt sỹ, những hồn thiêng sông núi đã ngã xuống vì mảnh đất này và họ vẫn thường xuyên lo lắng cho tương lai của 90 triệu người Việt.


Như ở hang Tám Cô, một địa danh nổi tiếng linh thiêng ở Quảng Bình, nơi có 13 bộ đội và thanh niên xung phong cả nam và nữ hy sinh mà 8 người trong đó đã bị chôn sống, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ năm 1972. Gia đình ông Dũng ngày mùng 1 và mười rằm nào cũng gửi hương hoa cúng.  

Dù vậy, những hồn thiêng không tan được trong đất trời nơi đấy, họ không thể nào yên lòng khi nhìn cảnh vinh thân phì gia và nỗ lực của Thủ tướng Dũng trong tận phá đất nước.


Họ hiển linh phù trợ cho Đại tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, người rất có nhân duyên với “Tám Cô” từ khi chỉ là một kẻ vô danh tiếu tốt bị đày ải ở phương Nam, không ai biết đến.  


Ông Quang trở thành kẻ thù ẩn giấu số một của Thủ tướng Dũng và cũng như ông Sinh Hùng, là tác nhân đặc biệt quan trọng trong công cuộc hạ bệ ông Dũng. Đại tướng hiện đã ngồi ghế Chủ tịch nước.  


Ngay cả khi không còn đường tiến, Thủ tướng Dũng vẫn tận dụng trò chơi tâm linh nhằm tạo ảnh hưởng cho mình, với hy vọng còn nước còn tát. Như vào thời điểm trước ngày khai mạc Đại hội XII, “cụ” Rùa Hồ gươm bỗng nhiên lăn ra chết và nổi trên mặt hồ.


“Cụ” nào thì ông Dũng cũng có thể cho tự nhiên lăn ra chết, một khi ông ta muốn đạt mục đích để cho thiên hạ biết, “thượng thiên hạ địa, duy ngã độc tôn”.


“Độc tôn” thì ông ta cũng bị loại khỏi Đại hội XII với vẻ mặt chảy sệ vì tuổi tác và lao lực cho trận chiến cuối cùng. Ánh mắt vằn lên những tia máu đỏ như con thú bị thương, song hy vọng dù rời khỏi vũ đài chính trị, vẫn phải là cái bóng khổng lồ che khuất mọi thế lực, vẫn không tắt trong ông.


Vì thế, ngay khi Đại hội XII vừa kết thúc, trong khi Tổng Trọng đang say men chiến thằng, Thủ Dũng khuấy lên câu chuyện hạn hán ở miền Tây Việt Nam, để nhồi sọ toàn dư luận về điềm dữ đã đến ngày tận vong của đất nước.


Truyền hình Việt Nam, cơ quan tiền bạc còn chất cao hơn cả núi nhờ sự che chở của Thủ Dũng, tích cực hàng ngày hàng giờ đưa tin về những cánh đồng nứt toác và cảnh người dân hớp từng giọt nước….


Hạn hán, xâm nhập mặn ở miền Tây không phải là chuyện mới. Nó đã được cảnh báo từ nhiều năm qua nhưng chưa từng được quan tâm thích đáng.


Thủ tướng có 20 năm ngồi ghế lãnh đạo Chính phủ để lo cho dân mà ông ta không hề làm, thì đừng hy vọng vào những ngày tháng cuối tại vị, ông ta quan tâm đến dân.


Ông ta tận dụng cõi tâm linh như một trò chơi chính trị, thì dù có được lá phiếu tín nhiệm cao nhất trong Trung ương Đảng như chính miệng khoe ra, ông ta cũng không thể thắng.


Bằng chứng là ông Dũng chắc có lẽ không thể ngờ được rằng kẻ đàn em mà ông ta vẫn thường xuyên khinh miệt, lại có ngày thay ông làm Thủ tướng.


