Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thanh Nghiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thanh Nghiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Phạm Thanh Nghiên - Khai giảng năm nay, ai không được đến trường?



Phạm Thanh Nghiên - Khai giảng năm nay, ai không được đến trường?











Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - “Năm lên sáu tuổi, mẹ dẫn tôi đi xin học. Ông hiệu trưởng trường đó chê tôi bé, không nhận. Tôi lại tha thẩn chơi ở nhà một năm. Năm sau, đến lượt bố tôi đưa con đi. Vẫn ông hiệu trưởng ấy, vẫn Ban Giám hiệu ấy chê tôi “còi”, không nhận. Bố tôi đưa giấy khai sinh cho họ xem. Ông ta chê tên tôi xấu và phán:

- Chắc là khai man tuổi. Tôi nhìn nó bé thế này, cùng lắm là năm tuổi, chứ bẩy tuổi gì mà bé như cái kẹo mút dở.

Bị vu vạ là “khai man” tuổi cho con, bố tôi tức lắm:

- Giấy trắng mực đen có đóng dấu nhà nước đàng hoàng mà ông vẫn nói khai man.

Rồi bố tôi ấm ức bỏ về.

Hôm sau, mẹ tôi cùng mấy cô hàng xóm mang giấy khai sinh và hồ sơ xin học đến trường. Giấy trắng mực đen, dấu đỏ của nhà nước họ không tin. Họ tin mấy người hàng xóm làm chứng cho cái sự bẩy tuổi của tôi.

- Nếu thầy không nhận thì cháu nó thất học. Năm ngoái tôi đã đến xin một lần rồi. Cháu nó đi học năm nay là thiệt mất một năm. Mẹ tôi nài nỉ.”.

Đấy là câu chuyện đi học của tôi, đã được kể trong bài viết “Chút kỷ niệm nhân ngày giỗ Bố cách đây gần hai năm.

Dù chậm mất một năm, nhưng tôi vẫn được đi học.

Nhà nghèo, bố mẹ tôi phải chật vật chạy ăn từng bữa cho con đi học. Nhưng tôi cũng không tránh được cảnh bị cô giáo bêu tên trước lớp vì tội chậm đóng tiền học. Thế mà rồi cũng chẳng làm nên cơm cháo gì. Năm mười tám tuổi, tức là lúc đang học lớp mười một thì tôi nghỉ. Không phải mải chơi, mà vì tôi bị ốm. Một trận ốm thập tử nhất sinh khiến tôi phải nghỉ học mất vài tuần. Hổng kiến thức, với lại bố mẹ tôi cũng không còn lo nổi cho con đi học sau khi đã thuốc men chạy chữa. Tôi nghỉ một lèo sáu năm trời để đi làm phụ giúp bố mẹ.

Sáu năm sau, tôi xin vào Trung tâm Giáo dục Thường xuyên học lại chương trình lớp mười một. Lúc này, tôi vừa đi làm, vừa đi học nên không phải xin tiền bố mẹ nữa. Tôi tốt nghiệp Bổ túc Văn hóa khi đã hai mươi lăm tuổi.

Tôi bối rối lắm (và không vui nữa) khi thỉnh thoảng vẫn có người nhầm và hỏi tôi có phải là giáo viên, nhà văn hoặc luật sư không, bằng thái độ khá trịnh trọng. Giáo viên, luật sư, nhà văn khỉ gì tôi. Tôi là công nhân dệt len, đến khi nhà máy phá sản tôi đi làm nghề quét dọn vệ sinh để kiếm sống. Chấm hết. Lý lịch tôi chỉ thế thôi. Tôi đã bộc bạch điều này ngay trong bài viết đầu tiên công khai trên mạng hồi tháng 9/2007 rồi.

Cái sự học của tôi ngắn ngun ngủn không bằng một đường chỉ trong lòng bàn tay. Bạn bè tôi hồi ấy khối đứa phải bỏ giữa chừng vì không có tiền theo học tiếp. Câu chuyện thất học tưởng đã lùi vào dĩ vãng, vậy mà vẫn tươi rói cho đến ngày hôm nay. Khốn nạn, cái tiền đồ tối thui, mờ mịt ấy sẽ truy cùng đuổi tận tới tương lai, không biết bao giờ mới chấm dứt.

Bây giờ, chắc không còn mấy trường hợp phải “tha thẩn chơi ở nhà một năm” như tôi chỉ vì bị ông thầy Hiệu trưởng chê bé, chê còi nữa. Cũng không cần phải kéo hàng xóm đi theo để làm chứng rằng đứa trẻ đã thừa tuổi đến trường. Đến tuổi đi học, bé hay còi đều nhận hết. Miễn là bố mẹ cứ nộp được hồ sơ xin học cho con, cốp đủ tiền cho nhà trường là xong. Cho dù để nộp được hồ sơ xin học, ngay từ đêm hôm trước, nhiều ông bố bà mẹ phải mang chiếu, võng, ghế bố, áo mưa... để cố thủ trước cổng trường, hy vọng sẽ đặt được chỗ xin học cho con dù sáng -thậm chí chiều- hôm sau mới mở cửa tuyển sinh.

Đấy là chưa kể xin học trái tuyến, phụ huynh phải đăng ký trước ngày khai giảng mấy tháng trời. Phải nhờ vả, chạy chọt và trải qua nhiều chủ tục hành (là) chính vô cùng nhiêu khê. Phải tốn nhiều công sức, thời gian đi lại, hao tổn tinh thần và tốn tiền. Ở Hà Nội, Sài Gòn, việc xin học trái tuyến tốn mười mấy gần hai mươi triệu cho trẻ vào lớp một. Đành ngậm ngùi, vì bố mẹ ở đâu con ở đấy. Công việc ở thành phố, chả lẽ tống con về quê hoặc về tỉnh khác cho người nhà nuôi để chúng đi học.

