Hiển thị các bài đăng có nhãn Song Chi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Song Chi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Song Chi - Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN



Song Chi - Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN






khach-san-caravelle.jpg
Khách sạn Caravelle - Sài Gòn




Bài báo thứ nhất “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” đăng ngày 15.2 trên báo Tuổi Trẻ. Đọc xong tự hỏi: Không hiểu sao đến giờ này mà họ còn tự hào về những chuyện như thế này?

Đánh bom một khách sạn ngay giữa trung tâm thành phố, mặc dù viện cớ là “nơi quan chức Mỹ và Việt Nam cộng hòa thường lui tới hội họp” nhưng cũng có rất nhiều nhà báo nước ngoài, dân thường…rõ ràng là coi thường sinh mạng con người, mà mục đích chỉ là “để đối phương không đắc chí”, nhưng thật ra là đánh ai?

“Có điều việc nổ bom hôm đó đã không như dự kiến bởi hầu hết các nhà báo ở khách sạn Caravelle thay vì đi ăn trưa và sẽ lãnh trọn sức nổ của trái bom, thì họ lại bận rộn theo dõi và tường thuật vụ sinh viên đòi Nguyễn Khánh phải từ chức!”

Đánh bom cả những nhà báo quốc tế, những người chỉ làm công việc của họ là đưa tin về những gì đang diễn ra? Như vậy mục đích thật sự là lấy tiếng, đồng thời gây tâm lý hoang mang xáo trộn trong người dân và phá hoại cuộc sống bình thường ở các đô thị miền Nam, bất chấp sinh mạng những người vô tội, không liên can.

Ai sống ở miền Nam thời hai miền Nam Bắc đánh nhau hẳn còn nhớ, những vụ đánh bom, ám sát…thường xuyên xảy ra tại Sài Gòn và các đô thị miền Nam, tại những nơi đông người như khách sạn, rạp hát, nhà hàng… Điển hình là vụ đánh bom Câu lạc bộ Gôn Sài Gòn năm 1960, vụ rạp hát Kinh Đô bị đánh bom năm 1964, khách sạn Caravelle bị đặt bom năm 1964, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị đặt bom năm 1965, vụ trường tiểu học Cai Lậy (Tiền Giang) bị trúng đạn pháo kích năm 1973…

Một số vụ ám sát như Nguyễn Văn Trỗi đặt bom trên cầu Công Lý, dự định ám sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1963, ám sát ký giả Từ Chung của tờ Chính Luận năm 1965, ám sát Nguyễn Xuân Chữ, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh tâm lý năm 1966, ám sát Trần Văn Văn, Chủ tịch Quốc hội Sài Gòn năm 1966, ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh năm 1971... Ở nông thôn thì đặt mìn, giật sập cầu, phá đường…biết bao nhiêu dân thường phải chết oan.

Những việc làm này có khác gì với những hành động khủng bố của các tổ chức Hồi giáo cực đoan bây giờ? Đừng viện lý do thời chiến tranh. Chiến tranh, hai bên nã súng, ném bom vào nhau ngoài chiến trường là chuyện khác, còn đặt bom, gài mìn, pháo kích vào những chỗ đông người giết hại cả dân thường là khủng bố. Nhưng nếu người miền Nam nói thì người dân miền Bắc hoặc các thế hệ sinh sau đẻ muộn lại không tin, chỉ khi báo chí chính thức hả hê kể lại chiến công như thế này “Những trận đánh nổi danh 'Biệt động Sài Gòn' (báo CAND), “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” (Dân Việt) hay bây giờ là bài này, “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” (Tuổi Trẻ) v.v… thì khỏi còn tranh cãi chuyện có thật hay không nữa!

Bài báo thứ hai “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” được báo Tiền Phong đăng lại ngày 19.2 theo nguồn báo An Ninh Thế Giới. Thật ra những loại bài viết ca tụng chiến công “cách mạng”, ca tụng những con người “cách mạng” này lúc nào cũng đầy dẫy trên những tờ báo đậm đặc tính đảng như báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Công An TP.HCM, An Ninh Thế Giới…Không sao kể xiết. Chỉ là nhân tiện đọc và có những suy nghĩ về hai bài báo này mà thôi.

Bài “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” viết về nhân vật Hòa thượng Thích Viên Hảo, từng là trụ trì tại chùa Tam Bảo ở đường Dương Công Trường, quận 10, SG, rồi trụ trì Chùa Thiện Hạnh, nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1, SG cho đến ngày viên tịch 15.7.2005.