Ông Nguyễn Xuân Phúc hồi Đại hội XI đã suýt bị ông Dũng loại sang Văn phòng Trung ương Đảng giữ chân Chánh Văn phòng và sự nghiệp có thể kết thúc mãi mãi ở nơi hữu danh vô thực đó. Đi lên từ Chánh Văn phòng và kết thúc cũng ở Chánh Văn phòng, như một ông thày của ông Dũng khi xem tướng diện của ông Phúc đã phán thế (!)


Nhưng ông Phúc đã ở lại Chính phủ sau Đại hội XI với vai trò Phó Thủ tướng và cũng như Đại tướng công an Trần Đại Quang, luôn là kẻ thù ẩn giấu, với dương trợ âm phù, để đi qua những năm tháng nghiệt ngã dưới bàn tay Thủ tướng và chiến thắng ông.


Có những thời kỳ cao điểm, như cuối năm 2014, tay chân Thủ tướng Dũng dội bom tin nhắn đến tất cả các cán bộ ba văn phòng Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội và tất cả các đại biểu Quốc hội để tổ cáo, vu khống ông Phúc, với số tiền dùng để nhắn tin lên đến 5- 7 tỷ đồng cho mỗi đợt, cộng với truyền đơn rải như bươm bướm.


Dù vậy, ông Phúc vẫn bình yên đi qua bão tố với tín nhiệm ngày càng cao hơn. Điều đáng nói là ông này, lại không hiểu biết là bao về thế giới tâm linh và tất cả những gì ông có được đều là tự nhiên mà đến. Như người xưa vẫn nói, “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”.  


Ông Phúc là người đặc biệt may mắn và hơn cả, ông luôn gắn với những sự kiện rất dữ dội. Ngay khi được bầu vào Bộ Chính trị, tháng 3 năm 2011, lần đầu tiên ông được cử đi sứ, đến Nhật. Chuyến công du kéo dài trong 4 ngày.  


Ông đi và về nước được đúng 2 ngày thì Nhật Bản xảy ra thảm họa động đất sóng thần, mạnh nhất trong lịch sử Nhật Bản và là một trong năm trận động đất mạnh nhất từng được ghi nhận trên thế giới.


Cũng lần đầu tiên đăng đàn trả lời chất vấn của đại biệu QH với vị thế là Phó Thủ tướng Thường trực, năm 2012, vốn không hoa mỹ, màu mè như cấp trưởng của mình, nhưng đột nhiên ông Phúc lại đưa ra khẳng định, “dù một chiếc thuyền bị chìm hay một cái máy bay bị nổ, thì đó cũng là trách nhiệm của Chính phủ”


Tròn hai năm sau đó, mùa hè năm 2014, giống như là định mệnh, một chiếc máy bay quân sự bị nổ và rơi ở Hòa Lạc tại một xã có tên là Bình Yên, kéo theo 20 sỹ quan và bộ đội bị thiêu cháy.


Năm 2013, năm kỷ lục về “nhập khẩu” bão gió ở Việt Nam, đã có 19 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động ở biển Đông, trong đó 12 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trong khi bình quân 50 năm qua, mỗi năm Việt Nam chỉ có 7,5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới.  


Bão Haiyan xuất hiện trong bối cảnh đó, được các cơ quan khí tượng của Việt Nam và quốc tế dự báo là siêu mạnh trong lịch sử nhân loại. Ông Phúc nhận lệnh của ông Dũng đi vào tâm bão Haiyan được xác định là các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng.  


Tại đây, ông Phúc đã chỉ đạo thành công cuộc di dân tránh báo lớn nhất từ trước nay.


Nhưng điều đáng nói hơn, siêu bão Haiyan về đến Việt Nam, lại bỗng nhiên chỉ trở thành mưa phùn và gió hiu hiu thổi, bất chấp mọi dự báo trước đó.