Chẳng có xứ nào mà cái sự đi học lại gian truân đến thế. Nhưng gian truân mà được đi học, kể cũng bớt tủi. Tủi nhất là những đứa trẻ đang sống bình yên bên cha mẹ, đang được tung tăng đến trường bỗng nhiên phải nghỉ học, ngơ ngác và buồn rười rượi. Đọc đến đây chắc các bạn biết tôi đang nhắc đến thảm họa môi trường với hung thủ là Formosa và những kẻ tòng phạm.

Biển miền Trung không còn cưu mang cuộc sống của những ngư dân nghèo Việt Nam được nữa.

Tôi ấn tượng với quan điểm của ông PGS-TS Nguyễn Chu Hồi (Nguyên phó Tổng cục trưởng Biển Đảo) rằng “nghề cá đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ và hàng triệu ngư dân rơi vào cảnh khốn khó do Trung Quốc đang huỷ hoại Biển Đông không thương tiếc”.

Đằng sau hàng triệu ngư dân ấy là nhiều hơn con số “hàng triệu” đứa trẻ thất học và phải sống khổ sở, cơ cực hơn cả cha mẹ chúng.

Trong bài viết Formosa: Cú lừa vĩ đại của Ba Đình và thủ đoạn thâm độc của Bắc Kinh đăng trên Dân Làm Báo hôm 1/9/2016, Blogger Vũ Đông Hà đã đưa ra quan điểm “Formosa là phương tiện, Bắc Kinh là thủ phạm, Ba Đình là đồng phạm.”

Blogger này cũng kết luận: “Từ nguyên nhân giả dối là công ty Đài Loan Formosa vi phạm xả thải và chủ trương ngăn chặn, kiểm soát công ty này trong quá trình xử lý chất thải sang đến nguyên nhân thật sự và thủ đoạn thâm độc của Bắc Kinh cho chúng ta thấy thảm hoạ Vũng Áng chỉ là màn khởi đầu. Nếu đảng cộng sản vẫn tiếp tục độc tôn lãnh đạo và cai trị, những cú lừa vĩ đại do Ba Đình dàn dựng sẽ tái diễn; thủ đoạn thâm độc của Bắc Kinh sẽ trở thành một chiến dịch diệt chủng dài hạn. Và đất nước, con người Việt Nam sẽ trở thành những vùng đất chết, biển chết, những con người bệnh tật, ngắc ngoải theo số phận bi đát của dân tộc.”

Khi mạng sống, giống nòi còn không giữ được thì chuyện học hành đâu còn cơ hội để bàn tới.


Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Phạm Thanh Nghiên - Hãy cứ tàn phá đi, khi còn có thể



Phạm Thanh Nghiên - Hãy cứ tàn phá đi, khi còn có thể











Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - Nhìn những bức hình bọn trẻ miền Trung nheo nhóc này, tôi lại nhớ đến lũ trẻ trong tù. Nhớ thằng Khoai Tây, thằng Phê, con Bống, thằng Luân, thằng Bin... Nhớ cả những đứa còn đỏ hon hỏn nằm chen chúc với mẹ trong buồng giam mà tôi chưa kịp hỏi tên.

Có những điều rất khác giữa những đứa trong tù và những đứa ở ngoài, tất nhiên rồi. Nhưng, chúng có một thứ chung, chung lắm: tương lai. Cái thứ tương lai mà nghe nhắc đến bố mẹ chúng rùng mình và người đời thì ái ngại. Còn lũ chúng, chưa đủ lớn để biết đau, biết khổ, để thấy cái thăm thẳm của đời người trước mặt.

Thằng Phê, con Bống, thằng Luân, thằng Bin, thằng Khoai Tây hay nhiều đứa khác không biết đến que kem chừng nào mẹ nó chưa được tha. Chúng quen với những bộ quần áo kẻ sọc, thứ mà người lớn sợ hãi và ghê tởm. Đời cũng có thể ban cho chúng một cuộc sống ra sống, cũng có thể lại xô đẩy đến vết đời như cha mẹ chúng. Cái vòng luẩn quẩn của nhà tù khi chúng mở mắt đã thấy, biết đâu lại thành nơi ăn chốn ở khi trưởng thành? Dám lắm chứ, ai mà biết được.

Đời những đứa con tù khổ, đã đành. Nhưng cũng có vô số đứa chẳng phải bị ở tù oan theo mẹ ngày nào, cũng mờ mịt tương lai. Chúng, là hàng ngàn đứa trẻ miền Trung nằm trong hàng triệu số phận mang tên Formosa.

Chúng là con cái của những cha mẹ ngư dân lam lũ. Khi biển chưa ô nhiễm, cá chưa chết, chúng vẫn được ăn no, vẫn được đi học dù còn chật vật. Biển ô nhiễm, gia đình mất kế sinh nhai, chúng phải ăn ngót cái bụng. Và thất học. Cha mẹ chúng buộc phải từ bỏ nghề nghiệp truyền đời từ ngàn năm để lại và “chập chững vào đời bằng ngã khác như trẻ nhỏ” (nhạc sĩ Tuấn Khanh).

Formosa đã biến những con người làm ra của cải, những con người có phẩm giá thành kẻ ăn xin, xếp hàng nhận mười mấy ký gạo cứu trợ. Thứ gạo mà theo người dân Hà Tĩnh là “...mốc xanh ăn không được. Cho gà, gà không ăn. Cho chó, chó không ăn”. Cái thứ gạo mà mỗi lần xảy ra thiên tai lũ lụt đều được đem ra bố thí cho dân như một hình thức dọn kho, để rồi người nhận vẫn phải biết ơn và ngợi ca điệp khúc “chính sách nhân đạo của đảng”.