Theo bài báo, Hòa thượng Thích Viên Hảo là người tu hành, nhưng lại tham gia “cách mạng”, tham gia biệt động thành, một tổ chức của Việt Cộng trước đây chuyên hoạt động ngầm trong lòng chế độ VNCH từ dò la, do thám tin tức tình báo cho tới đặt bom, gài mìn, ám sát…các nhân vật có liên quan đến Mỹ và chính quyền VNCH nhưng thường cũng gây ra cái chết cho bao nhiêu dân thường vô tội như vừa nói trên. Nhân vật trong bài báo “đi đó đây hành phật sự, gặp các phật tử, đến các chùa… tụng kinh, niệm Phật và thuyết pháp nhưng đó chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Thực chất ông đã trở thành chiến sĩ hoạt động cách mạng, có nhiệm vụ dò la địch tình, giao nhận tin tức tình báo…”, còn ngôi chùa Tam Bảo thì “đã trở thành nơi đi về, hội họp bí mật của đội biệt động thành trong một thời gian dài.”

Trong vụ Mậu Thân 1968, vị sư này ”vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho cơ sở nội thành tập kết chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Rất nhiều lần, nhà sư dùng xe gắn máy đi Củ Chi chở chất nổ, súng K54, súng và đạn cối 81 ly”

Đã đi tu, thấm nhuần tư tưởng triết lý của Phật giáo, thế nhưng Hòa thượng Thích Viên Hảo đã phạm luôn những giới luật hết sức nghiêm trọng của đạo Phật. Một là gian dối, khi dùng vỏ bọc tu hành để đi hoạt động tình báo, biến những hoạt động giảng giải Phật pháp thành chuyện khác, biến ngôi chùa thành nơi trú ẩn của biệt động thành…Hai là sát sanh, nhà sư tất thừa biết đạo Phật ngăn cấm sát sanh dù chỉ là một con kiến con muỗi, thế nhưng lại chở vũ khí, lên sơ đồ các trận đánh để giết người, cho dù lúc đó ông ta tin rằng đó là kẻ thù, là địch. Không chỉ thế, cả đời nhà sư hoạt động chính trị, được “thưởng nhiều huân chương cao quý của đảng cộng sản” cho đến tận ngày qua đời.

Bài báo này, cũng như bài báo trên Tuổi Trẻ nói trên và rất nhiều bài báo khác nữa, đã tự mình tố cáo những việc làm của đảng cộng sản VN trước đây, đó là đánh phá chế độ VNCH từ trong lòng phá ra, và không từ bất cứ một biện pháp nào từ đặt bom, gài mìn, ám sát, chuẩn bị cho vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968, với âm mưu sẽ tổ chức tấn công bất ngờ vào dịp Tết là dịp mà trong nhiều năm hai bên đã có thỏa thuận không chính thức ngừng bắn 3 ngày Tết để đồng bào vui Xuân. Bài báo vẫn tiếp tục ca ngợi những “chiến công” trong cuộc chiến với Mỹ và với miền Nam VN, vẫn gọi là “địch”, là “chúng”…với giọng điệu căm thù.




VC phao vao truong hoc cailay.jpg
Việt Cộng  pháo vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9/3/1974 giết chết 32 em học sinh, 43 em học sinh khác bị thương




Trong suốt thời gian chiến tranh và hơn 40 năm qua, năm nào đảng và nhà nước cộng sản VN cũng tổ chức kỷ niệm, ăn mừng tưng bừng, trọng thể những dịp có liên quan đến cuộc chiến với Mỹ và VNCH, nhất là ngày 30.4. Báo chí truyền thông vẫn được huy động thường xuyên để nhắc nhớ đến chiến thắng của đảng, đến tội ác của “địch”, những cuốn sách, bộ phim về đề tài này vẫn tiếp tục ra đời…như muốn người dân đừng quên.

Một tỷ lệ khác biệt rất lớn cả về quy mô, số lượng và chất lượng tuyên truyền nếu so với việc nhắc nhở đến cuộc chiến tranh biên giới 1979, 1984, hải chiến Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988… với Trung Cộng. Trong khi trên thực tế chế độ VNCH đã “chết” từ lâu không còn là một mối đe dọa nữa, quan hệ Việt-Mỹ đã trở thành bình thường từ nhiều năm qua, thậm chí nhà nước VN còn đang phải trông cậy ở Mỹ rất nhiều để đối phó với mối nguy bị xâm phạm chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải từ phía Trung Cộng. Ngược lại, Trung Cộng trước đây và hiện nay vẫn luôn và đang là mối đe dọa lớn nhất, kẻ thù thường trực và thâm độc nhất của VN.