Cũng năm 2013, ông Phúc được giao trách nhiệm làm Trưởng ban tổ chức lễ tang cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Việc tổ chức tang lễ cho tướng Giáp thế nào đã gây ra tranh luận nảy lửa giữa 16 ông lớn trong Bộ Chính trị, vì nỗi lo “các thế lực thù địch” nhân dịp tang lễ này đế thực hiện “cách mạng màu”.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Thế hệ gốc Việt thứ 2 nhìn lại cuộc chiến ngôn từ


Thế hệ gốc Việt thứ 2 nhìn lại cuộc chiến ngôn từ




Nguyên tác: Thanh Tân (nhật báo Seatle Times)
Chuyển ngữ: Trùng Dương



Lời giới thiệu: Nhiều người trẻ gốc Việt, trong đó có các con tôi, thắc mắc tại sao sau 40 năm mà nhiều người thuộc thế hệ di dân người Việt đầu tiên vẫn không thể chấp nhận chế độ cộng sản hiện cai trị tại Việt Nam, tại sao vẫn từ chối nói chuyện hoà hợp hoà giải với chế độ đó mặc dù những nỗ lực với tới "những khúc ruột ngàn dậm," và cả phá hoại, cộng đồng người Việt hải ngoại trong nhiều thập niên qua bởi tập đoàn lãnh đạo tại Hànội.Nhân kỷ niệm 40 năm ngày 30 tháng 4, 1975, qua những bài viết và phim ảnh tôi đã có dịp đọc, bài bình luận của cô Thanh Tân trên tờ Seattle Times, "40 years after the Vietnam War, move pass name-calling," (40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, hãy vượt lên cái trò 'chụp mũ') (*) đã đặc biệt lôi cuốn sự chú ý của tôi. Bài viết không những từ một người trẻ sinh ra và lớn lên ở trên đất Mỹ với cái nhìn khá sâu sắc và chính xác, mà còn mang một văn phong xúc tích, mạch lạc về một trận chiến ít người nhìn thấy nhưng đã và vẫn còn âm thầm diễn ra, mà chính cha cô, một nhân vật hoạt động tích cực trong cộng đồng, đã trở thành nạn nhân. Những trận chiến bằng ngôn từ này nhằm chụp mũ nhiều người sinh hoạt tích cực cho cộng đồng là thân cộng và cộng sản nằm vùng, đã gây tổn thương và chia rẽ trầm trọng không những cho nạn nhân mà cả cộng đồng người Việt hải ngoại. Những người bị chụp mũ lại thường là những nhân vật đã từng hoạt động tích cực để xây dựng cộng đồng người Việt hải ngoại ngày một tốt đẹp hơn. Nhiều cây bút trong cộng đồng đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng chụp mũ có tính cach phá hoại này, mà hậu quả là ít người còn muốn ra làm việc cho cộng đồng. Thậm chí hễ nói tới cộng đồng có nhiều người ngao ngán, coi đó là chốn "gió tanh mưa máu" không muốn dính vào. Những lỗ trống ấy rồi ai sẽ là người điền vào, nhiều người trong chúng ta đã biết câu trả lời. Trò ném đá dấu tay của cộng sản trước 1975 đã lôi kéo nhiều người Miền Nam nhẹ dạ, trong đó có nhiều văn nghệ sĩ và ký giả, cố ý hay vô tình, đã tiếp tay làm suy yếu Miền Nam.Tôi chọn dịch bài này vì có lẽ không có gì mạnh mẽ hơn là một cảnh báo đến từ một người thuộc thế hệ thứ hai, do một kinh nghiệm đau thương của chính gia đình cô. [TD, 05/2015]


###


Thanh Tân - 40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, hãy vươn lên khỏi trò 'chụp mũ'



Sáu năm trước, tôi ngồi ở ghế nhân chứng tại toà án Quận Thurston và không giữ được sự bình tĩnh. Tôi không còn nhớ câu hỏi của luật sư đã khiến nước mắt tôi trào ra, nhưng tôi nhìn chằm chặp vào người đàn ông đã công khai làm nhục bố tôi, ông Đức Tân, bằng lời cáo buộc sai quấy cho ông là Việt cộng nằm vùng. Tôi đã thốt lên, "Làm sao ông có thể làm điều đó hả?"