Số lương thực đổ đi ấy, chẳng lẽ là một phần của số tiền 500 triệu đô mà chính phủ này có được sau “phép tính nhanh” vội vã, chứ không qua một chương trình hành động nào, cũng theo cách nói của nhạc sĩ Tuấn Khanh?

Đã quá rõ ràng về những hậu quả mà người Việt Nam phải gánh chịu từ thảm họa do Formosa gây ra. Thảm họa của ngày hôm nay sẽ kéo dài nhiều năm sau nữa, lên nhiều thế hệ, đến mọi mặt của đời sống con người. Đã quá rõ ràng về chân dung kẻ tòng phạm góp sức cùng với Formosa tàn phá quê hương. Với những gì đảng cộng sản đã làm trên đất nước này, không ít người sẽ cho tôi là ngây thơ nhưng tôi không thể không hỏi, rằng:

Họ được gì sau cái chết oan uổng và tức tưởi của anh thợ lặn Lê Văn Ngày?

Họ được gì khi đất đai và biển miền Trung bị bỏ hoang?

Họ được gì khi hàng vạn con người phải từ bỏ nghề nghiệp, phải khốn khổ mất đi miếng cơm manh áo?

Họ được gì trước một thế hệ dốt nát của ngày mai vì hôm nay thất học?

Họ được gì trước những bệnh tật ốm đau, trước những hình hài dị hợm, quái thai đã được dự báo trước rằng sẽ hiện diện như một lẽ đương nhiên trên mảnh đất quê hương này?

Họ được gì trên những điêu tàn đổ nát?

Tôi không viển vông để đặt câu hỏi liệu các ông bà Trần Hồng Hà, Võ Tuấn Nhân, Nguyễn Thị Kim Tiến... có gợn một chút gì trong trí não và trái tim không, khi nhìn thấy những đứa trẻ lem luốc, đói ăn và không được đi học khi mùa khai giảng đang đến gần. Chúng, có thể sẽ phải dứt ruột lìa cha mẹ đi xứ khác, bán sức lao động tìm kế mưu sinh. Trong số chúng, sẽ có bao nhiêu cuộc đời của thằng Phê, con Bống, thằng Bin, thằng Khoai Tây?

Tôi nghĩ đến những người dân nhẹ dạ, lũ lượt đi tắm biển, ăn hải sản ở vùng nhiễm độc chỉ vì tin lời ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ TNMT rằng “môi trường tự nhiên, biển miền Trung hoàn toàn có thể tự làm sạch, tự đào thải những chất ô nhiễm này”, và tin “các chỉ số đều an toàn đối với sức khỏe con người... hải sản tươi sống đều an toàn” như lời bà Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến.

Có quá lời không khi nói rằng hành động phơi bụng đi tắm biển, ăn hải sản để nói dối vùng nhiễm độc đã an toàn của các ông bà quan lớn là hành động diệt chủng?

Nếu thế, thì mọi câu hỏi của tôi không còn cần thiết nữa.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Phạm Thanh Nghiên - Đêm đầu tiên ở buồng biệt giam



Phạm Thanh Nghiên - Đêm đầu tiên ở buồng biệt giam










Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - Không phải người tù nào cũng nếm trải mùi biệt giam trong một căn buồng rộng chưa đầy 6 mét vuông với sáu lỗ nhòm (to bằng quả trứng chim cút) để nhìn ra khoảng sân và bức tường trước mặt - thế giới của người tù. Và cũng không phải mọi buồng biệt giam đều có khoảng sân để người tù có cơ hội được giải phóng tầm mắt. Nhiều buồng biệt giam mà bên ngoài cánh cửa là một bức tường kín, chừa ra một lối đi hẹp tối tăm, ẩm mốc và hôi hám như một đường cống ngầm. Đấy là nơi ở đầu tiên của tôi trong những tháng bị biệt giam. Sau vài tuần, tôi được chuyển sang buồng có khoảng sân trước mặt.

Sự trừng trị của nhà cầm quyền đối với những người khát khao tự do đôi khi lại là một cơ hội để khám phá bản thân, không chỉ qua khả năng chịu đựng đói rét, bệnh tật mà là bản lĩnh đối mặt với nỗi cô đơn tinh thần. Biệt giam, thực sự là một môi trường tinh thần đủ mọi cung bậc của cùng cực tĩnh lặng, cùng cực sự xáo trộn dữ dội trong tâm trí mà chỉ có thể trải nghiệm giữa chốn ngục tù, nhất là mỗi khi đêm về.

Người tù có thể sẽ yếu đuối, nản lòng hoặc trở nên cứng cỏi, can đảm hơn khi chịu đựng đến cùng sự mênh mông vô tận trong khoảng không gian chật hẹp, u ám mang tên “buồng biệt giam”. Điều đó tùy thuộc vào thái độ tiếp nhận hoặc tư thế của mỗi người tù. Một khi đã không được quyền lựa chọn “nơi ở” cho mình thì tốt nhất là chủ động làm “chủ sở hữu” cho bất cứ nơi nào ta bị quăng quật vào đó.

Bước chân vào buồng biệt giam (1), tôi đã thấy Lý. Nàng ta ngồi thù lù trên bệ xi măng. Đôi mắt sắc như dao trong ánh điện yếu ớt, thản nhiên và không mấy thiện chí nhìn tôi. Tôi nghĩ đến những danh từ nghe được từ lúc còn ở buồng chung, cảm thấy một chút nghi ngờ về người bạn mới. Cô ta có thể là người được công an sắp xếp để “khai thác” tôi.