Nếu VN lại phải có một cuộc chiến tranh nào xảy ra trong tương lai thì chắc chắn sẽ là cuộc chiến tranh với Trung Quốc chứ không phải với Mỹ, càng không phải với VNCH đã chết. Vậy nhưng nhà nước cộng sản VN lại sử dụng rất ít công sức, nguồn lực cho sự tuyên truyền về những hành động của Trung Quốc trong quá khứ và hiện tại. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 trong rất nhiều năm không hề được nhắc tới một cách công khai, năm nay tuy báo chí đã nhắc tới nhưng vẫn không phải là nhiều, những hành động biểu tình tưởng niệm cuộc chiến này, tưởng niệm việc mất Hoàng Sa Trường Sa hay phản đối những hành động hung hăng, xâm phạm chủ quyền, quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc của người dân đều bị ngăn cấm, đàn áp, nhiều người còn bị bỏ tù, bị trù dập, xách nhiễu…

Liệu có thể xem đó là những hành động khôn ngoan về mặt ngoại giao, bảo vệ chủ quyền của đảng và nhà nước cộng sản VN?

Và đối với mấy triệu người Việt rời nước ra đi vì lý do không chấp nhận chế độ cộng sản, liệu họ có tin tưởng nổi vào những lời nói ngon nói ngọt “xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải” của nhà cầm quyền khi báo chí nhà nước vẫn cứ ngùn ngụt căm thù chế độ VNCH như thế?

Còn đối với người dân trong nước, thời buổi bây giờ không phải như trước đây vài chục năm, mười năm, khi người dân hầu hết còn bị bịt mắt bịt tai tin vào những luận điệu tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật của đảng và nhà nước cộng sản. Khi báo chí nhà nước hồ hởi kể lại những hành động khủng bố thời xưa, hay tự thừa nhận những huyền thoại một thời từ Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Trỗi…là không có thật hoặc có những chi tiết không đúng, hoặc được tô vẽ quá nhiều…thì chính là nhà nước này đã tự vả vào mặt mình, củng cố những điều mà người dân đã không còn tin từ lâu.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Song Chi - Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em R.I.P



Song Chi - Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em R.I.P





Cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư ấy đã chết sau hai tháng bị tạm giam, bị bạo hành tàn nhẫn bởi công an chỉ vì bị nghi trộm một món tiền nhỏ, 2.000.000 VNĐ, tức chưa đến 100USD.




Nỗi đau của người mẹ nghe con ra đi tại bệnh viện Bạch Mai.




Chỉ một vụ tự thiêu của người thanh niên bán rau Mohamed Bouazizi vào tháng 10 năm 2010 đã châm ngòi cho cuộc Cách mạng Tunisia và sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia Ả Rập khác, còn ở đất nước này?

Đã có nhiều người tự thiêu như vụ tự thiêu của kỹ sư Phạm Thành Sơn, 31 tuổi, ngày 17.2.2011 trước cửa UBND TP. Đà Nẵng để bày tỏ sự phẫn uất khi mọi khiếu nại về tình trạng cưỡng chiếm đất đai, nạn tham nhũng không được giới hữu trách giải quyết; hay vụ tự thiêu ngày 30.7. 2012 trước cửa UBND tỉnh Bạc Liêu của mẹ nhà báo, cựu tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần vì tranh chấp đất đai nhà cửa với người hàng xóm, đi làm đơn thưa kiện mà không được giải quyết thỏa đáng lại thêm suy nghĩ, uất ức vì con gái bị cầm tù…

Đã có nhiều người bị công an bạo hành đến chết trong thời gian bị tạm giam, lắm khi chỉ vì những lý do rất nhỏ, như vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, bị bắt vào công an huyện Tân Yên, Bắc Giang, chỉ mấy giờ sau, chết trong đồn công an! Ngày 28.2.2011, ông Trịnh Xuân Tùng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đến ga Giáp Bát, Hà Nội, bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Đến tối ông Tùng bị bầm dập khắp người, tê liệt toàn thân, tám ngày sau ông chết tại Bệnh Viện. Ngày 25.4.2011, anh Nguyễn Công Nhựt được phát hiện chết trong tư thế treo cổ ở trụ sở CA huyện Bến Cát, Bình Dương sau mấy ngày bị mời về trụ sở CA huyện để làm sáng tỏ vụ mất trộm hàng ngàn lốp xe ôtô xảy ra tại Công ty nơi anh làm việc v.v…Cho tới những vụ có dính dáng tới cưỡng chế đất đai như cái chết của ông Nguyễn Thành Năm ở Giáo xứ Cồn Dầu, thành phố Đà Nẵng, chết tại nhà một ngày sau khi bị dân phòng tạm giữ và đánh đâp, ngày 2.7.2010…