Trong lúc tôi làm nhân chứng trong vụ kiện mạ lỵ phỉ báng mà cha tôi là nạn nhân, tim tôi nhức nhối giùm cha tôi sau nhiều thập niên làm việc cộng đồng lại bị bôi vấy và tư cách của ông bị xúc phạm bởi một số người di dân cùng giòng giống. Tim tôi vỡ nát khi thấy Cuộc chiến Việt Nam vẫn chưa chấm dứt, ít ra đối với những người đã phải chịu đựng cơn chấn thương trước khi định cư tại Mỹ.


Ra đời tại Olympia nhiều năm sau khi Sàigòn thất thủ, tôi đã trải qua phần lớn đời mình trốn tránh bóng ma của cuộc chiến này. Là con gái của những người tị nạn, việc trốn tránh này khó mà làm được, đặc biệt khi cha tôi và Cộng đồng Việt tại Quận Thurston nạp đơn kiện những người đã chụp mũ họ và vụ kiện đã kéo dài tới 10 năm.



Duc Tan-Thanh Tan.jpg
Gia đình cô Thanh Tân và vài thân hữu thăm viếng Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam của tiểu bang Washington vào năm 1990. Trong hình: hàng sau, từ trái, Hải Võ, Triều Võ, ca sĩ Bạch Yến, Tau Lương, Đức Tân, Uyên Tân; hàng trước, Anh Tân, Thanh Tân. (Ảnh Thanh Tân)



Tôi đã nghiệm ra rằng làm một người Mỹ gốc Việt tức là chấp nhận cái di sản của sự sinh tồn vượt ngoài tưởng tượng và niềm đau không thể giãi bầy. Chúng ta có mặt tại đây phần lớn vì quốc gia của chúng ta, Nam Việt Nam, thua trận. Chúng ta phải lìa quê hương vì sợ bị bắt bớ tù đầy. Cha tôi là một giáo sư và sĩ quan trong quân đội Miền Nam được Hoa Kỳ hỗ trợ.


Đợt người Việt tị nạn đầu tiên đến Mỹ năm 1975 đã phải bắt đầu xây dựng lại cuộc đời họ từ đống tro tàn. Hơn 15 năm kế đó, các thuyền nhân (trong đó có gia đình tôi) đã thường xuyên trực diện với chết chóc, đói khát, hãm hiếp và cướp bóc bởi hải tặc nơi biển khơi. Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các con cái của quân nhân Mỹ được hồi hương và định cư tại Mỹ. Cũng vậy là các cựu tù nhân chính trị, những người bị cộng sản cầm tù từ ít ra ba năm trở lên trong các cái gọi là trại "học tập cải tạo".


Nhìn lại quãng đời thơ ấu của mình, tôi nhớ tới những đợt di dân khác nhau đã thay đổi bộ mặt cộng đồng mỗi ngày một đông của chúng tôi. Cha tôi thường dẫn ba chị em tôi tới những buổi mít tinh chống cộng và tổ chức những buổi họp tại nhà. Mùi cà phê thơm lừng trong không gian khi các bà vợ chuyện trò trong nhà bếp trong khi các ông túm tụm ngoài phòng khách – lá cờ Việt Nam Cộng Hoà lúc nào cũng được trưng bầy.

Họ không những chỉ gặp nhau xã giao, mà còn chia sẻ các thông tin: Nơi nào họ có thể mua các loại thực phẩm Á đông? Làm thế nào để có thể trợ giúp người thân còn ở Việt Nam? Cuộc thi tuyển nào có thể giúp họ kiếm một việc làm với chính quyền tiểu bang hay làm thế nào để thăng tiến khỏi nghề lau chùi dọn dẹp? Ai đứng ra tổ chức kỳ mít tình tới để tranh đấu cho nhân quyền bị đàn áp ở Việt Nam?