Một số danh từ như: “rích, ly, ma, chó, ăng-ten...” được sử dụng để gọi một loại tù nhân chấp nhận làm “tay trong” cho công an để đổi lấy những lợi ích cho bản thân. Phần thưởng cho mỗi lần “lập công” có thể được trả bằng tiền, hiện vật, bằng những “đặc ân”, sự ưu tiên trong thời gian thụ án và nhất là rút ngắn những năm tháng ở tù của “rích”. Tất nhiên, trước khi đi làm “nhiệm vụ”, rích cũng được công an hướng dẫn, “huấn luyện” về cách tiếp cận, khai thác, nhất là lấy được cảm tình và lòng tin của “đối phương”. “Rích” thường được điều tra viên và cai tù sắp xếp để gần gũi “con mồi”. Có nhiều khuôn mặt “rích” dễ nhận diện. Có nhiều “rích” ngụy trang khéo đến nỗi kẻ cận kề không phát hiện được.

Tôi biết đến dạng người này nhờ kinh nghiệm bốn năm ở tù, qua quan sát và qua chính một vài người từng là “rích” thừa nhận. Vênh váo tự cho mình là phá án giỏi nhất thế giới, nhưng công an cộng sản Việt Nam luôn phải áp dụng thủ đoạn dùng người tù để khai thác người tù. “Bị can” có thể không khai với công an điều tra, nhưng sẵn sàng kể lể, tâm sự đủ thứ chuyện với người bạn tù mà mình tin cậy. Từ những mánh khóe, mối quan hệ riêng tư, gia đình, xã hội, thói quen, sở thích và nhiều thứ từ liên quan hay không liên quan tới vụ án.

Bọn điều tra viên và bọn cai tù biến người tù thành kẻ thù của nhau, phải sống trong tình trạng nghi ngờ, cảnh giác, giám sát và căm ghét nhau trong cảnh tù đầy vốn đã vô cùng khốn khổ. Đấy là chưa kể đến chuyện mớm cung, ép cung, bức cung, tra tấn, dùng nhục hình, chạy án... trong suốt quá trình tố tụng và nhiều hình thức khác trong thời gian người tù thi hành án.

Không mấy bận tâm về sứ mệnh của người bạn mới, tôi bị thôi thúc bởi mục tiêu tự đặt ra cho mình: phải chung sống hòa bình và thân thiện với cô ta.

Tôi chủ động bắt chuyện và nhờ Lý với tư cách người đến trước, chỉ bảo để tôi quen dần với nếp sinh hoạt mới. Lúc đầu, cô nàng đáp lại với thái độ không mấy nhiệt thành. Rồi không chịu được không khí nặng nề của nhà tù, Lý cũng phải chuyện trò với tôi.

Bị chuyển đi bất ngờ, tôi bị cắt xuất cơm chiều. Lý đưa cho tôi phong bánh lương khô. Tôi chỉ ăn hết một nửa, uống nước vào, cũng ngang dạ.

Buổi tối, tôi loay hoay không biết đi vệ sinh ở đâu. Lý chỉ vào cái bô để góc buồng, tôi đột nhiên rùng mình.

Trong cái hộp đựng tôi và Lý, không có vô tuyến, quạt máy, đồng hồ treo tường, nhà vệ sinh như ở buồng chung, vì thế càng ảm đạm.

Buồn quá! Tôi nhẹ cất tiếng hát.

Tôi cứ hát. Và một giọng hát ban đầu còn khẽ khàng, rụt rè rồi sau cứ lớn dần và hòa vào giọng hát của tôi. Lý, hay bất cứ ai dù mang sẵn một “âm mưu” với bạn tù thì vẫn cứ là một người tù mang trọn vẹn nỗi buồn thương, lo lắng, hoang mang vô tận.

Cô nàng khen tôi hát hay. Được khích lệ, tôi hát to hơn. Chúng tôi cùng hát với nhau. Lý hát dở nhưng cô ta tự nhiên hẳn, khác với thái độ dè dặt có phần khinh khỉnh lúc đầu.

Có tiếng người! Chúng tôi ngừng hát, giỏng tai nghe.

- Mình có hàng xóm chị ơi! Lý reo lên mừng rỡ.

- Hàng xóm nào? Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Bên cạnh có người, đàn ông hẳn hoi nhá. Em nghe rõ.

Gương mặt cô nàng rạng rỡ hẳn lên.

Lý dùng gót chân gõ mạnh vào bờ tường. Bên kia, một tiếng gõ trả lời.

- Nhà bên này chào nhà bên đấy nhá! Một giọng đàn ông vang vang.

Tự nhiên tôi thấy ngượng. Thế mà mình hát say sưa như chỗ không người. Bên kia lại tiếp tục còi (2) sang, bắt chuyện.

- Người ta đang hỏi tên chị kìa, trả lời đi! Lý giục.

- Thôi, chị ngại lắm.

Cô nàng khích lệ:

- Ngại gì, có nhìn thấy mặt nhau đâu mà ngại. Vào trong này không có bạn thì chỉ có chết vì buồn chán thôi chị ạ.

Tôi miễn cưởng trả lời:

- Thôi, em cứ giới thiệu đại chị tên là Hoa. Chị bị bệnh viêm thanh quản, không nói to được.

Trong suốt thời gian biệt giam, mọi người đều gọi tôi là Hoa, còn Lý sẽ dùng đại tên Liên, (sau này là Còi) do tôi bịa ra tặng cô nàng để tiện xưng hô với nhà hàng xóm. Từ hôm đó, Lý kiêm luôn vị trí “chủ hộ”, chịu mọi trách nhiệm từ đối nội như lấy cơm, rửa bát, giặt đồ lúc tôi đi cung đến công tác đối ngoại khi giao lưu với nhà hàng xóm. Cô nàng có vẻ phấn chấn với vai trò chủ hộ lắm.