Cũng vì bị thu hồi đất, đã có những người phải vào tù vì đường cùng phẫn uất chống lại cường quyền như anh em ông Đoàn Văn Vươn... Có người liều mạng đổi mạng như anh Đặng Ngọc Viết, đã nổ súng vào 5 cán bộ giải phóng mặt bằng tại trụ sở UBND Tỉnh Thái Bình sau đó tự sát, ngày 11.9.2013…

Và còn rất nhiều nữa, những cái chết oan khuất khác trong những năm qua. Nhưng vẫn sẽ chẳng có gì xảy ra.

Và bây giờ là cái chết của cậu bé Đỗ Đăng Dư…Rồi cũng sẽ chẳng có gi xảy ra.

Phải cần thêm bao nhiêu cái chết nữa, bao nhiêu oan khuất nữa thì đủ cho dân tộc này thức tỉnh và đứng dậy?

Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em RIP, Đỗ Đăng Dư. Tôi cũng không cầu chúc cho tất cả những ai chết oan ức vì bạo quyền, vì sự tàn ác của những kẻ đang nắm trong tay quyền sinh quyền sát trên đất nước này, ba chữ R.I.P. Tôi cũng không mong những linh hồn oan khuất đó trở về để báo oán những kẻ đã gián tiếp hay trực tiếp đẩy họ vào con đường chết, bởi những kẻ đó có chết đi thì cũng sẽ có những kẻ khác ngoi lên khi hệ thống này còn tồn tại.

Tôi mong những linh hồn oan khuất đó, cách này cách khác trở về để nhắc nhở trong những ai còn đang sống rằng vì sao chúng tôi chết? Rằng hôm qua, hôm nay là chúng tôi, ngày mai có thể sẽ là con, là cha, là chồng, anh chị em, con cháu hoặc ngay chính bản thân anh/chị/bạn sẽ rơi vào trường hợp oan khuất ấy, nếu như tất cả vẫn tiếp tục lặng thinh, lo cho cái tổ của chính mình, mặc kệ mọi chuyện, mặc kệ cho cái ác cái xấu hoàng hành trên đất nước này suốt 7 thập niên qua.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Song Chi - Từ Hong Kong nhìn lại Việt Nam


Song Chi - Từ Hong Kong nhìn lại Việt Nam






Hong Kong4.jpg



Những ngày này tin tức về cuộc biểu tình lớn nhất từ hơn hai thập kỷ qua ở Hong Kong thường xuyên xuất hiện trên các báo, đài truyền hình quốc tế. Cũng như các nước khác, rất nhiều người Việt Nam đang dõi theo tình hình ở Hong Kong. Không chỉ báo chí “lề trái”, ngay cả một số tờ báo nhà nước cũng đưa tin về phong trào biểu tình của sinh viên, học sinh Hong Kong. Trên các trang mạng xã hội, những người Việt Nam yêu thích tự do, dân chủ liên tục cập nhật tin tức và có những status, bài viết, bình luận về sự kiện này.

Vốn có một niềm ác cảm chung với chế độ độc tài toàn trị ngạo mạn của Trung Quốc, những người VN yêu thích tự do, dân chủ lập tức bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ đối với tinh thần dũng cảm, cách tổ chức biểu tình đầy khoa học, sự đoàn kết của sinh viên, học sinh và người dân Hong Kong. Đặc biệt là bản lĩnh, trí tuệ của giới trẻ Hong Kong khi họ biết rất rõ mình muốn gì, họ đấu tranh mạnh mẽ nhưng tỉnh táo, không để phạm sai lầm, bị gài bẫy bạo loạn, họ trả lời phỏng vấn trôi chảy. Và trong số họ có những khuôn mặt thủ lĩnh chỉ mới 17 tuổi như Joshua Wong (Hoàng Chi Phong) và cả những em học sinh 12, 13 tuổi.