Đối với chị em chúng tôi, lớn lên trong một gia đình tị nạn có nghĩa là quân bình hoá giữa hai nền văn hóa, hai ngôn ngữ, hai mọi thứ khác ở mọi lúc. Nếu chúng tôi không đang cùng đi dự mít tinh với cha mẹ, thì là giúp hiệu đính thư từ gửi đi các nhà dân cử hay thu nhặt các đóng góp thiện chí tại các buổi văn nghệ gây quỹ.


Ý tưởng về một chuyến phiêu lưu của gia đình tôi là dẫn các bạn tị nạn đi thăm Đài Cựu Chiến binh Tham Chiến tại Việt Nam ở khuôn viên toà nhà Quốc hội tiểu bang, một đài tưởng niệm nhiều người Việt đã đóng góp để dựng nên.


Mỗi tối thứ Sáu chúng tôi theo học chữ Việt tại trường Việt ngữ, nơi mỗi trước khi bắt đầu lớp học chúng tôi đứng chào lá cờ mầu vàng với ba gạch đỏ. Những lời mở đầu của bài quốc ca của Nam Việt Nam đã khắc sâu trong trí nhớ tôi:


“Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…"


Cha tôi quá bận rộn với công việc cộng đồng tới độ có lần ông suýt bỏ qua cơ hội thăng chức tại Văn phòng Xã hội và Y tế của tiểu bang. Ông mang mặc cảm của người sống sót, một cảm giác nhiều người Việt lưu vong cùng chia sẻ và họ thấy phải làm cái gì đó cho bạn bè và gia đình còn đang lầm than và bị tù đầy ở quê nhà.


Khi những người tị nạn khác mới tới, những người đi trước thường giúp họ tập lái xe, kiếm việc và giúp điền các giấy tờ này khác.


Là một người đã khôn lớn, tôi bàng hoàng khi thấy cũng chính vài trong những người này đã trở mặt chống lại cha tôi và tổ chức cộng đồng người Việt địa phương. Trong một thông cáo công khai vào năm 2003, một nhóm tự gọi là Ủy ban Chống Cờ Việt Cộng vu cáo cho cha tôi và tổ chức cộng đồng là "tôn sùng cộng sản, làm nhiễm độc đầu óc trẻ em và thường xuyên và một cách có kế hoạch phản bội cộng đồng Việt Nam bằng cách làm lợi cho chính quyền Việt cộng."


Mà có gì đâu, chỉ là vì một cái khăn đeo làm bếp mầu sắc rực rỡ tìm thấy sau gian hàng bán thực phẩm mà cha tôi đảm trách cho một buổi gây quỹ cho cộng đồng tại Hội chợ Capital Lakefair. Những người bài bác ông đã họp báo tuyên bố là cái khăn làm bếp ấy có hình Santa Claus mang một đôi găng tay có biểu tượng Hồ Chí Minh và cờ cộng sản.


Toà Quận Thurston đã tuyên án thắng cho cha tôi và nhóm của ông. Vào ngày 9 tháng 5, 2009, toà Tối cao Tiểu bang Washington đồng ý với bồi thẩm đoàn là Ủy ban Chống Cờ Việt cộng đã mạ lị phỉ báng nhóm của cha tôi với ác ý. Vụ án, đã được tờ The New York Times tường thuật, mới chính thức kết thúc năm ngoái sau khi Tòa Tối cao Liên bang từ chối thụ lý hồ sơ kháng án. Dù vậy, tôi vẫn không hiểu tại sao một vụ vu cáo vô lý đến thế mà đã đi xa được đến như vậy.