Theo yêu cầu của nhà hàng xóm, tôi tiếp tục hát. Tôi nghĩ đến mẹ. Chắc mẹ sẽ cảm nhận được lời hát của tôi:

“Nơi đây tôi chờ, nơi kia anh chờ.
Trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ.
Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu,
Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù.
Chờ đã bao năm… chờ đã bao năm... chờ đã bao năm...”

Tiếng sụt sịt của Lý làm tôi ngừng hát.

Nhà hàng xóm khen tôi hát hay như một ca sĩ chuyên nghiệp. Chắc tại tôi hát bằng tâm trạng của mình, chạm được đến nỗi buồn của họ nên họ khen vậy thôi.

Lý lại làm người đại diện để cảm ơn. Thời gian đầu, tôi chưa quen với tiếng còi từ nhà hàng xóm nên Lý làm chân phiên dịch.

Hát mãi cũng chán. Hai chị em tôi mỗi đứa một bệ xi măng, nằm nghĩ miên man. Yên ắng quá! Tôi nghe rõ tiếng côn trùng và tiếng thằn lằn chắt lưỡi.

- Mười giờ rồi. Lý nói, giọng buồn tênh.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Sao em biết?

- Em vừa nghe tiếng bọn chòi (3) đổi gác. Ở đây hai tiếng đổi gác một lần.

- À ra thế!

Tôi đáp lại, cũng với giọng buồn tênh.

Phần vì nhớ nhà, phần vì muỗi đốt nên nằm mãi không sao chợp mắt được.

Lý đã cởi mở và gần gũi hơn nhất là sau khi phát hiện ra buồng giam bên cạnh có người. Nghĩ miên man một lúc, tôi lại gợi chuyện. Trong câu chuyện chúng tôi kể cho nhau nghe, cũng có lúc yên ắng như chưa từng có tiếng người.

- Mười hai giờ rồi chị ạ. Giọng Lý thều thào vì mệt và buồn ngủ.

- Ừ, chị cũng vừa nghe thấy tiếng đổi gác.

Tôi nằm quay mặt vào trong, tránh ánh điện. Bên cạnh, Lý vừa đập muỗi, vừa càu nhàu.

Tôi lấy quần áo quấn vào chân và cánh tay cho khỏi muỗi đốt. Nhưng cũng chỉ được một lúc là lại phải bỏ ra vì không chịu được nóng. Bỗng Lý bật dậy, tóc tai rối bù đứng chống nạnh, chửi:

- Tiên sư mấy con đĩ muỗi này, mày có cho các bà ngủ không thì bảo. Bà mà báo công an, chúng mày chết cả lũ.

Vừa nói, Lý vừa đập liên hồi vào không khí. Chẳng biết có trúng con muỗi nào không. Lúc này, tôi mới trông rõ mặt Lý. Hai mí mắt cô nàng sưng húp, không nhìn thấy lòng mắt đâu, môi nổi cục lên như quả chuối mắn. Không nhịn được, tôi phá lên cười.

- Chị cười cái gì mà cười. Chị trông lại mặt chị xem.

Lý đánh đố tôi. Tôi nhìn thấy mặt cô nàng chứ sao có thể tự nhìn thấy mặt mình. Tôi đưa tay lên mũi theo mô tả của Lý. Bọn muỗi ác thật, nó chơi ngay chỗ sống mũi tôi. Mũi tôi vốn tẹt, nó đốt mấy phát vào đó, thì mặt tôi biến dạng là đúng rồi.

Hai chị em cười như mếu, động viên nhau ngủ tiếp.

Chả nhẽ bọn côn trùng đáng ghét ấy không thể chung sống hòa bình với lũ tù chúng tôi hay sao. Da thịt người tự do vừa sạch sẽ vừa thơm tho sao nó không đốt, lại cứ nhằm vào lũ tù khốn khổ, hôi hám chúng tôi. Trong bốn năm tù, nhất là thời kỳ bị biệt giam, tôi không nhớ mình đã giết bao nhiêu con muỗi. Mà có phải mình tôi giết nó đâu. Người tù nào chả sát sinh lũ muỗi. Thế mà lũ ấy vẫn không giảm sút về dân số, vẫn cứ nhắm đến người tù mà hút máu. Có người bị muỗi đốt, nhiễm bệnh sốt rét mà chết.

Đêm biệt giam đầu tiên, rồi cũng qua. Sáng hôm sau, tôi lại đi cung. Trong thời gian ở Trần Phú, tôi chưa thấy người bạn tù nào đi cung nhiều như tôi, đến nỗi bọn cai tù còn ngạc nhiên. Lý bảo “bọn điều tra viên một ngày không gặp chị, chắc nó ăn không ngon ỉa không yên”. Lý đấy, sự gì cô nàng cũng liên tưởng, xiên xẹo sang chuyện thiếu tế nhị kia. Cô nàng bảo, nói thế nó mới sướng cái miệng.


Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

Phạm Thanh Nghiên - Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc



Phạm Thanh Nghiên - Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc










Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - “...Vụ Formosa là một thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, về quy mô cũng như về mức độ và tầm vóc của vấn đề... Tôi chưa xét đến di họa Formosa dưới góc độ môi trường, kinh tế, mà chỉ nói về văn hóa thôi, cũng đã thấy nó khủng khiếp thế nào! Nó ảnh hưởng đến văn hóa và công nghiệp du lịch của 4 tỉnh miền Trung, với hàng chục bãi biển đẹp và hàng triệu người dựa vào đó để sống. Giống nòi Việt Nam sẽ ra sao? Sẽ có bao nhiêu trẻ con đẻ ra sau những tháng năm này sẽ bị ảnh hưởng, còn hơn cả ảnh hưởng từ chất độc màu da cam. Người dân ngay bây giờ đã bị phù nề, lở loét mà mạng xã hội mấy hôm nay đã đưa hình ảnh.