Hong Kong5.jpg



Phong trào biểu tình bất tuân dân sự ở Hong Kong rõ ràng đã tạo cảm hứng và cả niềm hy vọng cho những người Việt Nam còn nặng lòng với vận mệnh của đất nước. Trong sự ngưỡng mộ, có cả nỗi ngậm ngùi cảm thán cho tinh thần của người VN và một câu hỏi nhức nhối trong tâm trí, trên môi và trên đầu ngọn bút của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo, mỗi blogger VN: “Bao giờ cho đến VN? Bao giờ thì người VN mới thức tỉnh, đứng lên vì vận mệnh của đất nước, dân tộc, vì tương lai của chính mình, con cháu mình?”

Người dân các quốc gia Đông Âu đã đứng lên, người dân các quốc gia Bắc Phi và Ả Rập vùng Trung Đông đã đứng lên, người Ukraina đã đứng lên, quyết định thay đổi con đường đi, thay đổi vận mệnh của đất nước, dân tộc. Người Duy Ngô Nhĩ- Tân Cương, người Tây Tạng và và bây giờ là người dân Hong Kong…đã xuống đường, chống lại sự độc tài, mỗi dân tộc một phương pháp khác nhau, thậm chí bằng cái cách tuyệt vọng nhất như người Tây Tạng. Ít nhất, các dân tộc ấy đã cho thế giới thấy họ nghĩ gì, muốn gì. Và ngay cả dân Trung Quốc, với sự kiện Thiên An Môn đẫm máu…


Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

Song Chi - Những phiên tòa nối tiếp phiên tòa



Song Chi - Những phiên tòa nối tiếp phiên tòa





Vào ngày 10 tháng 9, 2008, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Ðiếu Cày đã bị Tòa Án Nhân Dân TP.HCM kết án 30 tháng tù vì tội “trốn thuế.”




Bà Bùi Thị Minh Hằng tại tòa án tỉnh Ðồng Tháp hôm 26 tháng 8.
(Hình: Dân Luận)



Nhưng những người hiểu chuyện đều biết, Ðiếu Cày bị tù vì đã dám lên tiếng trước những bất công oan trái của xã hội, quan trọng hơn, dám chống Tàu!

Cùng với các sinh viên, văn nghệ sĩ và bạn bè trong nhóm “Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do” Ðiếu Cày đã dám viết lên những chữ “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam,” dám biểu tình kỷ niệm 34 năm ngày mất Hoàng Sa 19 tháng 1, 1974 - 19 tháng 1, 2008, ngay trước cửa Nhà Hát Thành Phố. Khi mà trận hải chiến Hoàng Sa còn là điều “nhạy cảm” không được công khai nhắc đến, đối với nhà cầm quyền lúc bấy giờ.

Ðến tháng 10, 2010, lẽ ra Ðiếu Cày phải được trả tự do nhưng bản án của ông lại bị gia hạn để “điều tra thêm.” Và rồi tháng 4, 2012 ông bị tòa án xét xử thêm về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo Ðiều 88 Bộ Luật Hình Sự, cùng với nhà báo Tạ Phong Tần tức Blogger Công Lý và Sự Thật, và Luật Gia Phan Thanh Hải tức Blogger Anh Ba Sài Gòn.

Ông Nguyễn Văn Hải bị kết án 12 năm tù, bà Tạ Phong Tần 10 năm còn ông Phan Thanh Hải nhẹ nhất với 3 năm tù.

Sáu năm sau, ngày 26 tháng 8, 2014, một phiên tòa bỏ túi khác diễn ra tại Tòa Án Nhân Dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp, xử ba nhà tranh đấu Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh. Kết quả bà Bùi Thị Minh Hằng 3 năm tù giam, anh Nguyễn Văn Minh 2 năm rưỡi và cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh 2 năm, về tội “gây rối trật tự công cộng khiến ách tắc giao thông nghiêm trọng.”

Và giữa hai phiên tòa này là những phiên tòa ô nhục khác, trong những vụ án có tính chất chính trị hay đàn áp tôn giáo, với lần lượt nhiều người theo nhau đi vào nhà tù nhỏ. Từ giới luật sư, kỹ sư, doanh nhân, nhà báo, blogger cho tới dân thường, các thanh niên Công Giáo, Tin Lành, phật tử của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, người dân tộc thiểu số...