Có lẽ ta có thể giải thích là cơn chấn thương vẫn còn đeo đẳng nơi nhiều người tị nạn trung thành với chính thể Việt Nam Cộng Hoà. Những người tị nạn lớn tuổi vẫn còn đau xót trước sự mất mát quê hương và căn cước của họ vào ngày 30 tháng 4, 1975. Trước khi Sàigòn thất thủ, họ đã sống trong nỗi ngờ vực có căn nguyên hẳn hoi về việc các lực lượng cộng sản, được biết tới là Việt cộng, đang thâm nhập Miền Nam để gây rối. Ngày nay, họ lo âu về Nghị quyết 36 của chính quyền Việt Nam, một nghị quyết ra đời vào năm 2004 nhằm tạo ảnh hưởng tới hàng ngũ cộng đồng hải ngoại.


Cuộc chiến đã không kết thúc đối với nhiều người. Thay vì là súng đạn, vũ khí bây giờ là ngôn từ.


Hành động chụp mũ người vô tội là thân cộng vẫn còn đang diễn ra tại các cộng đồng người Việt khắp nơi trên đất Mỹ. Những vụ kiện tụng đã diễn ra tại các tiểu bang Minnesota, Texas và California. Hậu quả là nhiều người chán nản không muốn tham gia việc cộng đồng. Hiện tượng McCarthyism tân thời này cần phải chấm dứt.


Nhưng chấm dứt bằng cách nào? Bằng việc nói lên kinh nghiệm và vinh danh những phấn đấu của mỗi một người tị nạn vậy.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Bùi Tín - Cuộc chiến “biệt vô tăm tích”


Bùi Tín - Cuộc chiến “biệt vô tăm tích”


Viện Bảo tàng Phòng không-Không quân tại Hà Nội.
Viện Bảo tàng Phòng không-Không quân tại Hà Nội.



Cuộc nội chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.


Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Đài, của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Đệ Tam Quốc tế CS, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân đội Nhân dân (QĐND) và của Quân lực VN Cộng Hòa, hồi ký về nhà tù CS, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều «góc khuất» của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.


Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.


Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là «cuộc chiến biệt vô tăm tích». Đó là tình trạng quân nhân trong QĐND ở miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.


Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc - Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.


Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.


Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm đội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng sản miền Bắc nước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

TRẦN PHONG - DÂN LÀM BÁO: CUỘC CHIẾN DŨNG - SANG - TRỌNG, LIỆU CÓ THÀNH CÚ “NỐC AO”?











TRẦN PHONG - DÂN LÀM BÁO: CUỘC CHIẾN DŨNG - SANG - TRỌNG, LIỆU CÓ THÀNH CÚ “NỐC AO”?













Trần Phong (Danlambao) - Thời gian vừa qua, những động thái của nhiều bên được hé lộ qua những nguồn thông tin cả “lề dân” lẫn “lề đảng” đã cho chúng ta “thấy” được những sợi dây hữu hình đang ngày càng thít chặt vào cổ 3 Dũng & cả những động tác gắng sức tự “gỡ nút” của y & đồng bọn… Ngày 25 tới đây chính là một ngày vô cùng trọng đại trong chuỗi 05 ngày bộ chính trị họp kín để nghe các ban-ngành thuộc khối nội chính báo cáo những nội dung về 3 Dũng, ngày cuối này ủy ban kiểm tra trung ương sẽ trực tiếp báo cáo dựa trên các nguồn tổng hợp lại & bộ CT sẽ có kết luận cuối cùng trước khi đưa ra cuộc họp toàn thể ban chấp hành trung ương khai mạc vào khoảng trung tuần tháng 10 tới…


Câu hỏi được đặt ra là cuộc chiến giữa “cung vua” & “phủ chúa” sẽ có kết cục như thế nào đang được quảng đại quần chúng quan tâm, bàn tán sôi nổi trong đó có không ít ý kiến nghi ngờ lẫn e ngại & đồng thời cũng có khá nhiều ý kiến lạc quan, thậm chí là ảo tưởng về một cuộc cách mạng dân chủ, dù là sơ khai của cả hai phía nếu một bên trong số họ giành “chiến thắng”.