Cá chết, biển chết. Ngư dân trở thành người đi xuất khẩu lao động. Biển chết và bị bỏ trống, biển vô chủ vì thiếu vắng những “cột mốc sống”... - TS. Nguyễn Xuân Diện.

*

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện sinh năm 1970 tại Làng cổ Đường Lâm, xứ Đoài, một ấp sinh hai vua là những vị anh hùng dân tộc đó là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Nguyễn Xuân Diện tốt nghiệp ngành Hán Nôm, ĐH Tổng hợp HN năm 1992; bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2007 về đề tài Ca trù. Đây cũng là luận án Tiến sĩ đầu tiên về Ca trù tại Việt Nam.

Từ sở học và hiểu biết của mình, TS Nguyễn Xuân Diện đã cất lên tiếng nói phản biện về nhiều mặt trong đời sống văn hóa nước nhà. Ông tham gia phản biện với tinh thần “tự nhiệm” và đầy kiêu hãnh của kẻ sĩ. Ông hầu như không vắng mặt trong các cuộc tưởng niệm, biểu tình ôn hòa tại Hà Nội từ năm 2011 đến nay để bày tỏ lòng yêu nước, phản đối nhà cầm quyền Bắc Kinh gây hấn trên Biển Đông, tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ; hoặc các cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh Hà Nội, bảo vệ biển Miền Trung mới đây.

TS. Nguyễn Xuân Diện là chủ trang Blog với hàng chục ngàn lượt truy cập mỗi ngày với tin bài phong phú, cập nhật, trung thực và khách quan, là nơi bạn đọc khắp trong và ngoài nước gửi gắm niềm tin tưởng và quý mến.

Mới đây, ông đã tự ra ứng cử đại biểu Quốc hội với mong muốn đem trí tuệ và tâm huyết để thực thi “quyền lực” của một đại biểu Quốc hội trước các vấn đề lớn của đất nước hôm nay. Rất tiếc là đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Mặt trận – một tổ chức ngoại vi của đảng đã loại ông ngay sau vòng hiệp thương thứ hai.

Phạm Thanh Nghiên có dịp trò chuyện cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện để thảo luận về một đề tài -rất tiếc, không nhiều người quan tâm, nhưng lại là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia: Văn hóa và tinh thần dân tộc.


Phạm Thanh Nghiên: Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, xin cảm ơn ông đã vui lòng dành cho tôi cuộc trò chuyện hôm nay.

Thưa ông, là một nhà nghiên cứu về Hán Nôm, về văn hóa và lịch sử, xin ông cho biết một cách khái quát về sự ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc đối với nước ta như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử?


TS. Nguyễn Xuân Diện: Trước hết xin cám ơn cô Thanh Nghiên đã hỏi đến tôi, và lại hỏi về một vấn đề mà tôi có chút hiểu biết, có quan tâm.

Về ảnh hưởng của văn hóa Phương Bắc, mà ở đây là văn hóa Trung Hoa, thì đây là vấn đề thuộc về quy luật. Các nền văn hóa lớn, lâu đời luôn ảnh hưởng lớn mạnh và sâu rộng ra chung quanh nó. Văn hóa Trung Hoa do vậy, có sức ảnh hưởng ghê gớm tới chung quanh như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Một trong những ảnh hưởng lớn nhất, mang tính quyết định là ảnh hưởng của chữ Hán đến các nước vừa kể, và từ đó người ta gọi chung các nước có sử dụng chữ Hán là các nước trong khối “chữ vuông”(tức mỗi chữ được trình bày trong một ô vuông).

Chữ Hán là một văn tự lâu đời. Từ chữ Hán đã làm xuất hiện những đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa và thế giới như: Sở từ, Hán phú, Đường thi, từ Tống, tiểu thuyết Minh Thanh, nghệ thuật thư pháp...

Do điều kiện lịch sử, chữ Hán đã được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, rồi từ đó lại tiếp tục được sinh sôi tạo nên các chữ viết mới mà chữ Nôm của người Việt Nam là một ví dụ (chúng ta có chữ Nôm - Việt, chữ Nôm - Tày, chữ Nôm - Dao…). Ngôn ngữ Hán văn khi truyền sang Việt Nam, đến nay vẫn còn giữ được âm đọc từ thời Đường, giàu có về âm sắc và thâm trầm về ý nghĩa. Cách sử dụng và cách đọc chữ Hán của người Việt tạo nên từ Hán Việt rất riêng của Việt Nam và từ đó dòng văn học chữ Hán và dòng văn học chữ Nôm hình thành và phát triển, tạo nên các tác phẩm và tác gia văn học lớn.

Với hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam đã bị áp đặt hoặc tự áp đặt cho mình một mô hình nhà nước theo mẫu của Trung Hoa. Đó là điều khó tránh khỏi!


Phạm Thanh Nghiên: Có nghĩa là tuy chịu sự ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, nhưng người phương Bắc đã không thể thống trị được người Việt. Vậy ông lý giải thế nào về sức đề kháng của văn hóa Việt trước sự xâm lăng của văn hóa Tàu?


Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Đúng rồi, thưa cô! Trong lịch sử, cứ mỗi lần có một triều đình, một nhà nước chủ trương xa rời và “ly khai” với ảnh hưởng Trung Hoa thì khi ấy tinh thần phi Hoa, giải Hoa mạnh mẽ lan tỏa trong lòng xã hội, và khi ấy đất nước được độc lập thực sự, văn hóa và tư tưởng khai phóng và nhiều thành tựu.

Thời đại Lý - Trần (thế kỷ XI – XIII) nước Đại Việt học mô hình chính trị Trung Hoa, nhưng có nhiều sáng tạo, nhiều thành tựu, nhiều thành công là bởi vì Lý - Trần là thời đại của Đa nguyên và Khai phóng.