Người bị kết án nặng 16 năm như Kỹ Sư Trần Huỳnh Duy Thức, 12 năm như blogger Ðiếu Cày, người nhẹ cũng hai, ba năm.

Nhưng có những lý do khiến bài viết này phải nhắc đến bản án của blogger Ðiếu Cày, người đầu tiên bị tù vì những gì đã viết và đăng tải trên mạng, và vụ vừa mới xảy ra của nhà hoạt động nhân quyền Bùi Thị Minh Hằng.

Thứ nhất, vì một số điểm chung giữa họ. Cả hai, ông Nguyễn Văn Hải hay bà Bùi Thị Minh Hằng đều là những người dân bình thường, sinh ra và lớn lên trong môi trường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trước đó đang có một cuộc sống kinh tế khá thoải mái, sung túc do tự kinh doanh.

Cả hai, do vậy, không có gốc gác con em “ngụy quân ngụy quyền” để có thể có mối thù riêng với chính quyền, cũng chẳng nhờ kiến thức sách vở hàn lâm mà hiểu ra những chủ trương, chính sách sai lầm của nhà cầm quyền.

Chính từ thực tế cuộc sống, những oan ức của người dân, những bất công phi lý trong xã hội khiến họ cũng như rất nhiều người Việt Nam khác nhìn ra sự thật. Và từ lòng yêu nước khiến họ phải xuống đường, cùng với những người khác, cảnh báo mối họa xâm lược từ Trung Cộng.

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

SONG CHI - SAU TRƯƠNG DUY NHẤT SẼ LÀ AI?


SONG CHI - SAU TRƯƠNG DUY NHẤT SẼ LÀ AI?





Trước khi blogger Trương Duy Nhất bị bắt, ông từng lặp đi lặp lại nhiều lần trong các bài viết, các comment trả lời độc giả hoặc chứng tỏ qua bài viết, thái độ sống rằng blog của Trương Duy Nhất không thuộc về lề trái, Trương Duy Nhất không phải là nhà đấu tranh dân chủ, không cổ xúy cho việc lật đổ chế độ. Rằng Trương Duy Nhất mổ xẻ cái sai cái xấu của hệ thống, của các nhân vật cao cấp trong bộ máy đảng, nhà nước cũng ngang bằng với việc sẵn sàng chửi thẳng những kẻ chống cộng cực đoan và dân chủ giả hiệu. Rằng Trương Duy Nhất không thuộc về bất cứ một tổ chức đảng phái chính trị nào, không tham gia bất cứ hoạt động nào dù chỉ là ký tên, kiến nghị gì đó, rằng những bài viết chỉ là trình bày “một góc nhìn khác” nhằm có ý xây dựng làm cho cái hệ thống chính trị này, xã hội này tốt đẹp hơn v.v…



Nói theo định nghĩa của nhà văn Phạm Thị Hoài thì Trương Duy Nhất thuộc về tầng lớp “đối lập trung thành”.


Và khi khẳng định như vậy, Trương Duy Nhất có lẽ đã nghĩ rằng mình sẽ an toàn, bởi không phạm vào những điều tối kỵ đối với nhà nước cộng sản VN. Đó là: một, đứng trong một tổ chức, bất kể tổ chức đó chỉ là một nhúm người với những phương thức đấu tranh cực kỳ ôn hòa bằng ngòi bút chẳng hạn. Hai, có dính dáng đến cộng đồng người Việt ở hải ngoại, có trả lời báo đài nước ngoài, viết bài (có nhận tiền) của báo đài bên ngoài. Ba, có tư tưởng muốn thay đổi mô hình thể chế chính trị, đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp hay những cái đại loại như vậy.

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Ổn định chính trị hay ổn định thật sự cho nhân dân




Ổn định chính trị hay ổn định thật sự cho nhân dân


Song Chi




Từ trước đến nay, sự “ổn định chính trị” là một trong những “thành tựu” được nhà nước Việt Nam đưa ra để chứng minh (thực tế là bao biện) cho năng lực lãnh đạo, tính chính danh của đảng cộng sản suốt nhiều thập niên qua.





Mật vụ đang lùa bắt người biểu tình chống Trung quốc bá quyền ở Hà Nội lên xe buýt ngày 21 tháng 8, 2011. (Hình: IAN TIMBERLAKE/AFP/Getty Images)





Ngược lại, nhằm thoái thác về việc không muốn thay đổi hệ thống chính trị trở thành một quốc gia tự do dân chủ, đa nguyên, đa đảng, nhà nước Việt Nam thường viện dẫn lý do dân trí chưa cao, đa đảng sẽ dẫn đến hỗn loạn, v.v.



Ðiều đáng nói là do được nghe quen những luận điệu này, cộng với nỗi ám ảnh về những năm tháng chiến tranh đau thương kéo dài đã qua của đất nước, một số người dân cho đến tận thời điểm bây giờ cũng có những ý nghĩ như vậy. Rằng sự ổn định là quan trọng nhất.



Người ta sợ hãi chiến tranh, sợ hãi mọi cuộc cách mạng dù dưới hình thức nào, và hoài nghi mọi sự thay đổi. Một chế độ khác chắc gì đã tốt hơn? Và người ta tự an ủi, Việt Nam dẫu sao cũng bình an để mà làm ăn kiếm sống, không có biểu tình bạo động, khủng bố, đánh bom tự sát...



Thật ra ai cũng biết, ở Việt Nam sở dĩ có sự “ổn định chính trị” là do bàn tay cai trị hà khắc của nhà cầm quyền, đã làm tê liệt mọi ý thức phản biện, chống đối, đồng thời dập tắt ngay từ trong trứng nước mọi mầm mống phản kháng.



Trong khi bất cứ ai nếu đã từng sống qua chế độ cộng sản ở VN đồng thời lại có cơ hội sống dưới một chế độ tự do dân chủ khác để so sánh, sẽ hiểu rất rõ một cơ chế chính trị xã hội ổn định thật sự phải là ổn định về nhiều mặt. Và khái niệm ổn định chính trị ở Việt Nam có đem đến sự bình yên, an toàn thật sự cho người dân hay không.



Ở một quốc gia dân chủ pháp trị, có một hệ thống, đường lối chính sách điều hành quản lý đúng đắn, một bộ máy nhà nước làm việc hiệu quả từ trên xuống dưới. Thì dù có biểu tình bạo loạn, ông tổng thống này bị mất chức, ông thủ tướng kia bị bãi nhiệm, người này lên người kia xuống, cũng không gây ra những xáo trộn hay mất cân bằng nghiêm trọng.



Kể cả khi rơi vào tình trạng... không có chính phủ suốt một thời gian dài, gần 18 tháng, một kỷ lục thế giới, như nước Bỉ, kể từ sau cuộc bầu cử Quốc Hội ngày 13 tháng 6, 2010! Do bất đồng giữa các chính đảng của cộng đồng người nói tiếng Pháp và cộng đồng người nói tiếng Hà Lan ở nước này!



Ở Việt Nam, ngoại trừ chính trị, tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đều tiềm ẩn hoặc phơi bày rõ rệt sự bất ổn.



Mà ngay trong lĩnh vực chính trị cũng chỉ là sự ổn định trên bề mặt. Những sự bất bình, ấm ức, tức giận, ngao ngán của người dân đối với nhà cầm quyền đã thể hiện ra bên ngoài, cách này cách khác, trong thời gian qua.



Những vụ biểu tình khiếu kiện đất đai của nông dân. Những cuộc đình công đòi tăng lương cải thiện điều kiện làm việc của giới công nhân. Biểu tình đòi lại đất đai, tự do tín ngưỡng của giới Công Giáo. Biểu tình, gửi kháng nghị thư về các vụ án oan sai, hay bị đánh đập, giết chết một cách oan uổng... Tình trạng ngày càng nhiều blogger, trí thức, các nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm... bị bắt, bị tù đày... Tất cả là minh chứng cho những cơn sóng ngầm bất ổn về chính trị.



Và nếu thường xuyên theo dõi các trang blog cá nhân, các diễn đàn độc lập... là tiếng nói thật lòng của người dân thuộc mọi lứa tuổi, thành phần trong xã hội, chúng ta có thể cảm nhận tâm trạng chung của người dân. Rằng họ nghĩ gì về chế độ, họ khao khát, mong muốn những gì cho đất nước, dân tộc.



Trong lĩnh vực kinh tế, tình trạng bất ổn thể hiện qua việc đồng tiền Việt Nam liên tục bị trượt giá, nạn lạm phát tăng liên tiếp trong nhiều tháng, từng có những giai đoạn cao nhất Châu Á. Và theo nhận định của Ủy Ban Kinh Tế của Quốc Hội trong bản tin kinh tế vĩ mô số 5 (10.2011), Việt Nam nằm trong “nhóm 4 nước dẫn đầu trên thế giới về lạm phát tăng cao vào cuối năm 2011” (Dân trí ngày 27.11.2011).