Đa nguyên về chính trị (các thủ lĩnh tôn giáo Nho - Phật - Lão được vua mời vào cung bàn chính sự và tham khảo kế sách). Đa nguyên về tôn giáo (Nho - Thích - Đạo tịnh hành, cùng phát triển); Đa nguyên về văn hóa (Văn hóa Lý - Trần tiếp thu từ Trung Hoa - Ấn Độ và Chàm).

Chính Đa nguyên và Khai phóng khiến cho thời đại Lý -Trần trở thành một thời đại hoàng kim trong lịch sử trung đại Việt Nam.

Tóm lại, ảnh hưởng về văn hóa của Trung Quốc đối với ta là tất yếu. Nhưng tự thân sự ảnh hưởng này đã bao gồm sự tương tác qua lại, và sự tiếp biến văn hóa (tức là làm mới, làm khác). Chữ Nôm, thơ Nôm song thất lục bát, ẩm thực, ăn vận, điêu khắc đình làng…là những sáng tạo đặc biệt, riêng khác và độc lập với văn hóa Trung Hoa. Chính nhờ đó mà văn hóa Việt Nam giữ được bản sắc riêng, và tạo nên sức đề kháng và sức mạnh nội sinh mà văn hóa dân tộc ta không bị đồng hóa, thôn tính. Tức là có lúc mất nước, nhưng không mất văn hóa.

Về thể chế, nếu triều đại nào có vua sáng, tôi hiền thì biết vực cả nước đứng lên độc lập, đối thoại với Trung Hoa không chỉ biên cương, bờ cõi mà còn cả về văn hóa, phong tục và ngôn ngữ. Thời đại Lý Trần thế kỷ XI – XIII và thời đại Lê – Trịnh thế kỷ XVII – XVIII là ví dụ. Thời Nguyễn thì ta rập khuôn theo Tàu, thậm chí còn “Tàu hơn cả Tàu” nữa, vì vua lú, tôi ngu nên cuối cùng đất nước mất vào tay thực dân Pháp.


Phạm Thanh Nghiên: Có nhiều ý kiến cho rằng, kể từ khi đảng CSVN lên cầm quyền thì người Việt chúng ta đã trở nên lạc hậu về văn hóa và sa sút về tinh thần- cái tinh thần dân tộc vốn là niềm kiêu hãnh của chúng ta suốt chiều dài lịch sử. Tiến sĩ nghĩ sao về ý kiến này?


TS Nguyễn Xuân Diện: Thưa cô, người cộng sản thì vô thần, và tinh thần dân tộc thì đặt dưới tinh thần quốc tế vô sản. Vô thần thì đền chùa, đình miếu, nhà thờ họ … phải đập bỏ vì tôn giáo và tín ngưỡng là “thuốc phiện” của nhân dân lao động. Tinh thần quốc tế vô sản học theo Trung Quốc và dưới sự bảo kê của Liên Xô nên mới có cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất.

Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc để lại hậu quả vô cùng lớn đối với văn hóa cố truyền khi chính quyền hô hào đạp đổ tầng lớp địa chủ và trí thức cũ, quét bỏ những "tàn dư phong kiến". Về mặt văn hóa thì nhiều sách vở chữ Nho và chữ Nôm, hoành phi, câu đối của những gia tộc quyền thế bị đốt, đình, chùa, đền, miếu bị hủy hoại. Về giá trị truyền thống thì quan hệ trong nhiều gia đình, xóm giềng bị phá vỡ do những cảnh con cái tố khổ cha mẹ, láng giềng làm hại lẫn nhau khiến đạo lý cổ truyền suy sụp. Về nòi giống thì 220 ngàn người bị chết hoặc mất tích trong cải cách ruộng đất, sau các cuộc đấu tố tàn độc. Họ là những ai? Họ chính là những cá thể có trí tuệ và giàu kinh nghiệm trong việc làm giàu. Các cá thể ấy được như vậy là do họ được di truyền trong những dòng giống khoa bảng, những gia tộc nền nếp gia phong. Nghe theo Trung Quốc thực hiện cải cách ruộng đất là tiếp tục thực hiện chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” do Tổng bí thư Trần Phú (lúc 26 tuổi) đề ra, tiêu diệt hết tầng lớp tinh hoa, ưu tú của dân tộc.

Cảnh đấu tố ấy, mấy năm gần đây cơ hồ quay lại, với việc đấu tố cô Nhã Thuyên, đấu tố các ứng viên đại biểu Quốc hội, và gần đây nhất là đấu tố MC Phan Anh…

Tiêu thổ kháng chiến chống Pháp 9 năm đã khiến người dân đốt cháy biết bao đình chùa đền miếu. Đó chính là những bảo tàng sống động về văn hóa. Chúng ta mất bao nhiêu di sản khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được ban ra?

Và rồi ngay sau đó là hợp tác hóa nông nghiệp. Người ta hùng hổ phá bỏ đền chùa, đình miếu, lấy hoành phi, câu đối làm bàn ghế, lấy bia đá để đập lúa, bắc cầu, v.v... Bài học cay đắng đó, đến nay còn hằn in trong ký ức nhiều người!

Nhưng, đã có người thấy hân hoan khi chùa lớn, tượng to, nhà thờ khủng đang được xây dựng lại khắp nơi từ nam chí bắc. Xin thưa, những nơi to lớn ấy như Bái Đính, Đại Nam Lạc cảnh nơi thì như bản sao của Tàu, nơi thì quá phô trương, kệch cỡm, khác xa truyền thống Việt.