Giá vàng và ngoại tệ lên xuống bất thường, nợ nước ngoài cao, không loại trừ rủi ro vỡ nợ. Tháng 7 năm 2010, Việt Nam đã bị công ty xếp hạng tín dụng Fitch hạ thấp mức tín nhiệm nợ (theo Voanews ngày 29 tháng 7, 2010). Tính tới tháng 3 năm 2011, Việt Nam là một trong 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới. (theo Business Insider). Việt Nam lại có dự trữ ngoại tệ quá mỏng nên nguy cơ này càng lớn.



Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao là những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế.



Chính sự điều hành quản lý kém hiệu quả, thiếu tư duy kinh tế và quyết tâm cải cách mạnh mẽ ở những người lãnh đạo đã đưa đến tình trạng này. Bên cạnh đó là hệ thống luật pháp không minh bạch, những chính sách kinh tế thiếu nhất quán khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài và ngay các doanh nghiệp trong nước cảm thấy bất an. Còn đối với người dân, chỉ riêng việc đồng tiền thường xuyên mất giá, giá cả sinh hoạt tăng nhanh cũng đủ khiến họ mệt mỏi.



Trong đời sống xã hội, một thể chế chính trị độc tài, công an trị đã tạo ra vô vàn sự bất ổn trên bề mặt cũng như trong chiều sâu. Nạn tham nhũng, lạm dụng quyền lực, sự bất công, khoảng cách giàu nghèo quá lớn, luật pháp không được tôn trọng...



Hậu quả là đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp. Giáo dục thì lạc hậu nên con người càng không có chỗ tựa, càng khủng hoảng niềm tin. Ngày nào trên TV và trên các tờ báo chính thức trong nước cũng tràn ngập thông tin về những vụ lừa đảo, tham nhũng, những vụ án mạng cướp giết hiếp... các kiểu.



Ðời sống tinh thần của người dân đã không được yên ổn do phải lao vào cuộc mưu sinh hàng ngày, phải chạy theo nạn lạm phát và những chính sách về kinh tế xã hội thường xuyên thay đổi của nhà nước.



Người dân lại phải lo lắng về đủ thứ chuyện do phải sống trong một chế độ không có các chính sách an sinh phúc lợi xã hội đầy đủ, và một môi trường sống không an toàn, tính mạng của con người không được bảo đảm.



Từ tỷ lệ tai nạn giao thông quá cao, con số tử vong lên đến 13-14 ngàn người mỗi năm, tai nạn lao động, cho đến muôn vàn những cái chết do những nguyên nhân “trời ơi đất hỡi” khác. Như trời mưa đi ngoài đường bị cây ngã đè, bị sụp hố ga, “hố tử thần”... nhà ở chung cư mới xây xong chưa bao lâu đã bị sập... Thậm chí đi xe gắn máy, xài điện thoại, máy giặt... cũng có nguy cơ phát nổ gây tai nạn nghiêm trọng như một số vụ do báo chí đưa tin gần đây.



Rồi môi trường thực phẩm không an toàn, hợp vệ sinh, hàng giả, hàng độc hại... tràn lan trên thị trường...



Nguyên nhân chủ yếu là do thói làm ăn chụp giựt, thiếu tinh thần trách nhiệm cộng với chính sách kiểm soát/quản lý/điều tiết lỏng lẻo của nhà nước và vấn nạn tham nhũng làm vô hiệu hóa mọi thứ.



Ðã vậy con người lại bị kềm kẹp không được tự do thoải mái về tư tưởng. Tự do dân chủ và nhân quyền không được tôn trọng nên người dân có thể bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày bất cứ lúc nào nếu muốn thể hiện quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do biểu tình... mà hiến pháp Việt Nam đã ghi nhưng thực tế chưa bao giờ được thi hành.



Sống trong một môi trường như thế người dân có thực sự được bình an thanh thản trong lòng không?



Như vậy sự ổn định chính trị, thậm chí khái niệm ổn định chung chung mà nhà nước Việt Nam hay đưa ra để mỵ dân liệu có thực?



Và ngay cả nếu có “ổn định về chính trị”, liệu có đáng để đánh đổi muôn vàn sự bất ổn, bất an khác đã tồn tại bao nhiêu năm qua và ngày càng trầm trọng từ mô hình thể chế chính trị như hiện tại?




Theo Người Việt