Cách đây 10-15 năm, một số người giàu có kết hợp với các quan chức coi việc trùng tu hoặc nâng cấp mở ra các chùa chiền đấy là cách làm ăn, kinh doanh của họ. Họ chỉ mượn các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để kinh doanh, đây là mối lợi béo bở giữa các thế lực chức sắc tôn giáo, các doanh nghiệp giàu có và các quan chức từ trung ương đến địa phương. Ba thế lực chân vạc này nó tạo nên những cái khu du lịch Bái Đính ở Ninh Bình và Đại Nam Lạc Cảnh ở Bình Dương và sắp tới đây là khu tháp Phật ở Thái Nguyên…


Phạm Thanh Nghiên: Còn các di sản phi vật thể thì sao, thưa ông?


TS Nguyễn Xuân Diện: Xin đơn cử về lễ hội. Xuất hiện cả một phong trào sân khấu hóa lễ hội, đã làm biến dạng và tha hóa các giá trị của lễ hội.

Nước ta đang dấy lên chuyện tâm linh, nhưng toàn cổ xúy cho những lệch lạc, mê lầm.

Đáng lẽ đền Trần là nơi giáo dục hào khí Đông A và tinh thần yêu nước thì thành ra nơi cổ xúy chuyện ấn triện, thăng tiến và lợi lộc, mua quan bán chức. Ấn đền Trần Nam Định, Thái Bình, rồi ấn Hoàng thành Thăng Long, và vừa rồi là ấn đền Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa nữa.

Đáng lẽ đền Trần Thương, đền Bà Chúa Kho là nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước thì thành ra nơi mặc cả vay mượn, mua bán quàng xiên.

Đáng lẽ lễ Tịch điền, đàn Xã Tắc là nơi giáo dục lòng biết trọng nông thuần phác thì lại thành ra nơi lòe loẹt, cờ đèn kèn trống.

Lễ hội đang dẫn cả dân tộc này đi lạc đường! Dân ta đang được dẫn vào bến lú sông mê. Và nhà cầm quyền không giải được các bài toán hiện tại, bất lực, đành để cho dân xuống con thuyền lễ hội và tín ngưỡng đi vào bến lú sông mê, quên hết... quên hết...


Phạm Thanh Nghiên: Thưa Tiến sĩ, nếu cần lựa chọn một sự kiện thời sự cụ thể để “định hình” tinh thần Việt, tôi nghĩ đó là sự kiện Formosa. Liệu người dân VN có đủ sức để đẩy lùi thủ phạm gây ra nạn ô nhiễm môi trường mà hậu quả của nó ảnh hưởng lâu dài đến tương lai chúng ta và nòi giống Lạc Hồng?


TS Nguyễn Xuân Diện: Cô làm tôi giật mình trở về với thực tại rồi đấy! Vụ Formosa là một thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, về quy mô cũng như về mức độ và tầm vóc của vấn đề. Tôi chưa xét đến di họa Formosa dưới góc độ môi trường, kinh tế, mà chỉ nói về văn hóa thôi, cũng đã thấy nó khủng khiếp thế nào!

Nó ảnh hưởng đến văn hóa và công nghiệp du lịch của 4 tỉnh miền Trung, với hàng chục bãi biển đẹp và hàng triệu người dựa vào đó để sống. Giống nòi Việt Nam sẽ ra sao? Sẽ có bao nhiêu trẻ con đẻ ra sau những tháng năm này sẽ bị ảnh hưởng, còn hơn cả ảnh hưởng từ chất độc màu da cam. Người dân ngay bây giờ đã bị phù nề, lở loét mà mạng xã hội mấy hôm nay đã đưa hình ảnh.

Cá chết, biển chết. Ngư dân trở thành người đi xuất khẩu lao động. Biển chết và bị bỏ trống, biển vô chủ vì thiếu vắng những “cột mốc sống”.

500 triệu đô la Mỹ mà Chính phủ loan báo là Formosa bồi thường, đến nay ai đã trông thấy đồng nào? Có lẽ là Chính phủ và các bộ ngành cũng chưa dám thò tay nhận những đồng tiền này, vì mấy nhẽ: Thứ nhất: Dựa vào đâu, dựa vào đánh giá nào và căn cứ pháp lý nào để nhận số tiền đó. Nhận sẽ bị Formosa kiện thẳng thừng, và khi ấy chính phủ Việt Nam có đủ mo nang để che mặt không?; Thứ nhì: Cầm số tiền đó mà bán cả mấy trăm cây số biển Miền trung, là nồi cơm của hàng chục triệu con người, mà mạng sống của họ hiện nay còn chưa biết là sẽ ra sao, vì chất độc còn chưa phát tác ra thành ung thư, dịch bệnh, thương tật… thì có xứng và có dám cầm không?

Tóm lại, mệnh lệnh của tổ tiên chúng ta là hãy giữ cho bằng được di sản của tổ tiên. Không có một món tiền nào có thể mua được sinh mệnh của mấy chục triệu người con đất Việt dải đất miền Trung. Không có một nhà máy thép nào có thể cho hàng triệu ngư dân cuộc sống như là biển cả.

Vì vậy, chắc chắn người dân Miền Trung sẽ khước từ mấy triệu đồng gọi là bồi thường của Formosa vì cái họ cần là biển sạch, là tôm cá đầy khoang mỗi khi thuyền về bến. Và như vậy chỉ có cách là phải yêu cầu chính phủ Việt Nam đóng cửa và chấm dứt hoạt động của Formosa, yêu cầu Formosa phục hồi các miền biển chết cho đến khi trở lại bình thường.


Phạm Thanh Nghiên: Thưa Tiến sĩ, xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện hôm nay. Mong rằng lại có dịp được gặp gỡ ông trong các chủ đề khác. Xin chúc ông dồi dào sức khỏe và bền chí trong công cuộc giữ gìn văn hóa dân tộc.